Trong quá trình hội nhập của các doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng, nó là một trong những nhân tố cơ bản cấu thành và quyết định xu hướng phát triển
Trang 1Lời nói đầu
Hiện nay nền kinh tế nước ta vận động theo nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trong bối cảnh đó có nhiều loại hình tổ chức kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế ra đời và cùng hoạt động trên thị trường, chính vì vậy mà trong kinh doanh cơ chế cạnh tranh ngày càng cao
Xu hướng quốc tế hoá đã thúc đẩy sản xuất tăng trưởng trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất Xu hướng này đã lôi kéo tất cả các doanh nghiệp dù muốn hay không cũng phải từng bước hội nhập vào quỹ đạo của nền kinh tế quốc tế Trong quá trình hội nhập của các doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng, nó là một trong những nhân tố cơ bản cấu thành và quyết định xu hướng phát triển của doanh nghiệp, không những thế mà nó còn là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà mọi doanh nghiệp đều phải quan tâm
Do vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh không những có ý nghĩa quyết định đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội Nếu hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà cao sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển và ngược lại
Chính vì vậy mà sau thời gian thực hiện và làm báo cáo tại Công ty Vận chuyển khách du lịch, em đã nhận thấy hiệu quả kinh doanh của Công ty còn thấp so với các đơn vị cùng ngành nên em đã mạnh dạn chọn đề tài về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Trong luận văn, do hạn chế về thời gian nên em đã phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh vận chuyển khách và khách sạn của Công ty trong 2 năm gần đây Bởi trong Công ty vận chuyển khách du lịch hai ngành đó chiếm vị trí chủ yếu, quan trọng và lượng vốn lớn nhất Các ngành kinh doanh khác mang tính chất hỗ trợ và vốn kinh doanh
không nhiều nên em đã đặt tên dề tài là “Hiệu quả sản xuất kinh doanh vận
chuyển khách và khách sạn của Công ty vận chuyển khách du lịch” làm
Trang 2Chương I: Những vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinh
doanh dịch vụ trong doanh nghiệp
1 Khái niệm và tính chất (đặc tính) của hàng hoá dịch vụ.
a) Khái niệm
Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng, hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu sản phẩm của dịch
vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm, vật chất
b) Các vấn đề liên quan đến sản xuất, cung ứng dịch vụ.
- Dịch vụ cơ bản: Là hoạt động dịch vụ tạo ra giá trị thoả mãn lợi ích
cốt lõi của người tiêu dùng, đó chính là mục tiêu tìm kiếm của người mua
- Dịch vụ bao quanh: Là những dịch vụ hoặc các khâu độc lập của dịch
vụ được hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng Dịch vụ bao quanh có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản và tăng thêm lợi ích cốt lõi hoặc có thẻ là những dịch vụ độc lập mang lại lợi ích phụ thêm
- Dịch vụ sơ đẳng: Bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh của
doanh nghiệp phải đạt tới một mức độ nào đó và tương ứng người tiêu dùng nhận được một chuỗi giá trị xác định nào đó phù hợp với chi phí của khách hàng đã thanh toán Dịch vụ sơ đẳng gắn liền với cấu trúc dịch vụ, với các mức và quy chế dịch vụ của những nhà cung cấp
- Dịch vụ tổng thể là hệ thống dịch vụ bao gồm dịch vụ cơ bản, dịch vụ
bao quanh, dịch vụ sơ đẳng
c) Đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ là một loại hàng hoá đặc biệt, nó có
những nét đặc trưng riêng mà hàng hoá hiện hữu không có Dịch vụ có 4 đặc điểm nổi bật đó là:
- Dịch vụ có đặc tính không hiện hữu: Đây là đặc điểm cơ bản của dịch
vụ Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất Tính không hiện
Trang 3hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ Nhờ đó người ta có thẻ xác định được mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa các dịch vụ và hàng hoá hiện hữu.
