1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa

110 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính những đòi hỏi về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như quan tâm tới vấn đề môi trường…của người tiêu dùng nên hiện nay hàng loạt các tiêu chuẩn, quy định đã được đặt ra đối

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình, em đã nhận được rất nhiều sự đóng góp ý kiến, động viên, giúp đỡ từ phía gia đình, người thân, thầy cô, bạn bè,…Chính vì thế, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả mọi người

Đầu tiên, em xin được gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô Trường Đại học Nha Trang nói chung và Khoa Kinh tế nói riêng, đã truyền đạt những kiến thức cơ bản

và bổ ích trong suốt quá trình học tập vừa qua của em

Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn Th.S Nguyễn Ngọc Duy – Người trực tiếp hướng dẫn em thực hiện khóa luận này Thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm đề tài, giúp em có được cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề mình nghiên cứu

Qua đây, em cũng xin cảm ơn anh Tuấn – Trưởng phòng kinh doanh của Công

ty TNHH Tín Thịnh, chị Thủy – Nhân viên phòng kinh doanh và chị Liên – Nhân viên phòng kế toán của Công ty Cổ phần Nha Trang Seafood – F17; cùng các bác, các cô, chú, các anh, chị ở cảng Hòn Rớ, chợ Đầm, chợ Vĩnh Hải, chợ Phước Hải

đã giúp đỡ em thực hiện và hoàn thiện các bảng câu hỏi nghiên cứu, giúp em có căn

cứ để thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Và cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm, động viên em hoàn thành khóa luận này

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn !

Nha Trang, tháng 07 năm 2011 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ánh Dũng

Trang 2

MỤC LỤC

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ v

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu đề tài 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.1 Khái niệm chuỗi giá trị 4

1.2 Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 6

1.3 Mô hình SCP (Structure - Conduct - Performance) 9

1.4 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của Michael E Porter 12

1.4.1 Khái niệm cạnh tranh 12

1.4.2 Lợi thế cạnh tranh 14

1.4.3 Lợi thế cạnh tranh theo quan điểm của Michael E Porter 15

1.5 Một số quy chế, quy định kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc: 20

1.5.1 Quy chế kiểm tra và chứng nhận chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm hàng hóa thủy sản 20

1.5.2 Quy định IUU (Illegal, unreported and unregulated fishing) 21

1.6 Các nghiên cứu về chuỗi giá trị các mặt hàng ở Việt Nam 23

Chương 2: TỔNG QUAN NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM VÀ KHÁNH HÒA 29 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thủy sản Việt Nam 29

2.1.1 Tình hình sản xuất 29

2.1.2 Tình hình tiêu thụ 31

Trang 3

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thủy sản Khánh Hòa 33

2.2.1 Tình hình sản xuất sản phẩm thủy sản Khánh Hòa 34

2.2.2 Tình hình tiêu thụ 36

2.3 Tình hình tiêu thụ cá ngừ 37

2.3.1 Giới thiệu cá ngừ 37

2.3.2 Tình hình tiêu thụ cá ngừ Việt Nam 39

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ NGỪ SỌC DƯA TẠI NHA TRANG 42

3.1 Cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 42

3.1.1 Các tác nhân trong chuỗi cá ngừ sọc dưa 43

3.1.2 Tình hình cạnh tranh mặt hàng cá ngừ sọc dưa của các tác nhân trong chuỗi giá trị 55

3.1.3 Quá trình hình thành giá 58

3.2 Các thể chế, chính sách ảnh hưởng đến ngành thủy sản và nghề cá ngừ Việt Nam 59

3.3 Phân tích chi phí – lợi nhuận của các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 62

3.3.1 Ngư dân 62

3.3.2 Chủ nậu vựa 63

3.3.3 Người bán sỉ cấp 1 64

3.3.4 Người bán sỉ cấp 2 65

3.3.5 Người bán lẻ 66

3.3.6 Công ty chế biến 67

Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VỊ THẾ CẠNH TRANH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ NGỪ SỌC DƯA TẠI NHA TRANG 74

4.1 Giải pháp 1: Thiết lập cơ chế hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa Nha Trang 74

4.2 Giải pháp 2: Tổ chức hợp tác ngang giữa các ngư dân khai thác 78

Trang 4

4.3 Giải pháp 3: Tăng cường liên kết giữa các công ty chế biến xuất khẩu thủy sản trong hoạt động nghiên cứu thị trường nước ngoài và hoạt động tình báo ở thị

trường nước ngoài 80

4.4 Giải pháp 4: Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cá ngừ sọc dưa ở thị trường trong nước và đa dạng hóa thị trường tiêu thụ ở nước ngoài 82

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84

5.1 Kết luận 84

5.2 Khuyến nghị 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Các nhân tố của SCP 10

Bảng 1.2: Các nhân tố của SCP sử dụng trong nghiên cứu 10

Bảng 3.1: Chi phí – lợi nhuận của ngư dân 63

Bảng 3.2: Chi phí – lợi nhuận của chủ nậu vựa 63

Bảng 3.3: Chi phí – lợi nhuận của người bán sỉ cấp 1 65

Bảng 3.4: Chi phí – lợi nhuận của người bán sỉ cấp 2 66

Bảng 3.5: Chi phí – lợi nhuận của người bán lẻ 66

Bảng 3.6: Chi phí – lợi nhuận của công ty chế biến 67

Bảng 3.7: Tổng hợp chi phí – lợi nhuận của chuỗi cá ngừ sọc dưa Nha Trang 69

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ Hình 1.1: Chuỗi giá trị áp dụng cho một doanh nghiệp Nguồn: [3] 4

Hình 1.2 : Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP 9

Hình 1.3: Mô hình 5 lực lượng Nguồn: [2] 17

Hình 2.1: Các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn năm 2010 32

Hình 2.2: Xuất khẩu cá ngừ 11 tháng đầu năm 2010 40

Hình 3.1 Ngư dân tại cảng Hòn Rớ 43

Hình 3.2 Hoạt động của nậu vựa tại cảng Hòn Rớ 47

Hình 3.3 Người bán sỉ tại cảng Hòn Rớ 49

Hình 3.4 Người bán lẻ tại chợ Đầm 51

Hình 3.5 Quang cảnh công ty Cổ phần Nha Trang Seafood – F17 52

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 42

Sơ đồ 4.1: Mô hình hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa 76

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Trong những năm qua, thủy sản luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng Khai thác thủy sản đã đem lại công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động tham gia vào các khâu khác nhau trong chuỗi ngành hàng thủy sản

Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt hơn giữa các nước trên thế giới Nhưng chính xu hướng này cũng tạo sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu vực Nó tạo cơ hội cho Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng ra thị trường nước ngoài, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó có chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản toàn cầu mà Việt Nam tham gia Tuy nhiên, chúng ta gặp không ít khó khăn và thử thách trong quá trình hội nhập Một trong những khó khăn hiện nay đó là sự đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng Đây chính là một trong những rào cản lớn gây khó khăn trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của chúng ta Chính những đòi hỏi về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như quan tâm tới vấn đề môi trường…của người tiêu dùng nên hiện nay hàng loạt các tiêu chuẩn, quy định đã được đặt ra đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu trên thế giới như: quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, nguồn gốc xuất xứ…Do đó, các tác nhân tham gia trương chuỗi giá trị cần có sự hợp tác chặt chẽ với nhau làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Tỉnh Khánh Hòa với 655 km bờ biển và bờ ven đảo, trong những năm gần đây, bên cạnh du lịch biển thì nghề nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản đang là thế mạnh của tỉnh Toàn tỉnh có hơn 10.100 tàu, thuyền lắp ráp, trong đó có gần 500 tàu công suất 100CV trở lên, có khả năng đánh bắt dài ngày trên biển Với lợi thế về đường bờ biển dài, các công ty chế biến, xuất khẩu thủy sản ở đây ngày càng mọc lên nhiều Hiện nay, với 44 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản, Khánh Hòa đang là tỉnh đứng thứ 4 cả nước với kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt hơn 300 triệu USD [1] Cá ngừ là đối tượng thủy sản khai thác xuất khẩu có giá trị kinh tế

Trang 7

cao, có vị trí quan trọng trong cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu của thế giới Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm cá ngừ trên thế giới ngày càng gia tăng

Là một loài thuộc họ cá ngừ, hiện nay cá ngừ sọc dưa nằm trong số ít các loài

cá ngừ được đánh bắt ở dưới mức tối đa cho phép và còn tiềm năng khai thác cao Với sản lượng khai thác được quanh năm phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, cá ngừ sọc dưa đem lại nguồn thu nhập lớn cho các tác nhân tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm này Tuy nhiên, làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh tranh lâu dài cho mặt hàng này là câu hỏi không những cho các tác nhân trong chuỗi

mà còn cho cả những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách

Xuất phát từ các vấn đề ở trên, em thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp là

“Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường Nha Trang, tỉnh Khánh

Hòa” Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ giải quyết được các mục tiêu đặt ra và đề

xuất các chính sách nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh cho chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường Nha Trang, Khánh Hòa

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị sản phẩm

- Phân tích cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang

- Đánh giá cách thức vận hành thị trường của các tác nhân trong chuỗi giá trị

cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang

- Xác định phân phối lợi ích của các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao tính cạnh tranh cho toàn chuỗi giá trị mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa bao gồm: ngư dân, chủ nậu vựa, công ty chế biến, người bán sỉ cấp 1, người bán sỉ cấp

2, người bán lẻ

- Phạm vi nghiên cứu: Trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Thời gian tiến hành điều tra là tháng 04/2011 với số liệu thu thập được của năm

2010

Trang 8

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận nghiên cứu:

- Tiếp cận phân tích theo chuỗi giá trị trên cơ sở áp dụng mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance) để nghiên cứu trường hợp chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường Nha Trang

- Ngoài ra, nghiên cứu vận dụng lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael E Porter để phân tích sức ép lẫn nhau giữa các tác nhân trong chuỗi

Phương pháp thu thập số liệu:

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 15 ngư dân, 3 chủ nậu vựa, 2 người bán sỉ cấp 1, 2 người bán sỉ cấp 2, 5 người bán lẻ, 2 công ty chế biến bằng việc sử dụng bảng câu hỏi

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan ngành thủy sản Việt Nam và Khánh Hòa