- Dịch vụ có tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không tiêu
chuẩn hoá được Trước hết do hoạt động cung ứng các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau Hơn nữa khách hàng tiêu dùng là người quyết định chất lượng phục vụ dựa vào cảm nhận của họ Do vậy trong cung cấp dịch vụ thường thực hiện các nhân hoá, thoát li khỏi các quy chế Điều đó cũng làm cho dịch vụ tăng thêm mức độ khác biệt giữa chúng
- Dịch vụ có đặc tính không tách rời: Sản phẩm dịch vụ gắn liền với
hoạt động cung cấp dịch vụ Các sản phẩm dịch vụ cụ thể là không đồng nhất nhưng đều mang tính hệ thống, đều từ cấu trúc của dịch vụ cơ bản phát triển thành một sản phẩm dịch vụ cụ thể gắn liền với cấu trúc của nó và là kết quả của quá trình hoạt động của hệ thống cấu trúc đó Quá trình sản xuất gắn liền với việc tiêu dùng dịch vụ Người tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ cho chính mình
- Sản phẩm dịch vụ mau hỏng: Dịch vụ không thể tồn kho, không cất
trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này đến khu vực khác Dịch vụ có tính mau hỏng như vậy nên việc sản xuất mua bán và tiêu dùng dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian cũng như đặc điểm này làm mất cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa các thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng
2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ trong nền kinh tế thị
Trang 4với điều kiện thực tế, thích ứng với biến động của thị trường Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống có cấu trúc bên trong bao gồm nhiều phân hệ khác nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với bên ngoài Sản xuất kinh doanh dịch vụ
là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết định cho việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho xã hội Một sản phẩm dịch vụ có cung cấp cho thị trường và được thị trường chấp nhận, đồng thời đem về cho doanh nghiệp một khoản thu lớn hơn khoản chi phí bỏ ra, điều đó chứng tỏ rằng phương án sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đang thực hiện là có hiệu quả, cũng có nghĩa là mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp đã được thực hiện
- Xét trong phạm vi một doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với yếu tố đầu ra Muốn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cần phải tổ chức khai thác sử dụng các yếu tố này một cách hợp lý
- Đầu vào của quá trình sản xuất dịch vụ bao gồm các yếu tố như: lao động (sống), cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ máy móc
- Sản phẩm đầu ra của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thể hiện dưới dạng khó nhận biết một cách cụ thể so với quá trình sản xuất ra sản phẩm vật chất
Trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét với mỗi sự hao phí nguồn lực, xác định
có thể tạo ra ở mức nào
3 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ là một phạm trù kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong tái sản xuất mở rộng Nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh tế đã xác định cho mình Vì vậy khi nói đến hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ là một phạm trù mở rộng thì có nghĩa là nó phải được xét trên tất cả các khâu từ sản xuất dịch vụ tới tiêu dùng
Trang 5Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh trình độ và năng lực quản lý sản xuất dịch vụ để đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ (trước hết là kinh tế) đặt ra với chi phí thấp nhất.
Muốn hiểu rõ hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ, phải phân tích sự khác biệt giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả của sản xuất kinh doanh đạt được trong kỳ sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phản ánh mối quan
hệ so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về dựa trên cơ sở của các thước
đo chính là thước đo giá trị và thước đo hiện vật của các chỉ tiêu, có nghĩa là hiệu quả của sản xuất kinh doanh bao gồm tất cả các kết quả sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp đó sản xuất kinh doanh phải có lãi và như thế là phải chiếm được thị phần trên thị trường
Vì vậy có thể hiểu rằng: hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ là hiệu
số của cải thu về và chi phí bỏ ra, nó được biểu hiện bằng hai mặt định lượng
và định tình, hai mặt này có quan hệ mật thiết với nhau
4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ.
Để đánh giá chính xác hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh phải
sử dụng một số chỉ tiêu vừa tổng quát, vừa chi tiết vì mỗi chỉ tiêu đánh giá một phạm vi khác nhau Như vậy chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh được xác định bởi chi phí đầu vào và kết quả đầu ra với hai dạng tiêu biểu sau:
Dạng 1:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vàoChỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất sinh lời của một đồng chi phí bỏ ra.Dạng 2:
Hiệu quả kinh doanh = Chi phí đầu vào
Kết quả đầu raChỉ tiêu này phản ánh suất hao phí chi ra để đạt được một đơn vị kết quả
Trang 6Các kết quả đầu ra thường được sử dụng là các chỉ tiêu: Giá trị tổng sản lượng doanh thu, lợi nhuận
Chi phí đầu vào thường được sử dụng là: Vốn, tổng vốn, vốn cố định, vốn lưu động, tài sản cố định, lao động, giá thành
5 Các nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.
a) Nhân tố đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp.
Xét trong phạm vi một doanh nghiệp thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với hai yếu tố đầu vào và đầu ra Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần tổ chức khai thác sử dụng các yếu
b) Nhân tố kỹ thuật và công nghệ trong kinh doanh dịch vụ.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đều có sự đóng góp rất lớn của cơ sở vật chất kỹ thuật
Ví dụ như trong kinh doanh dịch vụ vận chuyển khách nếu ta có đội ngũ xe hiện đại, tiện nghi, chất lượng thì sẽ rất thuận lợi trong việc phục vụ khách, tạo cho khách có sự thoải mái và tin tưởng vào một chuyến đi tốt đẹp
Thực tế cho thấy, khi kinh doanh, doanh nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật vững chắc thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó sẽ phát triển Tuy vậy công nghệ kỹ thuật cũng phải phù hợp với trình độ của lực lượng lao động tại mỗi doanh nghiệp thì mới phát huy được hết khả năng và tránh lãng phí
Trong điều kiện hiện nay khi mà chất lượng dịch vụ, là mối quan tâm hàng đầu với người tiêu dùng thì việc đảm bảo cải tiến trên cơ sở công nghệ
Trang 7kỹ thuật là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp phải biết nâng cao khả năng đầu tưm cải tiến công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất dịch vụ nâng cao trình độ của mình.
c) Nhân tố tổ chức sản xuất dịch vụ:
Trong bất kỳ loại hình hoạt động kinh doanh dịch vụ nào thì hiệu quả hoạt động của nó cũng gắn liền với trình độ quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó, cho dù khoa học công nghệ tốt mà trình độ tổ chức, quản lý kém thì không những kinh doanh không có hiệu quả mà nó còn kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp
Trình độ quản lý, tổ chức sản xuất thể hiện bộ máy linh hoạt có trình độ chuyên môn cao và có nghệ thuật kinh doanh sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất dịch vụ phát triển, sẽ giúp cho doanh nghiệp có hướng đi đúng đắn đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho doanh nghiệp
- Nhân tố con người: Là một trong những nhân tố quan trọng nhất bởi một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ dù có cơ sở vật chất tốt đến mấy mà thái độ làm việc và trình độ của các nhân viên trong doanh nghiệp không tốt thì không thể tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Vì vậy muốn kinh doanh dịch vụ có hiệu quả thì phải quan tâm đến nhân tố con người vì nó là tiền đề quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp
- Nhân tố khách hàng:
Chính khách hàng là người tiêu dùng dịch vụ Không có khách hàng sẽ không có dịch vụ, khách hàng gắn liền với tiêu dùng và trở thành một yếu tố quan trọng của tiêu dùng, Khách hàng trực tiếp tiêu dùng dịch vụ của nhân viên cung ứng Chất lượng dịch vụ được khách hàng cảm nhận và đánh giá Khách hàng có những thông tin ngược chiều để người cung cấp có thể cá nhân hoá dịch vụ phù hợp với nhu cầu riêng biệt Mối quan hệ giữa các khách hàng với nhau cũng tác động vào hệ thống cung cấp dịch vụ
Trang 8Chương II: tình hình kinh doanh vận chuyển khách và khách sạn của Công ty vận chuyển khách du lịch
Công ty vận chuyển khách du lịch kinh doanh bao gồm các lĩnh vực:
I Vài nét về sự hình thành và cơ cấu của Công ty vận chuyển khách du lịch.