Chương 3: Kết quả nghiên cứu chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang Chương 4: Giải pháp nâng cao vị thế cạnh tranh chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm chuỗi giá trị

Khái niệm chuỗi giá trị được đưa ra đầu tiên bởi Michael E Porter – Giáo sư của trường Kinh Doanh Harvard, chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực cạnh tranh Ông đưa thuật ngữ này lần đầu tiên vào năm 1985 trong cuốn sách phân tích

về lợi thế cạnh tranh khi khảo sát kỹ các hệ thống sản xuất, thương mại và dịch vụ

đã đạt tới tầm ảnh hưởng rất lớn ở Mỹ và các quốc gia phát triển khác

Theo Michael E Porter, chuỗi giá trị là chuỗi các hoạt động từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của sản phẩm bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ để tạo nên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm (xem hình 1.1) Theo đó khi đi qua lần lượt các hoạt động của chuỗi, mỗi sản phẩm nhận được một số giá trị Các hoạt động chính là các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho khách hàng Các hoạt động bổ trợ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động chính [2]

Hình 1.1: Chuỗi giá trị áp dụng cho một doanh nghiệp Nguồn: [3]

Hậu cần ra ngoài

Trang 10

Các hoạt động chính: bao gồm hậu cần đến, sản xuất, hậu cần ra ngoài,

marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng.1

Hậu cần đến: Những hoạt động liên quan đến việc nhận, lưu trữ, dịch chuyển

đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp

Sản xuất: là hoạt động chuyển nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm hoàn

thành

Hậu cần ra ngoài: gồm những hoạt động kết hợp thu thập, lưu trữ và phân

phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến người mua

Marketing và bán hàng: là những hoạt động liên quan đến việc quảng cáo,

khuyến mại, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ trong kênh và định giá

Dịch vụ khách hàng: (dịch vụ sau bán hàng) liên quan đến việc cung cấp dịch

vụ nhằm gia tăng, duy trì giá trị của sản phẩm

Các hoạt động bổ trợ: bao gồm các hoạt động như thu mua, phát triển công

nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng của công ty

Thu mua: liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu vào bao gồm

nguyên vật liệu, các nhà cung cấp, máy móc…

Phát triển công nghệ: liên quan tới các bí quyết, quy trình, thủ tục, công nghệ

được sử dụng

Quản trị nguồn nhân lực: bao gồm các hoạt động liên quan tới chiêu mộ,

tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho người lao động trong công ty

Cơ sở hạ tầng công ty: bao gồm quản lý chung, lập kế hoạch quản lý, tuân thủ

luật pháp, tài chính, kế toán, quản lý chất lượng, quản lý cơ sở vật chất…

Khái niệm trên được áp dụng khi phân tích chuỗi giá trị của một doanh nghiệp

cụ thể Tuy nhiên, trên thực tế chuỗi giá trị còn được sử dụng để xem xét ở phạm vi một ngành, địa phương, quốc gia hoặc toàn cầu Và khi đó, người ta dùng đến khái niệm chung cho chuỗi giá trị như sau: “Chuỗi giá trị được hiểu chung là một loạt các chuyển đổi từ nguyên vật liệu (giai đoạn đầu) đến khi giao sản phẩm/dịch vụ

1

Nội dung phần này tham khảo tại [3]

Trang 11

hoàn chỉnh đến người tiêu dùng cuối cùng (giai đoạn cuối) Trong chuỗi giá trị toàn cầu có sự tham gia của nhiều công ty và nhiều quốc gia với những chức năng khác nhau, một số cung cấp nguyên vật liệu, một số sản xuất sản phẩm cuối cùng, và một

số chuyển giao sản phẩm này đến người tiêu dùng cuối cùng” [4]

Cũng đứng trên góc độ xem xét chuỗi giá trị của một ngành, tác giả Nguyễn Thị Trâm Anh đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản: “Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản được hiểu là sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi, bao gồm nhà cung ứng đầu vào (ngư dân / hộ nuôi trồng thủy sản và người cung ứng dịch vụ như con giống, thức ăn, thuốc, tín dụng, kỹ thuật ), nhà mua bán trung gian, nhà chế biến, nhà nhập khẩu, nhà bán buôn, nhà bán lẻ và người tiêu dùng thông qua dòng chảy sản phẩm trước và dòng thông tin phản hồi sau” [5]

Nhìn chung, một ngành có thể được ví như một doanh nghiệp lớn, mỗi doanh nghiệp trong ngành có thể xem như bộ phận nhỏ của doanh nghiệp lớn đó, tham gia vào một số công đoạn để chế biến từ đầu vào thành đầu ra cung cấp cho thị trường Một số ngành có thể có nhiều chuỗi giá trị gia tăng khác nhau liên quan đến các sản phẩm khác nhau Trong mỗi chuỗi giá trị gia tăng như vậy, phần đóng góp của mỗi công đoạn sẽ có giá trị khác nhau Phân tích chuỗi giá trị ngành giúp ta nhìn ra giá trị của mỗi công đoạn, nhận diện xu hướng biến đổi của từng công đoạn và điều cốt lõi nhất là những yếu tố làm ra giá trị cho mỗi công đoạn Từ đó giúp các doanh nghiệp trong chuỗi ngành có thể đánh giá bản thân và các doanh nghiệp khác trong chuỗi mạnh yếu chỗ nào, nhìn ra cơ hội tạo ra giá trị tốt nhất để khai thác [6]

1.2 Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng

Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, trước tiên cần hiểu qua về khái niệm chuỗi cung ứng Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về chuỗi cung ứng được nhắc đến, có thể kể đến một số khái niệm như:

Bài giảng của GS Souviron về quản trị chuỗi cung cấp: “Chuỗi cung cấp là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên

Trang 12

và phía dưới trong các quá trình và hoạt động khác nhau sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng” [7]

Theo Ganeshan & Harrison “chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối

và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng” [8]

Theo Michael E Porter (1990) “chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng” [9]

Từ các khái niệm trên có thể hiểu chuỗi cung ứng sản phẩm là chuỗi của các hoạt động từ khâu sản xuất, qua lưu thông (có thể qua chế biến) và đến tay người tiêu dùng cuối cùng Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đổi về giá cả và có thể có những thay đổi nhất định về giá trị vì luôn có các chi phí xảy ra trong suốt các hoạt động Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau

đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng, cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở [3]

Trong chuỗi cung ứng thì mỗi thành viên của chuỗi là người mua hàng của người trước và là nhà cung cấp cho người sau, các thành viên trong chuỗi có chung một mục đích và cùng nhau làm việc để đạt được mục đích đó Mỗi thành viên của chuỗi có thể độc lập với nhau, nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau Mỗi thành viên góp

Trang 13

thêm giá trị tại mắt xích cuối của chuỗi bằng cách đóng góp vào sự thỏa mãn của khách hàng

Tóm lại, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó

Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng:

Mọi người sử dụng những tên gọi khác nhau cho các chuỗi hoạt động và tổ chức Khi con người nhấn mạnh đến họat động sản xuất, họ xem chúng như là các quy trình sản xuất; khi họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing, họ gọi chúng là kênh phân phối; khi họ nhìn ở góc độ tạo ra giá trị, họ gọi chúng là chuỗi giá trị; khi

họ nhìn nhận về cách thức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, họ gọi nó là chuỗi nhu cầu; khi tập trung vào sự dịch chuyển nguyên vật liệu gọi là chuỗi cung ứng [3]

Theo khái niệm thì chuỗi cung ứng là sự nối tiếp nhau của các quá trình và

các hoạt động nhằm mục đích có được những sản phẩm từ trạng thái ban đầu (nguyên liệu), để đưa nó từ nhà máy đến tay khách hàng Chuỗi cung ứng cũng có

thể bao gồm việc vận chuyển từ khách hàng đến các công ty tái chế sau khi sử dụng

nó Chuỗi cung ứng liên quan đến nhu cầu của khách hàng, nó sẽ thay đổi tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng

Trong khi đó chuỗi giá trị là sự kế tiếp nhau của quá trình, các hoạt động và

dịch vụ nhằm tăng giá trị cho mặt hàng đó Nó không những chỉ bao gồm các

bước tạo ra sản phẩm mà còn cung cấp các dịch vụ cho khách hàng như dịch vụ khách hàng hoặc bảo hành Định nghĩa chuỗi giá trị được hiểu là giá trị của sản phẩm phụ thuộc vào sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng vào chất lượng sản xuất

và phụ thuộc vào dịch vụ kèm theo

Như vậy, chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng tuy khác nhau nhưng lại bổ sung cho nhau Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của chuỗi Đối với mỗi khách hàng khác nhau, phụ thuộc vào việc họ trả bao nhiêu cho các đặc tính của sản phẩm đó mà tổng giá trị của chuỗi sẽ khác nhau

Trang 14

Chuỗi cung ứng phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, được đưa ra bởi chuỗi giá trị Chuỗi giá trị đó sẽ quyết định chuỗi cung ứng dựa vào những gì mà khách hàng quan tâm đến [10]

1.3 Mô hình SCP (Structure - Conduct - Performance)

Mô hình SCP chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa ba yếu tố cấu trúc thị trường, vận hành thị trường và kết quả thực hiện thị trường Cấu trúc thị trường và sự vận hành thị trường ảnh hưởng đến kết quả thực hiện thị trường Ngược lại, kết quả thị trường

sẽ tác động trở lại đến cấu trúc và sự vận hành thị trường trong dài hạn như được chỉ trong hình 1.2 Kết quả thị trường phụ thuộc vào sự vận hành thị trường của người bán và người mua thông qua các chính sách định giá, chủng loại sản phẩm, đầu tư phương tiện sản xuất Sự vận hành ảnh hưởng chi phối ngược lại cấu trúc thị trường bao gồm ảnh hưởng đến số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh của những người bán và người mua, các kênh marketing, mức độ khác biệt hóa sản phẩm, sự tồn tại hay không của các rào cản gia nhập và xuất ngành

Hình 1.2 : Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP

Nguồn: [11]

Cấu trúc

thị trường

Vận hành thị trường

Kết quả thực hiện thị trường

Trang 15

Các nhân tố trong của cấu trúc SCP được thể hiện trong bảng 1.1:

Phân loại chất lượng

Phân tích thông tin thị

Dự trữ Thương lượng Tiến hành Thông tin Tài chính/ rủi ro Chiến lược thương mại chung để tăng hiệu quả marketing

Sự thích hợp của sản phẩm liên quan đến thị hiếu của khách hàng

Hiệu quả của dịch vụ cung ứng:

Tỉ lệ lợi nhuận liên quan đến chênh lệch biên tế giữa giá và chi phí marketing

Phân tích thị trường; thương lượng chi phí giao dịch (tìm kiếm và kí hợp đồng)

Phân tích khác biệt về giá và giao động về giá theo thời vụ Tham gia thị trường

Phân tích sự năng động của thị trường

(Nguồn: [11])

Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu và những hạn chế về số liệu nghiên cứu nên

đề tài chỉ đề cập đến các nhân tố chính như trong bảng 1.2:

Bảng 1.2: Các nhân tố của SCP sử dụng trong nghiên cứu Nhân tố cấu trúc (S) Nhân tố vận hành (C) Nhân tố kết quả (P)

Những tác nhân trung gian

Phân tích giá trị tăng thêm và giá trị tạo ra để nhận biết đâu là giá trị kinh tế được tạo ra trong một chuỗi giá trị

Trang 16

Những yếu tố của cấu trúc thị trường:

Khi phân tích cấu trúc thị trường thì điều trước tiên cần được xem xét đó là các tác nhân có liên quan đến thị trường cá ngừ sọc dưa Những thông tin thu thập được

từ đối tượng này sẽ cung cấp một bức tranh tổng quát về các kênh tiêu thụ sản phẩm

cá ngừ sọc dưa bắt đầu từ ngư dân đến tay người tiêu dùng cuối cùng Các kênh tiêu thụ sẽ giúp cho việc xác định mối liên hệ giữa các tác nhân tham gia trên thị trường Bên cạnh đó, đề tài còn tập trung xem xét tính cạnh tranh trên thị trường thông qua phân tích các tiêu chí:

- Sự tồn tại các rào cản thâm nhập và xuất ngành: sự tồn tại các rào cản gia nhập và xuất ngành ảnh hưởng đến mối quan hệ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện tại và các đối thủ tiềm ẩn Nếu không có các rào cản gia nhập và xuất ngành, các đối thủ mới có thể dễ dàng gia nhập thị trường làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường hoặc rời bỏ thị trường Ngược lại, nếu thị trường tồn tại các rào cản gia nhập

và xuất ngành mức độ cao, các rào cản này đảm bảo cho các doanh nghiệp đang tồn tại một sự bảo vệ để tránh được sự cạnh tranh đến từ các đối thủ tiềm ẩn

- Sự khác biệt về sản phẩm: ở đây những người bán sẽ dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân định sự khác biệt giữa những sản phẩm của họ với các sản phẩm cạnh tranh của những người khác

- Tiếp cận thông tin thị trường: được đo lường thông qua tiêu chí mức độ dễ dàng tiếp cận các thông tin cần thiết về thị trường ví dụ như giá cả sản phẩm và nguồn cung cấp thông tin về giá cho những ngư dân và sự chính xác của các thông tin

Những yếu tố của kết quả thực hiện thị trường:

Trong phân tích kết quả thị trường, đề tài tập trung vào việc phân phối giá trị tăng thêm của các tác nhân tham gia trong chuỗi

Giá trị tăng thêm là chênh lệch giá trị của sản phẩm B và giá trị sản phẩm A Phân tích giá trị tăng thêm là công cụ để đánh giá giá trị kinh tế được tạo ra trong chuỗi giá trị của một tác nhân Phân tích giá trị tăng thêm nhằm nhận dạng giá trị

Trang 17

kinh tế được tạo ra ở đâu trong chuỗi giá trị Giá trị kinh tế được tạo ra là hiệu số giữa lợi ích và chi phí của sản phẩm qua từng thành viên trong kênh phân phối [11] Đối với kênh phân phối cá ngừ sọc dưa, việc phân tích giá trị tăng thêm dựa vào chi phí sản xuất, chi phí gia tăng và lợi nhuận biên đối với mỗi thành viên trong kênh phân phối bao gồm ngư dân, nậu vựa, người bán buôn, người bán lẻ, cơ sở chế biến Qua việc phân tích giá trị tăng thêm nhằm làm rõ mức phân chia lợi nhuận cho từng thành viên trong kênh Hai tỉ số sẽ được sử dụng trong phân tích đó là: lợi nhuận biên trên tổng chi phí và lợi nhuận trên chi phí gia tăng Hai tỉ số này được sử dụng nhằm so sánh và xác định mức độ hợp lý của việc phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi

Lợi nhuận biên Lợi nhuận trên tổng chi phí =

Tổng chi phí

Lợi nhuận Lợi nhuận trên chi phí gia tăng =

Chi phí gia tăng

1.4 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của Michael E Porter

1.4.1 Khái niệm cạnh tranh

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận trong mọi hoạt động đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội

Thuật ngữ này được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao; thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác

Trang 18

nhau Chính vì vậy mà cạnh tranh có rất nhiều khái niệm khác nhau ở nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể: 2

Theo từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh được định nghĩa là “tranh đua giữa những

cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, những phần thắng

về mình”

Theo Từ điển Thuật ngữ kinh tế học “cạnh tranh – sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên

cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”

Theo từ điển rút gọn về kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) “cạnh tranh là

sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Theo từ điển bách khoa của Việt Nam thì “cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”

Theo Karl Marx, “cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”

Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng, “cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường” Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo [12]

Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa “cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” [12]

Khi tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích

2

Nội dung phần này tham khảo tại [12]

Trang 19

giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác [13]

Trong kinh tế chính trị học, cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ [13]

Theo Michael E Porter, cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi [13] Tóm lại, cạnh tranh là khái niệm dùng để chỉ sự tranh đua giữa các cá nhân, tổ chức, cùng hoạt động trong một kĩnh vực, để giành phần hơn (về thị trường, khách hàng, lợi nhuận…), phần thắng về mình

Như vậy, cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến cạnh tranh, giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí đổ vỡ lớn

Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh

Trang 20

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển, thì các yếu tố sản xuất, như: đất đai, vốn, lao động, những yếu tố tài sản hữu hình là nguồn lực quan trọng để tạo nên lợi thế cạnh tranh

Adam Smith cho rằng: lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối về năng suất lao động, năng suất lao động cao có nghĩa là chi phí sản xuất giảm, muốn tăng năng suất lao động thì phải phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất David Ricardo lại cho rằng: lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối, mà còn phụ thuộc cả vào lợi thế tương đối, tức lợi thế so sánh và nhân tố quyết định tạo nên lợi thế so sánh vẫn là chi phí sản xuất nhưng mang tính tương đối

Theo Michael E Porter, lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, như: chất lượng sản phẩm, dịch vụ, mạng lưới phân phối, cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật

Hiểu một cách tổng quát thì lợi thế cạnh tranh là những lợi thế (khả năng vượt trội) của các chủ thể cạnh tranh (cá nhân, tổ chức) trong cuộc cạnh tranh (tranh đua) với các đối thủ của mình; Nói cách khác, lợi thế cạnh tranh là những gì mà chủ thể cạnh tranh có được để giành phần hơn, phần thắng về mình Một cách cụ thể hơn, lợi thế cạnh tranh của một công ty là khả năng công ty đó có thể cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có một đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được Hay lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của công ty, mà những năng lực phân biệt này được khách hàng xem trọng, đánh giá cao vì nó tạo ra giá trị cao cho khách hàng

1.4.3 Lợi thế cạnh tranh theo quan điểm của Michael E Porter 4

Trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh”, Michael E Porter nghiên cứu và khám phá những cơ sở cốt lõi của lợi thế cạnh tranh Nó bắt đầu với tiền đề rằng lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau; sau đó đưa ra cách thức gắn lợi thế cạnh tranh với những hoạt động cụ thể cũng như cách liên kết các hoạt động ấy với

4

Nội dung phần này tham khảo tại [2]

Trang 21

nhau và với hoạt động cụ thể cũng như cách liên kết các hoạt động ấy với hoạt động của nhà cung cấp, khách hàng Nghiên cứu những nguyên nhân tiềm tàng của lợi thế trong một hoạt động cụ thể: lý do tại sao một doanh nghiệp đạt chi phí thấp hơn, bằng cách nào mà các hoạt động tạo ra giá trị hữu hình cho người mua “Lợi thế Cạnh tranh” biến chiến lược từ một tầm nhìn mang tính vĩ mô trở thành một cấu trúc nhất quán của những hoạt động bên trong - một phần quan trọng của tư tưởng kinh doanh quốc tế hiện nay Cấu trúc mạnh mẽ đó cung cấp những công cụ hữu hiệu để hiểu được ảnh hưởng của chi phí và vị thế tương đối về chi phí của công ty, của ngành

Michael E Porter chỉ rõ lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt động của nhà cung cấp và cả các hoạt động của khách hàng nữa Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter mang đến cho chúng ta công cụ để phân đoạn chiến lược một ngành kinh doanh và đánh giá một cách sâu sắc logic cạnh tranh của sự khác biệt hóa Nó nhấn mạnh rằng đa số vị thế cạnh tranh tốt bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau Lợi thế dựa trên một số ít các hoạt động dễ bị phát hiện và bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh Lợi thế có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua là tương đương), hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn

Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của MichaelE Porter:

Năm 1979, trên tạp chí Harvard Business Review đã xuất bản mô hình Poter’s five focers với nội dung là tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh Sau khi ra đời mô hình được xem là công cụ hữu dụng và có hiệu quả trong việc tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận Nó cung cấp các chiến lược cạnh tranh trong kinh doanh

để doanh nghiệp duy trì và gia tăng lợi nhuận

Trong bất cứ ngành nghề nào, cho dù là ở phạm vi trong nước hay quốc tế, ngành sản xuất hay dịch vụ, quy luật cạnh tranh đều thể hiện qua năm lực lượng (xem hình 1.3):

 Sự gia nhập ngành của các DN mới

Trang 22

 Các sản phẩm, dịch vụ thay thế

 Sức mạnh của các nhà cung cấp

 Sức mạnh của người mua

 Sự cạnh tranh của các DN hiện tại

Hình 1.3: Mô hình 5 lực lượng Nguồn: [2]