1 Giới thiệu về Công ty vận chuyển khách du lịch.
Công ty vận chuyển khách du lịch là một doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo quyết định số 89 - TCCB ngày 27/3/1993 của Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch
Trụ sở chính của công ty đặt tại số 16A, phố Nguyễn Công Trứ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Mã số thuế: 0100107282-1
Sự hình thành và phát triển của Công ty gắn liền với sự hình thành và phát triển của ngành du lịch quốc doanh nước ta Từ ngày 09/07/1960 Công ty vận chuyển khách du lịch còn là một bộ phận của Tổng Công ty Du lịch, chuyên làm nhiệm vụ đưa đoán khách của các cơ quan Nhà nước
Đến năm 1967, nhờ được sự bổ sung thêm tài sản cố định, đội xe phát triển thành đoàn xe du lịch Cùng với sự tăng trưởng về quy mô và địa bàn hoạt động, năm 1981 đoàn xe du lịch trở thành Xí nghiệp xe du lịch với khoảng 50 xe ô tô các loại cùng cơ cấu nhà xưởng rộng rãi
Cho đến năm 1987, theo quyết định số 57/QĐ/TCCB, xí nghiệp xe du lịch được thực hiện chế độ hạch toán độc lập với tư cách pháp nhân Từ năm
Trang 91993 đến nay, Công ty có tên chính thức là: Công ty Vận chuyển khách du lịch Công ty Vận chuyển khách du lịch được công nhận là hội viên chính thức của Hiệp hội Du lịch Việt Nam ngày 19/5/2003.
2 Cơ cấu tổ chức của Công ty vận chuyển khách du lịch.
Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, bộ máy của Công ty
có nhiều cải tiến nhằm xây dựng bộ máy hoạt động hiệu quả, linh hoạt, có năng lực, có trình độ nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh luôn thông suốt và năng động
a) Tổ chức lao động tại Công ty:
Trong hoạt động kinh doanh của Công ty Vận chuyển khách du lịch, có nhiều yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả kinh tế Và yếu tố nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu bởi không có máy móc nào có thể hoàn toàn thay thế con người
Hiện nay Công ty Vận chuyển khách du lịch có 175 lao động chính thức, chưa tính đến số công nhân hợp đồng theo thời vụ Cán bộ, công nhân viên trong Công ty đều là những lao động đã qua đào tạo các ngành nghề phù hợp với chức năng, quyền hạn cũng như công việc, nhiệm vụ được giao Mô hình quản lý công ty được tổ chức phù hợp với các loại hình hoạt động kinh doanh trong phạm vi toàn Công ty, trong đó các lao động được phân chia hợp
lý về các phòng ban và các đơn vị kinh doanh trực thuộc Công ty
Trang 10b ) Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Công ty vận chuyển khách du lịch
c) Các đơn vị kinh doanh trực thuộc Công ty Vận chuyển khách du lịch.
- Đội xe du lịch
- Khách sạn Hướng Dương
- Một số đơn vị kinh doanh trực thuộc khác
+ Trung tâm Lữ hành quốc tế Thăng Long
+ Xuất nhập khẩu hàng tiêu dùng
+ Đại lý vé máy bay Việt Nam Air lines
+ Trung tâm vật lý trị liệu
Trang 11II Tình hình kinh doanh vận chuyển khách du lịch
Về đội xe của Công ty, có khoảng 80 người đa phần đã qua đào tạo Công ty có khoảng hơn 60 xe các loại mà chủ yếu là các loại xe nhập từ Nhật như: Mitsubisi, Toyota trong đó có:
Sơ đồ 2: Sơ đồ vận chuyển khách của Công ty
- Ký kết hợp đồng: khách hàng đến trung tâm Lữ hành Quốc tế Thăng Long ký hợp đồng và thanh toán tiền trước cho trung tâm
- Lệnh điều xe: sau khi khách hàng ký kết hợp đồng thì Trung tâm sẽ có lệnh điều xe xuống đội xe và giao nhiệm vụ cho nhân viên lái xe
- Lái xe thực hiện hợp đồng: Sau khi đã được giao nhiệm vụ, nhân viên lái xe sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình theo đúng hợp đồng, nhận và trả khách đúng địa điểm trên hợp đồng