Mỗi một yếu tố trong năm lực lượng này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, mà bản thân các yếu tố đó cũng cần phải được nghiên cứu để tạo ra bức tranh đầy đủ về sự cạnh tranh trong một ngành Sự tác động qua lại giữa năm lực lượng quyết định một ngành hấp dẫn như thế nào đối với các chủ thể kinh doanh ở trong

đó Qua việc phân tích năm lực lượng này các ngành, các doanh nghiệp sẽ xác định những lợi thế của mình so với đối thủ để tận dụng và phát triển

Khách hàng:

Khách hàng là một áp lực cạnh tranh ảnh hưởng trực tiếp tới sự hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Khách hàng bao gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà

Nguy cơ từ những đối thủ mới

Năng lực đàm phán của người mua

Nguy cơ sản phẩm/dịch

vụ thay thế

Năng lực đàm phán của nhà cung cấp

CÁC ĐỐI THỦ TIỀM ẨN

KHÁCH HÀNG

SẢN PHẨM THAY THẾ

NHÀ

CUNG ỨNG

NHỮNG ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH

Cạnh tranh hiện tại giữa các đối thủ hiện hữu

Trang 23

phân phối (bán buôn, bán lẻ), các nhà mua công nghiệp, và người mua hàng cho các

tổ chức nhà nước hoặc tổ chức xã hội

Khách hàng luôn tạo ra áp lực về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi theo của doanh nghiệp Chính họ điều khiển áp lực cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng Khách hàng tạo ra áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp thể hiện ở quy mô khách hàng, vị thế đàm phán giá cả, tầm quan trọng của sản phẩm bao gồm sự khác biệt hóa và khả năng thay thế của sản phẩm khác Ngoài ra, nhu cầu thông tin về sản phẩm, chi phí chuyển đổi khách hàng, tính nhạy cảm đối với giá của khách hàng là một trong những áp lực cạnh tranh thật sự đối với các doanh nghiệp trong ngành mà khách hàng tạo ra

Sự trung thành của khách hàng là một lợi thế của doanh nghiệp, sự trung thành

đó xuất phát từ sự thỏa mãn những nhu cầu của họ bởi doanh nghiệp, các doanh nghiệp muốn có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh phải hướng những nỗ lực của hoạt động marketing vào khách hàng, thu hút sự chú ý, kích thích sự quan tâm, thúc đẩy khách hàng đến với sản phẩm và dịch vụ của mình

Đối thủ cạnh tranh hiện tại:

Đối thủ cạnh tranh hiện tại là một trong năm lực lượng cạnh tranh trong ngành Các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra tác động cạnh tranh trở lại ngành Việc xem xét đối thủ cạnh tranh hiện tại sẽ cho phép doanh nghiệp trả lời câu hỏi là phải làm gì để giành được ưu thế so với đối thủ trong mối tương quan Tính chất và cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện tại trong ngành phụ thuộc vào các yếu tố: Số lượng và quy mô của các đối thủ cạnh tranh trong ngành; Tốc độ tăng trưởng ngành; Chi phí cố định và chi phí lưu kho cao; Khác biệt hóa sản phẩm và dịch vụ; Các rào cản rút lui; Mối quan hệ giữa rào cản thu nhập và rào cản rút lui

Nhà cung cấp:

Các nhà cung cấp là những tổ chức, cá nhân có khả năng sản xuất và cung cấp các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, các loại dịch vụ phương tiện vận chuyển, thông tin,… Việc các nhà cung cấp

Trang 24

đảm bảo đầy đủ các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp về: số lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả, các điều kiện cung cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành, doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả Ngược lại, trong một số trường hợp, có thể gây áp lực cho hoạt động của doanh nghiệp

Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện ở các đặc điểm sau:

- Mức độ tập trung của nhà cung cấp thể hiện ở quy mô và số lượng các nhà cung cấp Số lượng nhà cung cấp quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành nói chung và doanh nghiệp nói riêng Nếu thị trường có một vài nhà cung cấp lớn sẽ tạo nên áp lực cạnh tranh mạnh ảnh hưởng tới sản xuất của toàn ngành Ngược lại, khi trên thị trường thị phần của các nhà cung ứng được chia nhỏ thì sức ép cạnh tranh sẽ được giảm xuống, khả năng ảnh hưởng tới ngành của một nhà cung ứng là không nhiều

- Tầm quan trọng của nhà cung ứng thể hiện ở số lượng sản phẩm mà họ cung ứng, sự khác biệt về sản phẩm cung ứng, khả năng thay thế của các nhà cung cấp, chi phí chuyển đổi của các doanh nghiệp trong ngành

Sự hiểu biết thông tin về nhà cung cấp cũng giúp cho doanh nghiệp có quyết định đúng đắn nhất về sự lựa chọn nhà cung ứng Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, điều đó cũng là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp giảm sức ép cạnh tranh từ nhà cung ứng

Đối thủ tiềm ẩn:

Michael E Porter cho rằng các đối thủ tiểm ẩn là những doanh nghiệp hiện tại chưa tham gia vào ngành nhưng có khả năng cạnh tranh trong tương lai nếu họ quyết định gia nhập ngành Về mọi phương diện các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn chưa bằng các đối thủ trong ngành Tuy nhiên họ có hai điểm mà chúng ta cần chú ý là: có thể biết được điểm yếu của đối thủ hiện tại; và có tiềm lực tài chính, công nghệ mới để sản xuất các sản phẩm mới

Đối thủ tiềm ẩn ít hay nhiều, áp lực họ gây ra cho ngành mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố sau:

Trang 25

Sức hấp dẫn của ngành Điều này thể hiện qua tỷ suất lợi nhuận của ngành, số lượng khách hàng của ngành, tốc độ tăng trưởng của ngành và các doanh nghiệp trong ngành

Rào cản gia nhập ngành như: vốn, khoa học kỹ thuật, …

Sản phẩm thay thế:

Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng Đặc điểm cơ bản của nó thường có các ưu điểm hơn sản phẩm bị thay thế

ở các đặc trưng riêng biệt

Áp lực cạnh tranh của các sản phẩm thay thế phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong

đó bao gồm chi phí chuyển đổi trong việc sử dụng sản phẩm, xu hướng sử dụng sản phẩm thay thế của khách hàng, tương quan giữa giá cả và chất lượng của sản phẩm thay thế Áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ khi khả năng bị thay thế của sản phẩm, dịch vụ ngày càng gia tăng Tính chất khác biệt của sản phẩm càng lớn thì tạo nên sức mạnh cạnh tranh với các sản phẩm thay thế càng cao Tuy nhiên, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển nhanh chóng, các sản phẩm mới với giá cả và chất lượng cũng như những tính năng ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng thì các sản phẩm thay thế ngày càng có chiều hướng gia tăng, tạo nên sức ép cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp trong ngành

Như vậy, muốn chiến thắng trong môi trường cạnh tranh thì buộc các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường

1.5 Một số quy chế, quy định kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc: 1.5.1 Quy chế kiểm tra và chứng nhận chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm hàng hóa thủy sản

Quy chế được ban hành kèm theo Quyết định số 118 /2008/QĐ-BNN ngày 11/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy chế này quy định trình tự, thủ tục, nội dung kiểm tra và chứng nhận chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (viết tắt là CL,VSATTP) hàng hóa thủy sản và trách nhiệm, quyền hạn của các bên có liên quan trong kiểm tra và chứng nhận CL,VSATTP hàng hóa thủy sản [14]

Trang 26

Quy chế áp dụng đối với hàng hóa thủy sản dùng để tiêu thụ nội địa, xuất khẩu, nhập khẩu (bao gồm nhập khẩu để chế biến, do triệu hồi hoặc trả về) Quy chế này không bắt buộc áp dụng đối với: sản phẩm thủy sản là thực phẩm mang theo người để tiêu dùng cá nhân, làm quà biếu; hàng mẫu để triển lãm, hội chợ, gửi cho khách hàng không nhằm mục đích đưa ra thị trường, túi ngoại giao, túi lãnh sự theo quy định của pháp luật; hàng hóa thủy sản tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh, mượn đường, hàng hóa thủy sản không gửi kho ngoại quan; hàng hóa thủy sản không dùng làm thực phẩm Đối với các hàng hóa thủy sản xuất khẩu thuộc diện kiểm dịch theo quy định hiện hành, cơ quan kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ được thực hiện đồng thời việc kiểm tra CL, VSATTP và kiểm dịch

Trong quy chế này, Chủ hàng có trách nhiệm đăng ký kiểm tra và chứng nhận CL,VSATTP hàng hóa thủy sản với cơ quan kiểm tra; tạo điều kiện cho cán bộ của

Cơ quan Kiểm tra thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, lấy mẫu và cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu có liên quan; không làm thay đổi đặc tính của sản phẩm, thông tin ghi nhãn khác với nội dung đã đăng ký và được kiểm tra, chứng nhận CL, VSATTP; chịu trách nhiệm về các kết quả tự phân tích các chỉ tiêu CL, VSATTP hàng hóa thủy sản đối với các lô hàng xuất khẩu được áp dụng chế độ giảm kiểm tra; thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp đối với lô hàng không đạt CL, VSATTP, lô hàng bị trả

về hoặc triệu hồi theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra và cơ quan có thẩm quyền

1.5.2 Quy định IUU (Illegal, unreported and unregulated fishing)

Theo Ủy ban châu Âu (EC), hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định là một trong những hoạt động gây tác hại nghiêm trọng cho môi trường biển, tính bền vững của các đàn cá và tình hình kinh tế - xã hội của ngư dân Theo đó, EC ban hành quy định số 1005/2008 ngày 29/09/2008 về việc thiết lập hệ thống trong cộng đồng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo, và không theo quy định [15] Với 12 chương, Luật quy định, điều kiện tiên quyết để nhập thủy sản vào EU

là giấy chứng nhận thể hiện thông tin về tính hợp pháp của sản phẩm Giấy này

Trang 27

được quốc gia chủ tàu chứng thực, phù hợp với trách nhiệm quốc gia theo luật pháp quốc tế Chứng nhận này áp dụng cho tất cả sản phẩm trừ sản phẩm thủy sản nước

ngọt, cá cảnh và một số loại thân mềm, sò, hàu, trai Theo quy định này, các lô

hàng thủy sản khi xuất khẩu vào thị trường EU phải có thông tin về tàu khai thác, tên chủ tàu, phương tiện đánh bắt, vùng biển khai thác, loại sản phẩm và trọng lượng, giấy báo chuyến hàng trên biển…nhằm mục đích quản lý chặt chẽ đội tàu khai thác biển của các nước

Các chủ tàu, thuyền trưởng được quy định trong chương 3 của quy định, những người này có trách nhiệm khai báo đầy đủ, chính xác những thông tin ghi trong giấy chứng nhận thủy sản khai thác và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những khai báo của mình Phải cung cấp thông tin, hồ sơ, giấy tờ liên quan khi cơ quan cấp giấy chứng nhận thủy sản khai thác (Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản) yêu cầu Chủ tàu, thuyền trưởng được quyền yêu cầu Cục khai thác và bảo

vệ nguồn lợi thủy sản cung cấp thông tin, quy định liên quan đến mẫu tờ khai thông tin sản phẩm khai thác thủy sản

Đối với trường hợp của các doanh nghiệp, các đại lý, chủ vựa thu mua thủy sản thì phải khai báo đầy đủ, chính xác những thông tin ghi trong tờ khai chứng nhận thủy sản khai thác, thủy sản khai thác nhập khẩu và chịu trách nhiệm trước pháp luật trước những lời khai báo của mình, cụ thể là Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hàng tháng, hàng quý, hàng năm phải báo cáo lên Cục khai thác

và bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo quy định

Như vậy theo quy định này, đòi hỏi sự thay đổi cả một hệ thống từ cơ quan quản lý đến các địa phương, ngư dân, nậu vựa, công ty chế biến và xuất khẩu Việc này là rất khó khăn cho Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng, bởi từ trước đến nay ở nước ta vẫn chưa có hệ thống giám sát, kiểm soát và chứng thực đáp ứng các điều kiện theo IUU Và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đến xuất khẩu của nước ta

Trang 28

1.6 Các nghiên cứu về chuỗi giá trị các mặt hàng ở Việt Nam

Liên quan đến vấn đề nghiên cứu về chuỗi giá trị các mặt hàng ở nước ta, đề tài có tham khảo một số nghiên cứu sau:

 “Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản – trường hợp nghiên cứu mặt hàng cá

cơm năm 2009 và cá ngừ sọc dưa năm 2008 ở tỉnh Khánh Hòa” của nhóm

nghiên cứu của PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Anh – Khoa Kinh tế, trường Đại học Nha Trang, trong báo cáo của Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam [16]

Báo cáo đã sử dụng mô hình SCP phân tích cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng thủy sản cá cơm và vai trò của các tác nhân trong chuỗi, phân tích sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị Kết quả nghiên cứu của báo cáo cho thấy việc phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi còn chênh lệch quá cao và chưa hợp lý

Ngư dân là người thu được lợi ích kinh tế thấp nhất Trong khi đó, ngư dân phải chịu nhiều rủi ro khi tham gia hoạt động đánh bắt Bên cạnh đó, giá bán của ngư dân lại phụ thuộc hoàn toàn vào giá của nhà nhập khẩu và nhà sản xuất trong nước

Các tác nhân cuối cùng trong chuỗi (cơ sở chế biến thủy sản, cơ sở sản xuất nước mắm) là những người được hưởng lợi nhiều nhất, đặc biệt là cơ sở xuất khẩu

Và tác nhân cuối cùng này cũng là người tạo ra giá trị nhiều nhất trong chuỗi Tuy nhiên tác nhân này cũng gặp rủi ro trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm

Người được lợi ích kinh tế cao thứ hai trong chuỗi là các chủ nậu vựa Mặc dù các nậu vựa tạo ra giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận thấp nhất so với các tác nhân trong chuỗi, đồng thời các chủ nậu vựa này hầu như không có rủi ro

 “Cấu trúc thị trường và phân tích kênh phân phối: trường hợp sản phẩm

heo tại đồng bằng song Cửu Long” của nhóm tác giả: Lưu Tiến Thuận, Lưu

Thanh Đức Hải [17]

Trong nghiên cứu này, mô hình SCP được kết hợp với cách tiếp cận kênh marketing và giá trị tạo ra Đối tượng nghiên cứu là các tác nhân trong kênh marketing heo như người nuôi, thương lái, lò mổ và người bán lẻ Nghiên cứu này

Trang 29

nhằm khảo sát hiện trạng hệ thống marketing và kênh phân phối ở một số tỉnh ở ĐBSCL, và tập trung vào cấu trúc thị trường nội địa cũng như mối quan hệ giữa các tác nhân trung gian trong thị trường và đánh giá về tính hiệu quả của thị trường dịch

vụ

Qua kết quả nghiên cứu, người nuôi và thương lái chiếm tỷ trọng lớn trong việc tạo giá trị và đạt lợi nhuận cao nhất Tuy nhiên, người nuôi phải đối mặt với nhều rủi ro nhất trong chăn nuôi Ngược lại, lò mổ và người bán lẻ chỉ đóng góp một phần nhỏ trong việc tạo ra giá trị Họ phải cạnh tranh mạnh với nhau về giá và khả năng đạt lợi nhuận thấp, người bán lẻ cũng đương đầu với rủi ro cao

Như vậy, xét chung thì thương lái là tác nhân kiếm được lợi nhuận cao nhất

Kế đến là người nuôi, bán lẻ và lò mổ

 “Phân tích cấu trúc thị trường và kênh marketing: trường hợp cá tra, cá

basa tại đồng bằng song Cửu Long” của nhóm tác giả: Thái Văn Đại, Lưu Tiến

Thuận, Lưu Thanh Đức Hải [11]

Nghiên cứu này đã áp dụng cách tiếp cận SCP kết hợp với cách tiếp cận kênh marketing và giá trị tạo ra Với mục tiêu phân tích về cách thức phân phối cá tra, cá basa từ người người sản xuất đến người tiêu dùng và đánh giá giá trị tăng thêm của các tác nhân trong kênh marketing, nghiên cứu đã cho thấy sản phẩm cá tra, basa bán trên thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu là khá đồng nhất và sự khác biệt

về sản phẩm không phải là rào cản cạnh tranh, các tác nhân trong kênh marketing đều bị ảnh hưởng mạnh bởi sự dao động giá và sự bất ổn của thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước

Kết quả cũng cho thấy được việc phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân không đồng đều, người nuôi cá chiếm phần lớn trong việc đóng góp tạo ra giá trị tăng thêm nhưng họ có lợi nhuận thấp nhất và rủi ro lớn nhất trong ngành Người bán lẻ có tỉ

lệ đóng góp khiêm tốn trong việc tạo ra giá trị tăng thêm nhưng họ lại được coi là có ảnh hưởng lớn trong cạnh tranh về giá và có mức lợi nhuận cao nhất Thương lái đóng góp ít hơn trong giá trị tạo ra nhưng họ cũng có thu nhập cao hơn người nuôi

Trang 30

 “Phân tích cấu trúc thị trường và kênh tiêu thụ sản phẩm cam ở vùng

đồng bằng sông Cửu Long” của nhóm tác giả: Nguyễn Phạm Thanh Nam, Trương Chí Tiến, Lưu Thanh Đức Hải [18]

Với mục tiêu nghiên cứu là phân tích cấu trúc của kênh phân phối sản phẩm cam và sự hợp tác giữa các tác nhân trong kênh, đồng thời đánh giá kết quả thực hiện thị trường của các kênh phân phối sản phẩm cam, qua đó đề xuất các nghiên cứu tiếp theo và các chương trình hỗ trợ cho việc tăng tính hiệu quả của cả dây chuyền cung ứng cam của vùng đồng bằng sông Cửu Long, đề tài đã áp dụng mô hình SCP kết hợp với cách tiếp cận kênh marketing và sự phân chia giá trị tạo ra giữa các thành viên trong kênh Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận biên của người bán sỉ địa phương và tại chợ đầu mối là thấp nhất Tuy nhiên, đối tượng này buôn bán với số lượng lớn và thời gian quay vòng vốn nhanh nên tổng lợi nhuận nhiều nhất trong kênh Người bán lẻ tuy có lợi nhuận biên cao nhất trong nhóm nhưng vì lượng cam bán ra mỗi ngày rất thấp nên tổng lợi nhuận thấp hơn người bán sỉ Qua nghiên cứu cũng thấy được rằng, trong dây chuyền cung cấp cam vẫn tồn tại nhiều trung gian phân phối và chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong kênh Và sự phân chia lợi nhuận giữa các thành viên có sự chênh lệch nhau nhiều

 “Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt Hưng yên” của nhóm nghiên cứu

trong chương trình hợp tác phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa giữa Bộ kế hoạch và Đầu tư (MPI) và Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Đức (GTZ) [19]

Nghiên cứu với mục tiêu tổng thể là cùng với các bên có liên quan đến chuỗi rau cải ngọt tạo ra phương hướng và phát triển kế hoạch can thiệp trên cơ sở yêu cầu thị trường nhằm làm cho chuỗi rau cải ngọt phát triển thành công hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn từ đó mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia vào chuỗi Trong nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích chuỗi thị trường để mô tả các mối liên quan giữa các thành viên trong chuỗi và những giao dịch có liên quan trong quá trình luân chuyển rau cải ngọt từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng; kết hợp

Trang 31

với phương pháp đánh giá nhanh (RDA) để phân tích xem những gì xảy ra xung quanh chuỗi rau cải ngọt

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, phần lớn rau cải ngọt ở Hưng Yên được nông dân bán trực tiếp cho người bán sỉ tại Hưng Yên, những người bán sỉ này lại bán trực tiếp tại các chợ đầu mối ở Hà Nội cho người bán lẻ và cho những người bán sỉ đến từ các tỉnh khác Việc sản xuất còn phân tán và còn thiếu sự gắn kết giữa người sản xuất với thị trường Giá bán rau cải ngọt không ổn định, khi điều kiện sản xuất thuận lợi thì giá bán thấp Một thực tế đó là rau Hưng Yên chưa tạo được thương hiệu đối với người bán lẻ và người tiêu dùng Hà Nội mặc dù rau Hưng Yên chiếm thị phần lớn tại thị trường Hà Nội

Nghiên cứu cũng cho thấy tổng thu nhập/năm từ việc sản xuất rau là tương đối cao Tuy nhiên, các tác nhân trong chuỗi gặp rủi ro cao do chưa nắm được thông tin thị trường và phải chịu cạnh tranh gay gắt