- Thanh lý hợp đồng: Sau khi nhân viên lái xe trả khách theo hợp đồng
và báo lại để Công ty tiến hành thanh lý bản hợp đồng
1 Mức chi phí của các loại xe: (Điểm hoà vốn).
Để đội xe của Công ty kinh doanh có lãi thì công ty cần phải phấn đấu
để vượt qua được mức doanh thu sau:
Khách ký k t ế
h p ợ đồng đ ềL nh i u xeệ Lái xe th c hi n h p ệ ợự
ngđồ
Thanh lý
h p ợ đồng
Trang 12Bảng 1: Tổng chi phí hàng tháng cho một đầu xe (điểm hoà vốn)
4.550.000đ 65%
6.500.000đ 65%
7.150.000đ 65% Chi phí quản lý 1.000.000
16,7%
1.000.000 14,3%
1.000.000 14,3%
1.000.000 10%
1.000.000 9,1% Chi phí nhân viên 600.000đ
10%
900.000đ 12,9%
900.000đ 12,9%
1.800.000đ 18%
2.100.000 19,1% Khấu hao TSCĐ 2.300.000đ
38,3%
2.650.000đ 37,8%
2.650.000đ 37,8%
3.700.000đ 37%
4.050.000 36,8%
35%
2.450.000đ 35%
2.450.000đ 35%
3.500.000đ 35%
3.850.000đ 35% Chi phí bảo dưỡng 600.000đ
10%
700.000đ 10%
700.000đ 10%
1.000.000đ 10%
1.100.000đ 10% Chi phí khác 900.000đ
15%
1.050.000đ 15%
1.050.000đ 15%
1.500.000đ 15%
1.650.000đ 15%
10%
700.000đ 10%
700.000đ 10%
1.000.000đ 10%
1.100.000đ 10%
Tổng chi phí 6.000.000đ 7.000.000đ 7.000.000đ 10.000.000đ 11.000.000đ
Nguồn: Phòng tài chính kế toán của Công ty vận chuyển khách du lịch
Công thức tính điểm hoà vốn theo sản phẩm (sản phẩm ở đây được trình bày số km xe chạy)
Trang 142 Hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch của Công ty Vận
Nguồn: Phòng tài chính kế toán của Công ty vận chuyển khách du lịch
Như vậy với tổng doanh thulà 6.074.816.000đ năm 2002, đội xe của Công ty kinh doanh đã bị thua lỗ 141.184.000đ Nguyên nhân là trong một vài năm gần đây, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường cạnh tranh, khiến thị trường vận chuyển khách có nhiều biến động khó lường, như giá cước vận tải trong nước và ngoài nước giảm, sự cạnh tranh về giá các tour du lịch và còn nhiều yếu tố khác nên hoạt động kinh doanh của Công ty gặp không ít khó khăn cần giải quyết Đặc biệt là đại dịch SARS khiến giá xăng dầu, nguyên vật liệu tăng lên, trong khi đó giá thuê xe, giá tour du lịch và dịch vụ lại giảm, lại phải cạnh tranh khốc liệt với thị trường Bên cạnh đó Công ty vận chuyển
Trang 15khách du lịch còn là một doanh nghiệp Nhà nước, nên mỗi đơn vị kinh doanh trong Công ty không tránh khỏi sự chậm trễ về các thủ tục, giấy tờ.