 “Áp dụng phương pháp chuỗi giá trị để phát triển tiểu ngành dâu tằm tơ

tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình” của tác giả: Nguyễn Trí Thanh, trong

báo cáo của Dự án Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Miền Trung [20]

Báo cáo đã áp dụng phương pháp tiếp cận Chuỗi giá trị với mục tiêu hiểu rõ tất

cả các công đoạn hay các khâu trong chuỗi theo sự dịch chuyển của các yếu tố đầu vào, đến quá trình sản xuất, chế biến, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm; vai trò và mối liên hệ của các đối tượng tham gia Từ đó đề ra các chiến lược để tạo ra được giá trị gia tăng ở các khâu nhất định trong chuỗi, tăng cường khả năng cạnh tranh của toàn chuỗi

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhu cầu thị trường rộng lớn nhưng chưa được đáp ứng Cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế, khối lượng kén tằm sản xuất ra chỉ đáp ứng 30% cho công nghiệp ươm tơ trong nước Cạnh tranh gay gắt trong việc thu mua sản phẩm, thị trường xuất khẩu rộng lớn Bên cạnh đó, có nhiều cơ hội cho tiểu ngành phát triển như có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và các tổ chức khác hoạt động trên địa bàn, có cơ sở ươm tại địa bàn, có một thị trường tiềm năng

Trang 32

Đây là điều kiện để thúc đẩy, phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm ở địa phương Qua tính toán giá trị cho thấy người nuôi tằm đóng góp giá trị nhiều nhất trong chuỗi Nhìn chung, những người tham gia vào nghề trồng dâu nuôi tằm có thu nhập

ổn định và xu hướng ngày càng tăng

“Phân tích chuỗi giá trị nho Ninh Thuận”- Báo cáo của Công ty Nghiên

cứu thị trường Axic Research, 2005 [21]

Báo cáo đã sử dụng phương pháp phân tích Chuỗi giá trị từ người nông dân cho đến thương lái, nhà bán sỉ/lẻ, nhà chế biến, xuất khẩu…với mục tiêu xây dựng

hệ thống giá trị cho các tác nhân trong chuỗi

Nghiên cứu cho thấy, nho Ninh Thuận chủ yếu được cung ứng theo con đường truyền thống đó là: Nông dân → Thương lái → Người bán sỉ → Người bán lẻ → Người tiêu dùng Trong chuỗi giá trị này, người nông dân khá thụ động trong khâu thu hoạch và tiêu thụ Gần như hầu hết nông dân bán thẳng cho thương lái, còn có rất ít hộ tự thu hoạch và có đầu mối tiêu thụ là các siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh Trong tỉnh đa số là các thương lái nhỏ, thu mua bán lại cho thương lái lớn hoặc bán cho người bán sỉ tại các thành phố khác theo quen biết, hợp đồng miệng, chỉ có một vài thương lái lớn mua để xuât khẩu hoặc bán cho các siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh

Nông dân trồng nho thu lợi nhuận không nhỏ tuy nhiên nông dân gặp nhiều rủi ro do phụ thuộc vào thời tiết, sâu bệnh…, và người nông dân còn thiếu nhiều thứ như thông tin, sự nhạy bén và ý thức tập thể Chính vì vậy, lợi nhuận của nông dân không ổn định Thương lái cũng có lợi nhuận bấp bênh do giá bán ra của thương lai phụ thuộc vào việc định giá của người bán sỉ

Người bán sỉ chủ động về giá, sau khi tham khảo giá trên thị trường mới tiến hành định giá cho thương lái vì vậy người bán sỉ gặp rủi ro rất ít

Nhìn chung, trong toàn chuỗi người bán sỉ có lợi nhuận ổn định nhất, cả nông dân và thương lái đều gặp nhiều rủi ro trong khi đó lợi nhuận lại thất thường

Trang 33

“Phân tích chuỗi giá trị bưởi Vĩnh Long” của Công ty Nghiên cứu thị

trường Axic Research, 2006 [21]

Báo cáo đã đi sâu phân tích các tác nhân trong chuỗi giá trị bưởi Vĩnh Long, nhằm giúp cho tỉnh có sự bao quát và hệ thống về sản phẩm và thị trường tiêu thụ, phân tích đặc điểm và mối quan hệ của các tác nhân trong chuỗi để từ đó có sự thay đổi và hướng hỗ trợ phù hợp giúp phát triển chuỗi một cách bền vững

Kết quả nghiên cứu cho thấy, chuỗi giá trị bưởi Vĩnh Long chủ yếu đươc nông dân bán cho thương lái Thương lái chiếm vai trò rất quan trọng trong khâu thu hoạch, thường quyết định giá cả cho bưởi và thực hiện phần thu gom, bán lại cho các nhà bán buôn để phân phối đến các khâu khác trong chuỗi Vì vậy, thương lái

có lợi nhuận khá cao và ổn định Tuy nhiên, so với chuỗi giá trị nho Ninh Thuận thì người trồng bưởi Vĩnh Long có ưu thế hơn trong việc quyết đinh thời điểm bán và giá bán vì bưởi không dễ hư hỏng như nho, người nông dân có thể neo trái lại trên cây hoặc thu hoạch và bảo quản dễ dàng Đặc biệt, lượng cung bưởi nhỏ hơn nhu cầu nên thương lái phải cạnh tranh cao trong mua hàng

Đối với những người bán sỉ, nhìn chung họ có thu nhập khá lớn và khó khăn gặp phải thì không đáng kể

Các doanh nghiệp chế biến gặp khó khăn do đầu ra không ổn định, chất lượng bưởi Việt Nam chưa cao khiến người tiêu dùng chưa thực sự quan tâm

Qua các đề tài liên quan đến chuỗi giá trị ở trên ta thấy hầu hết các tác nhân đầu tiên trong chuỗi giá trị là người chịu thiệt nhiều nhất, quá trình sản xuất gặp nhiều rủi ro trong khi lợi nhuận thu được lại thấp so với các tác nhân khác trong chuỗi Hạn chế của tác nhân này đó là vẫn còn thiếu thông tin thị trường về sản phẩm mình sản xuất Và qua các chuỗi giá trị của các mặt hàng khác nhau nhưng vẫn có điểm chung đó là các tác nhân trong chuỗi chưa tạo được sự liên kết, hợp tác chặt chẽ với nhau Các tác nhân trong chuỗi có sự phân phối không đồng đều cả

về giá trị gia tăng và lợi ích

Trang 34

Chương 2

TỔNG QUAN NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM VÀ KHÁNH HÒA

2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thủy sản Việt Nam

Trong hơn 10 năm trở lại đây, ngành thủy sản nước ta đã có những bước phát triển nhanh và ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông, lâm, ngư nghiệp và trong nền kinh

tế quốc dân tăng dần qua các năm Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tham gia xoá đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của cộng đồng cư dân không chỉ vùng nông thôn ven biển, mà cả ở các vùng núi, trung du và Tây nguyên [22]

so với kế hoạch); Khánh Hòa (76.391 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2009, đạt 103,2% so với kế hoạch); Bình Định (132.000 tấn); Cà Mau (144.360 tấn); Bến Tre (117.116 tấn); Tiền Giang (76.291 tấn)…

Kết quả đạt được ở trên là nhờ trong năm 2010, tình hình thời tiết trên biển khá thuận lợi cho hoạt động khai thác hải sản Vì vậy, ngư dân có điều kiện bám biển dài ngày để đẩy mạnh khai thác, đặc biệt là ngư dân có thể yên tâm khai thác đối

5

Nội dung phần này tham khảo tại [23]

Trang 35

với những vùng khơi xa Bên cạnh đó, cá ngừ, cá nục, mực xuất hiện nhiều ở tuyến khơi nên các nghề lưới vây, câu mực khơi đạt hiệu quả kinh tế cao

Tuy nhiên, vùng biển ven bờ, các loại cá nổi ít xuất hiện nên hiệu quả các nghề vây ánh sáng, vây ngày ở vùng lộng không cao, các nghề truyền thống khác đạt sản lượng ổn định Chính vì lẽ đó xu hướng vươn khơi khai thác của ngư dân ngày càng nhiều Cũng trong năm 2010, nhiều địa phương trên cả nước đã tích cực hướng dẫn ngư dân khai thác hiệu quả, an toàn trên các vùng biển; chú trọng phát triển phương tiện và ngư cụ các nghề đánh bắt xa bờ; triển khai các biện pháp nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng tàu cá và ngư dân Việt Nam bị nước ngoài bắt giữ; tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động nghề cá tại vùng đánh cá chung Việt Nam-Trung Quốc; theo dõi sát tình hình, diễn biến thời tiết trên biển và trực ban phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn… nhờ đó sản lượng khai thác đạt cao, góp phần vào thành tích chung của ngành thủy sản trong năm 2010

2.1.1.2 Nuôi trồng thủy sản 6

Mặc dù năm 2010 ngành nuôi trồng thủy sản gặp rất nhiều khó khăn do thời tiết biến động bất thường nhưng nhiều địa phương đã kịp thời khắc phục, sớm ổn định tình hình nên sản lượng sản lượng nuôi vẫn đạt khá cao Theo báo cáo của các

sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 12/2010 ước đạt 218,8 nghìn tấn, đưa sản lượng cả năm 2010 lên 2.706.8 nghìn tấn, bằng 105,4% so với cùng kỳ năm 2009 và đạt 102,1% so với kế hoạch năm 2010

Cụ thể, sản lượng nuôi trồng tại một số địa phương: Quảng Ninh (30.720 tấn); Thanh Hóa (26.725 tấn); Hà Tĩnh (11.000 tấn); Vĩnh Long (140.000 tấn, trong đó cá tra ước đạt 115.000 tấn); Cà Mau (246.040 tấn, trong đó: 103.900 tấn tôm); An Giang (280.000 tấn, trong đó: 231.000 tấn); Cần Thơ (183.314 tấn, trong đó cá tra 287.149 tấn); Tiền Giang (120.188 tấn)

2.1.1.3 Chế biến thủy sản

Thời gian qua, lĩnh vực chế biến thủy sản ở Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc, hiện có trên 400 doanh nghiệp với trên 550 cơ sở chế biến thủy sản quy mô

6

Nội dung phần này tham khảo tại [24]