Trang 163 Hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch của Công ty Vận
chuyển khách du lịch năm 2003 - Một năm có nhiều biến động
Bảng 3: Tổng doanh thu đội xe của Công ty năm 2003
Nguồn: Phòng tài chính kế toán của Công ty vận chuyển khách du lịch
Với các số liệu ở bảng trên ta nhận thấy rằng năm 2003 với doanh thu
là 6.274.336.000đ đội xe đã mang về cho công ty:
58.336.000 - 20.417.600đ (biến phí 35%) = 37.918.400đ (tiền lãi)
Việc đội xe của Công ty kinh doanh có lãi là một điều đáng mừng Tuy nhiên số lãi này chưa cao so với đồng vốn của Công ty bỏ ra
Như ta đã biết, hiện nay thì tài sản của đội xe có:
Trang 17Vậy với số lãi là 37.918.400đ thì trong năm 2003 bỏ ra một đồng vốn, đội xe của Công ty chỉ thu được xấp xỉ 0,002đ tiền lãi Với chỉ số như thế thì
Doanh thu
Lợi nhuận
cả năm + biến phí
Lợi nhuận
cả năm
Lợi nhuận trung bình một xe
Nguồn: Phòng tài chính kế toán của Công ty vận chuyển khách du lịch
ở 5 loại xe trên như chúng ta đã thấy, loại xe 12 chỗ và 4 chỗ là hai loại
xe mang lại lợi nhuận cao nhất
Xe 12 chỗ: 1.508.464,2 đ/ xe
Xe 4 chỗ: 1.247.285đ/xeTiếp sau đó là hai loại xe 30 chỗ và xe 15 chỗ
Xe 30 chỗ : 523.900đ/xe
Xe 15 chỗ: 385.710đ/xeLoại xe mang lại lãi thấp nhất là loại xe 45 chỗ chỉ thu được 88.725đ/xeNhững số liệu đó cho ta thấy được quy mô hợp đồng vận chuyển khách
du lịch của Công ty vẫn ở trong phạm vi những hợp đồng nhỏ Vì thế cho nên những loại xe hoạt động nhiều lại là những loại xe có ít chỗ Còn loại xe nhiều chỗ như xe 45 chỗ thì lại thu được lãi suất rất ít, xem qua số liệu của đội xe ta dễ dàng nhận thấy rằng trong 2 năm 2002 - 2003 thì năm 2002 đội
xe kinh doanh bị thua lỗ Còn năm 2003 thì đội xe kinh doanh lại có lãi Tại sao lại có những chuyển biến như vậy? Đó là nhờ trong dịp chào đón
Trang 18SEGAMES, dưới sự chỉ huy giám sát của ban giám đốc, đội xe du lịch đã huy động được 375 lượt xe đón khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Như vậy, để năm 2004 và những năm sau đó nếu không có những sự kiện như Seagames mà muốn kinh doanh có lãi nhiều hơn thì Công ty cần phải tìm ra biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh
III Tình hình kinh doanh khách sạn của Công ty Vận chuyển khách du lịch
Cùng năm trong hệ thống khách sạn trên dịa bàn Hà Nội, khách sạn Hướng Dương là một bộ phận kinh doanh của Công ty Vận chuyển khách du lịch Là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch, được quyết định thành lập từ ngày 27/3/1993, có đăng ký kinh doanh số 108064 ngày 19/4/1993 Sau khi hoàn tất hồ sơ thẩm định, ngày 22/6/1997, khách sạn Hướng Dương đã được Tổng cục Du lịch công nhận là khách sạn 2 sao
Tạo lạc tại 16A Nguyễn Công Trứ - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội với diện tích là 200m2, khách sạn Hướng Dương được xây dựng theo lối kiến trúc khép kín với 40 phòng khá đầy đủ tiện nghi Cuối năm 2003 khách sạn Hướng Dương sửa chữa và nâng cấp và đã được Tổng cục Du lịch công nhận đạt tiêu chuẩn là khách sạn 3 sao Với tổng trị giá tài sản là : 5.958.364.720 đồng
Khách sạn Hướng Dương có tổng số lao động là 35 người, tất cả đều đã được qua đào tạo đặt dưới sự chỉ huy của phó giám đốc Công ty phụ trách khách sạn Mỗi một bộ phận đều có trưởng bộ phận là người quản lý trực tiếp
và làm công tác tham mưu cho phó giám đốc phụ trách khách sạn
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức của khách sạn Hướng Dương