Trang 36

công nghiệp Kể từ đầu năm 2010, các doanh nghiệp chế biến phải đứng trước khó khăn về thiếu nguyên liệu trong nước để sản xuất trong khi thuế nhập khẩu nguyên liệu một số mặt hàng vẫn chưa đưa về mức 0% Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, để đáp ứng đủ nhu cầu chế biến xuất khẩu, sắp tới nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản của Việt Nam sẽ tăng từ 8 – 10%/năm, với giá trị khoảng

200 triệu USD/năm

Ngoài ra, hầu hết các nhà máy chế biến thuỷ sản chỉ hoạt động được khoảng 70% công suất do thiếu nguyên liệu chế biến Số nhà máy chế biến hải sản không ngừng tăng lên trong khi năng lực nuôi trồng, khai thác trong nước có hạn, mức độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn Do đó, nhiều doanh nghiệp đã tăng cường nhập khẩu nguyên liệu, mở rộng mạng lưới thu mua nguyên liệu thủy sản, liên kết tổ chức tiến hành nuôi trồng tạo nguồn nguyên liệu thủy sản tại chỗ để giải quyết tạm thời tình trạng trên [25,26]

2.1.2 Tình hình tiêu thụ

Thủy sản Việt Nam chủ yếu là phục vụ cho xuất khẩu Bên cạnh mặt hàng gạo đạt doanh số kỷ lục kể từ khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo thì trong năm 2010 mặt hàng thủy sản lập một lỷ lục mới với trên 5 tỷ USD, trong bối cảnh chịu nhiều rào cản thương mại của các nước

Tham gia vào thị trường xuất khẩu thủy sản muộn hơn nhiều nước trên thế giới, nhưng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam hiện nay đã tăng trưởng nhanh chóng Đến nay, hàng thủy sản của Việt Nam đã xuất khẩu tới nhiều thị trường khó tính trên thế giới Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2010 cả nước xuất khẩu được 1,353 triệu tấn thủy sản trị giá 5,034 tỉ đô la, tăng 11,3% về khối lượng và 18,4% về giá trị so với năm 2009 Chỉ tính riêng trong số 10 thị trường xuất khẩu thủy sản hàng đầu của Việt Nam giá trị đã đạt 3,420 tỷ USD, chiếm 68% tổng giá trị xuất khẩu và đều có mức tăng trưởng cao 10 - 25% so với năm 2009, trong đó thị trường Pháp tăng trưởng mạnh nhất, tăng khoảng 68% Xét về giá trị thì thị trường

Mỹ đứng đầu về giá trị nhập khẩu với 971 triệu USD, chiếm khoảng 19,3% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam Tiếp đến là Nhật Bản với 897 triệu USD,

Trang 37

chiếm khoảng 17,8%; Hàn Quốc với 386 triệu USD, chiếm 7,7%; Trung Quốc và Hồng Kông với 247 triệu USD, chiếm 4,9%; Đức với 210 triệu USD, chiếm 4,1%; Tây Ban Nha với 167 triệu USD, chiếm 3,3%; Ôxtrâylia với 152 triệu USD, chiếm 3,0%; Italia với 136 triệu USD, chiếm 2,7%; Hà Lan với 132 triệu USD, chiếm 2,6% và Pháp với 122 triệu USD, chiếm 2,4% [27] Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản năm 2010 thể hiện rõ qua hình 2.1

Hình 2.1: Các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn năm 2010

(Nguồn: Tổng cục Hải Quan) [28]

Nhìn chung, xuất khẩu thuỷ sản năm 2010 có thuận lợi như nhiều ngành hàng khác xét trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới, nhất là các nước Mỹ, EU, Nhật Bản…là những thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt Nam đang trên đà phục hồi Do đó, khi thu nhập dân cư ở các thị trường này tăng lên, cộng thêm mặt hàng thủy sản là loại thực phẩm ngon, có giá trị dinh dưỡng cao, rất dễ tăng được lượng tiêu thụ, các loại mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sẽ có cơ hội tiêu thụ mạnh hơn vào các thị trường truyền thống và mở rộng xuất khẩu đa dạng hơn

Trang 38

vào các thị trường mới Một thuận lợi khác là thuỷ sản Việt Nam vừa qua đã được một số nước công nhận, đánh giá cao về chất lượng Cuối năm 2009, Bộ Y tế và tiêu dùng Tây Ban Nha đã ra thông báo công nhận cá tra, cá basa xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng các quy định về an toàn thực phẩm của EU Tây Ban Nha hiện là một trong những nước tiêu thụ cá tra và cá basa của Việt Nam nhiều nhất trong số các nước EU với lượng nhập khẩu mỗi năm theo ước tính khoảng 40.000 tấn

Cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp chế biến thủy sản, năm 2010, các mặt hàng thủy sản Việt Nam đã được xuất khẩu đến 162 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với sự tham gia của 969 doanh nghiệp Trong số các mặt hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam có thể kể đến các mặt hàng chính như: tôm đạt giá trị 2,106

tỷ USD, tăng 42%; cá tra đạt giá trị 1,44 tỷ USD, tăng 28,4%; nhuyễn thể đạt giá trị 488,8 triệu USD, tăng 9,7%; cá ngừ đạt giá trị 293 triệu USD, tăng 5,8% … [25]

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thủy sản Khánh Hòa

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải miền Trung, được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho một vùng biển rộng lớn trải dài trên địa bàn tỉnh, tập trung nhiều đầm, phá, vũng, vịnh và nhiều cảng biển có tiềm năng lớn về thủy hải sản Bên cạnh đó Khánh Hòa còn sở hữu một số lượng lớn tàu cá các loại trên 10.100 tàu [1] Hơn nữa người dân ở đây có truyền thống lâu đời và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản Có thể nói, tiềm năng về ngành thủy sản của tỉnh là rất lớn

Qua thống kê cho thấy, biển Khánh Hòa có hơn 2.030 loài cá, trong đó 130 loài có giá trị kinh tế, 1.600 loài giáp xát, 2.500 loài sò, trai…và rất nhiều rong, chim biển Nguồn lợi cá biển trong vùng đặc quyền kinh tế ước đạt trên 150.000 tấn/năm, đó là nguồn tài nguyên cho hoạt động đánh bắt thủy sản

Hiện ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Khánh Hòa, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tham gia xóa đói giảm nghèo Từ nay đến năm 2015 và tầm nhìn 2020, tỉnh Khánh Hòa phấn đấu sản lượng thủy sản đạt trên 120.000 tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt 90.000 tấn, nuôi trồng 30.000 tấn, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 500 triệu USD [29]

Trang 39

2.2.1 Tình hình sản xuất sản phẩm thủy sản Khánh Hòa

2.2.1.1 Khai thác thủy sản Khánh Hòa

Từ một nghề cá thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở gần bờ hiện nay khai thác thủy sản Khánh Hòa đã dịch chuyển thành một nghề cơ giới, tăng cường khai thác

xa bờ đánh bắt các đối tượng có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho xuất khẩu Số lượng tàu thuyền trong tỉnh tăng nhanh, từ khoảng 4.900 chiếc năm 1991 đến năm 2010 đã lên 10.100 tàu cá các loại Tuy nhiên, phần lớn tàu thuyền vẫn có công suất nhỏ, thiết bị khai thác thô sơ, trang thiết bị hàng hải trên tàu còn thiếu, chưa đồng bộ, trình độ cơ giới hóa còn thấp Hiện nay, sản lượng đánh bắt hàng năm đạt từ 65.000 – 70.000 tấn [1]

Một số loại nghề khai thác thu được sản lượng cao là: đánh bắt cá ngừ, vây cá cơm, cản khơi, mành câu, lưới rê,…

Những tháng đầu năm 2010, do thời tiết thuận lợi, sản lượng khai thác thủy sản toàn tỉnh Khánh Hòa đạt 33.000 tấn các loại, bằng 44,5% so với kế hoạch năm

và tăng 2% so với cùng kì năm trước [30]

Theo báo cáo của các sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, sản lượng khai thác thuỷ sản tháng 12/2010 ước đạt 255,8 nghìn tấn, đưa sản lượng khai thác thuỷ sản 12 tháng năm nay lên 2.450,8 nghìn tấn, bằng 107,6 % so với cùng kỳ năm

2009 và đạt 102,1% so với kế hoạch [31]

Trong 5 tháng đầu năm 2011, theo Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa sản lượng đánh bắt thủy sản toàn tỉnh đạt 27.987 tấn, giảm 4,4% so với cùng kì năm 2010 [32]

Hiện nay trên thực tế, việc đánh bắt thủy sản gặp phải không ít những khó khăn, Khánh Hòa chưa hình thành được đội tàu khai thác quy mô lớn Hầu hết ngư dân ra khơi riêng lẻ nên không chỉ khó quản lý, mà việc thông tin tới ngư dân về áp dụng các quy định mới cũng rất khó khăn Theo luật quốc tế, ngư dân có quyền khai thác đánh bắt trong phạm vi lãnh hải của mình, nhưng yêu cầu cụ thể hóa vùng khai thác, ngày khai thác là rất khó đối với ngư dân Vì vậy gây khó khăn chung cho ngành thủy sản Khánh Hòa

Trang 40

2.2.1.2 Nuôi trồng thủy sản Khánh Hòa

Khánh Hòa được biết đến là tỉnh nằm trong vùng sinh thái khá đa dạng và thuận lợi cho việc phát triển các hình thức nuôi trồng hải sản, từ chỗ là nghề sản xuất phụ, mang tính tự cấp, tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thủy vực nước ngọt, nước lợi, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ mọi trường, hài hóa với các ngành kinh

tế khác Trong những năm qua, nghề nuôi trồng đã thật sự đa dạng hóa, đối tượng nuôi không chỉ tập trung vào con tôm sú, tôm hùm, cá mú, ngọc trai, cua, ghẹ, rong sụn như những năm trước đây mà còn được đầu tư phát triển mạnh ở một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như cá bớp, hải sâm, bào ngư, cá khoan cổ đỏ, cá chẻm, cá chim,…

2.2.1.3 Chế biến thủy sản

Hiện Khánh Hòa đã có 44 xưởng chế biến xuất khẩu trong đó có 26 xưởng chế biến đông lạnh, 3 phân xưởng chế biến đồ hộp, 15 cơ sở chế biến thủy sản khô, 22 phân xưởng đạt tiêu chuẩn được cấp Code xuất khẩu vào thị trường châu Âu [29] Phần lớn các doanh nghiệp trong tỉnh đều đầu tư mạnh cơ sở hạ tầng, nhà xưởng sản xuất, máy móc thiết bị đồng bộ, đạt các tiêu chuẩn cấp ngành, bảo đảm các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm Điều này đã giúp sản lượng chế biến xuất khẩu hàng năm của tỉnh tăng lên, mỗi năm tổng sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong tỉnh không đáp ứng đủ yêu cầu cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến Vì vậy, hiện nay nhiều doanh nghiệp trong tỉnh đã mở rộng thu mua tại các tỉnh, thành phố trong nước nhằm đảm bảo yêu cầu hoạt động

Sự đầu tư mạnh cơ sở hạ tầng nhà xưởng, máy móc thiết bị đồng bộ của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu đã làm cho ngày càng giảm việc xuất khẩu hàng thô, tạo cơ sở vững vàng cho việc chế biến nhiều mặt hàng đa dạng từ đông lạnh đến đồ hộp…có giá trị gia tăng cao Đây chính là điều kiện thuận lợi để chế biến thủy sản xuất khẩu của Khánh Hòa trở thành ngành sản xuất công nghiệp hiện đại, có đủ năng lực chủ động hội nhập và

Ngày đăng: 29/07/2014, 18:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Trang thông tin điện tử Tổng cục thủy sản, 2011, “Khánh Hòa: nguồn lợi mang lại từ biển”, theo báo Khánh Hòa,http://www.fistenet.gov.vn/Portal/NewsDetail.aspx?newsid=8591&lang=vi-VN, ngày truy cập 20.03.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khánh Hòa: nguồn lợi mang lại từ biển
4. Thông tin giao nhận vận tải, 2011, “Chuỗi giá trị trong ngành vận chuyển container”, theo Thương Mại, http://www.giaonhanvantai.vn/chuoi-cung-ung-supply-chain/1045-chuoi-gia-tri-trong-nganh-van-chuyen-container.html,ngày truy cập 04.06.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị trong ngành vận chuyển container
5. Nguyễn Thị Trâm Anh, 2009. Hợp tác trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản – công cụ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tạp chí Khoa học công nghệ thủy sản, số 1 – 2009. tr. 83-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản – công cụ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Trâm Anh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học công nghệ thủy sản
Năm: 2009
6. Tư vấn quản lý, 2010, “Phân tích ngành”, http://tuvanquanly.com/?p=230 , ngày truy cập 04.06.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích ngành
7. Prof_Souviron, 2007, “Quản trị chuỗi cung cấp (Bài I)”, http://www.saga.vn/Sanxuatvanhanh/Quantrikho/Quantrichuoicungcap/1058.saga, ngày truy cập 03.03.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chuỗi cung cấp (Bài I)
8. Ganeshan, R. và Harrison, 2002, "Giới thiệu về quản lý chuỗi cung ứng", http://silmaril.smeal.psu.edu/misc/supply_chain_intro.html, ngày truy cập12.03.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu về quản lý chuỗi cung ứng
Tác giả: Ganeshan, R., Harrison
Năm: 2002
9. Lợi thế cạnh tranh quốc gia – Michael E. Porter, 1990, Nhà xuất bản trẻ 10. Value chain and value supply,http://www.dissertationsgratuites.com/dissertations/Value-Chain-And-Supply-Chain/226848.html, ngày truy cập 04.03.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tác giả: Michael E. Porter
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
Năm: 1990
11. Nhóm tác giả: Thái Văn Đại - Lưu Tiến Thuận - Lưu Thanh Đức Hải, 2008, “Phân tích cấu trúc thị trường và kênh marketing: trường hợp cá tra, cá ba sa tại đồng bằng sông Cửu Long”, Chi nhánh nhà xuất bản giáo dục tại thành phố Cần Thơ. Tr. 127-130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cấu trúc thị trường và kênh marketing: trường hợp cá tra, cá ba sa tại đồng bằng sông Cửu Long
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục tại thành phố Cần Thơ. Tr. 127-130
13. Quản trị trực tuyến, “Khái quát về cạnh tranh trong kinh doanh”, http://quantritructuyen.com/chi-tiet/khai-quat-ve-canh-tranh-trong-kinh-doanh/60.html, ngày truy cập 30.02.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về cạnh tranh trong kinh doanh
14. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2008, “Quy chế kiểm tra và chứng nhận chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm hàng hóa thủy sản”.15 Liên minh châu Âu, 2008, “Thiết lập một hệ thống trong Cộng đồng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định”, Tạp chí chính thức của Liên minh châu Âu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế kiểm tra và chứng nhận chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm hàng hóa thủy sản
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Tạp chí chính thức của Liên minh châu Âu
Năm: 2008
16. “The Fisheries sector in Vietnam: A Stragetic Economic Analysis”. Báo cáo của Đại sứ quán hoàng gia Đan Mạch tại Việt Nam trong khuôn khổ dự án FSPS II.Tháng 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Fisheries sector in Vietnam: A Stragetic Economic Analysis
17. Nhóm tác giả: Lưu Tiến Thuận - Lưu Thanh Đức Hải, 2008, “Cấu trúc thị trường và phân tích kênh phân phối: trường hợp sản phẩm heo tại đồng bằng song Cửu Long”, Chi nhánh nhà xuất bản giáo dục tại thành phố Cần Thơ. Trang 108-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc thị trường và phân tích kênh phân phối: trường hợp sản phẩm heo tại đồng bằng song Cửu Long
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục tại thành phố Cần Thơ. Trang 108-125
18.Nhóm tác giả: Nguyễn Phạm Thanh Nam - Trương Chí Tiến - Lưu Thanh Đức Hải, 2008, “Phân tích cấu trúc thị trường và kênh tiêu thụ sản phẩm cam ở vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Chi nhánh nhà xuất bản Cần Thơ. Trang 79-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cấu trúc thị trường và kênh tiêu thụ sản phẩm cam ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Nhà XB: nhà xuất bản Cần Thơ. Trang 79-107
19. “Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt Hưng Yên”. Nghiên cứu của Fresh Studio Innovations Asia Ltd., đồng hợp tác với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hưng Yên trong khuôn khổ Chương trình hợp tác phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) và Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Đức (GTZ), 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt Hưng Yên
Tác giả: Fresh Studio Innovations Asia Ltd
Nhà XB: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hưng Yên
Năm: 2005
20. “Áp dụng phương pháp chuỗi giá trị để phát triển tiểu ngành dâu tằm tơ tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình”. Báo cáo của Dự án Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Miền Trung. Tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng phương pháp chuỗi giá trị để phát triển tiểu ngành dâu tằm tơ tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
21. “Phân tích chuỗi giá trị nho Ninh Thuận và bưởi Vĩnh Long” – Báo cáo của Công ty Nghiên cứu thị trường Axic Research, 2005-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chuỗi giá trị nho Ninh Thuận và bưởi Vĩnh Long
22. Trung tâm thông tin thủy sản, “Ngành Thủy sản – Chặng đường phát triển”, trang thông tin điện tử Tổng cục thủy sản,http://www.fistenet.gov.vn/Portal/News.aspx?DoFid=160&lang=vi-VN, ngày truy cập 18.04.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Thủy sản – Chặng đường phát triển
23. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, “Thủy sản Việt Nam năm 2010 tăng trưởng mạnh”.http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.aspx?cn_id=443408&co_id=30066, ngày truy cập 28.04.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủy sản Việt Nam năm 2010 tăng trưởng mạnh
24. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010, “Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 12 và cả năm 2010 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn”, trung tâm tin học và thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 12 và cả năm 2010 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: trung tâm tin học và thống kê
Năm: 2010
41. Hội nghề cá tỉnh Khánh Hòa, 2010, http://diachidoanhnghiep.com/group.asp?menu=detail&id=3093&hoi-nghe-ca-tinh-khanh-hoa, ngày truy cập 21.05.2011 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1:  Chuỗi giá trị áp dụng cho một doanh nghiệp. Nguồn: [3] - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình 1.1 Chuỗi giá trị áp dụng cho một doanh nghiệp. Nguồn: [3] (Trang 9)
Hình 1.2 :  Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình 1.2 Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP (Trang 14)
Hình 1.3: Mô hình 5 lực lượng. Nguồn:  [2] - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình 1.3 Mô hình 5 lực lượng. Nguồn: [2] (Trang 22)
Hình  2.1: Các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn năm 2010 - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
nh 2.1: Các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn năm 2010 (Trang 37)
Hình  2.2: Xuất khẩu cá ngừ 11 tháng đầu năm 2010 - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
nh 2.2: Xuất khẩu cá ngừ 11 tháng đầu năm 2010 (Trang 45)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang (Trang 47)
Hình 3.1 Ngư dân tại cảng Hòn Rớ  Đặc điểm: - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình 3.1 Ngư dân tại cảng Hòn Rớ Đặc điểm: (Trang 48)
Hình 3.2 Hoạt động của nậu vựa tại cảng Hòn Rớ  Đặc điểm: - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình 3.2 Hoạt động của nậu vựa tại cảng Hòn Rớ Đặc điểm: (Trang 52)
Hình 3.3 Người bán sỉ tại cảng Hòn Rớ - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình 3.3 Người bán sỉ tại cảng Hòn Rớ (Trang 54)
Hình 3.4 Người bán lẻ tại chợ Đầm - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình 3.4 Người bán lẻ tại chợ Đầm (Trang 56)
Hình 3.5 Quang cảnh công ty Cổ phần Nha Trang Seafood – F17 - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình 3.5 Quang cảnh công ty Cổ phần Nha Trang Seafood – F17 (Trang 57)
Bảng 3.1: Chi phí – lợi nhuận của ngư dân - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.1 Chi phí – lợi nhuận của ngư dân (Trang 68)
Bảng 3.1 cho thấy, tổng  chi phí đối  với ngư  dân là 14.228 đồng/kg, trong đó  chi phí biến đổi cho một chuyến biển chiếm 61,41 %, chi phí lao động chiếm 19,24 - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.1 cho thấy, tổng chi phí đối với ngư dân là 14.228 đồng/kg, trong đó chi phí biến đổi cho một chuyến biển chiếm 61,41 %, chi phí lao động chiếm 19,24 (Trang 68)
Sơ đồ 4.1: Mô hình hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Sơ đồ 4.1 Mô hình hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa (Trang 81)
Hình thức  thu mua - Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa
Hình th ức thu mua (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w