1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trong vụ xuân 2011 tại trung tâm nghiên cứu cây trồng tứ hạ, hương trà, thừa thiên huế

34 673 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 410 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1.Tính cấp thiết của đề tài Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao. Hiện nay lạc đang được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Theo FAO trong các loài cây lấy hạt có dầu được trồng hàng năm trên thế giới, lạc có diện tích và sản lượng đứng thứ 2 sau đậu tương, Việt Nam là nước trồng lạc đứng thứ 5 ở châu Á sau: Ấn Độ, Idonesia, Trung Quốc và Myanma. Lạc có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng của hầu hết các địa phương trong cả nước. Lạc là cây lấy dầu có giá trị, trong hạt lạc chứa lượng dầu cao từ 4057 %, ngoài ra chứa protein khá cao từ 2037,5 % và các vitamin quan trọng khác như vitamin A, B1, B6, vitamin PP, có thể sử dụng trực tiếp làm thực phẩm. Lạc là cây có khả năng cải tạo đất do ở rễ lạc có các vi khuẩn nốt sần có khả năng cố định đạm cung cấp cho cây nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Hiện nay ở nước ta, lạc là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng, là nguồn thực phẩm cho con người, nguồn thức ăn cho gia súc và là cây cải tạo đất lý tưởng. Sản xuất lạc ở Việt Nam ngày càng phát triển, từ năm 1995 đến năm 2000 sản xuất lạc có xu hướng tăng về diện tích và sản lượng nhưng năng suất chưa cao, chỉ đạt khoảng 1,4 tấnha. Nhưng đến năm 2009 diện tích trồng lạc trong cả nước đạt 249,2 nghìn ha và năng suất đạt 2,1 tấnha, cao hơn nhiều so với các năm trước. Một trong những yếu tố quan trọng nâng cao năng suất lạc ở Việt Nam là chúng ta đã chọn tạo, nhập nội được một số giống mới và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật. Nhưng năng suất lạc ở nước ta nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng chưa cao do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu: nông dân còn xem cây lạc là cây trồng phụ, chưa áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong thâm canh, đa số diện tích trồng lạc phụ thuộc vào nước trời nhưng chưa có giải pháp khắc phục... Ngoài những nguyên nhân trên, phân bón cũng là một yếu tố quan trọng làm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng của lạc. Vì vậy việc sử dụng phân bón hợp lý làm tăng năng suất và chất lượng lạc đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Hiện nay sản xuất lạc nói riêng và các cây trồng khác ở Thừa Thiên Huế nói chung hiện chưa sử dụng phân bón Mg. Trong khi đó Mg là nguyên tố đa lượng có nhiều vai trò sinh lý quan trọng đối với cây trồng, điều này đã ảnh hưởng đến năng suất lạc. Vì vậy để xác định được vai trò, hiệu quả của việc bón bổ sung Mg cho lạc, góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh lạc ở Thừa Thiên Huế và những vùng có điều kiện đất đai tương tự. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trong vụ Xuân 2011 tại trung tâm nghiên cứu cây trồng Tứ Hạ, Hương Trà, Thừa Thiên Huế”.

Trang 1

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm có giá trị

kinh tế và dinh dưỡng cao Hiện nay lạc đang được trồng ở nhiều nước trênthế giới Theo FAO trong các loài cây lấy hạt có dầu được trồng hàng nămtrên thế giới, lạc có diện tích và sản lượng đứng thứ 2 sau đậu tương, ViệtNam là nước trồng lạc đứng thứ 5 ở châu Á sau: Ấn Độ, Idonesia, TrungQuốc và Myanma Lạc có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng của hầuhết các địa phương trong cả nước Lạc là cây lấy dầu có giá trị, trong hạt lạcchứa lượng dầu cao từ 40-57 %, ngoài ra chứa protein khá cao từ 20-37,5 %

và các vitamin quan trọng khác như vitamin A, B1, B6, vitamin PP, có thể sửdụng trực tiếp làm thực phẩm Lạc là cây có khả năng cải tạo đất do ở rễ lạc

có các vi khuẩn nốt sần có khả năng cố định đạm cung cấp cho cây nâng caohiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích

Hiện nay ở nước ta, lạc là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng,

là nguồn thực phẩm cho con người, nguồn thức ăn cho gia súc và là cây cảitạo đất lý tưởng Sản xuất lạc ở Việt Nam ngày càng phát triển, từ năm 1995đến năm 2000 sản xuất lạc có xu hướng tăng về diện tích và sản lượng nhưngnăng suất chưa cao, chỉ đạt khoảng 1,4 tấn/ha Nhưng đến năm 2009 diện tíchtrồng lạc trong cả nước đạt 249,2 nghìn ha và năng suất đạt 2,1 tấn/ha, caohơn nhiều so với các năm trước Một trong những yếu tố quan trọng nâng caonăng suất lạc ở Việt Nam là chúng ta đã chọn tạo, nhập nội được một số giốngmới và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Nhưng năng suất lạc ở nước ta nói chung

và Thừa Thiên Huế nói riêng chưa cao do nhiều nguyên nhân, trong đónguyên nhân chủ yếu: nông dân còn xem cây lạc là cây trồng phụ, chưa ápdụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong thâm canh, đa số diện tíchtrồng lạc phụ thuộc vào nước trời nhưng chưa có giải pháp khắc phục Ngoàinhững nguyên nhân trên, phân bón cũng là một yếu tố quan trọng làm ảnhhưởng đến năng suất và sản lượng của lạc Vì vậy việc sử dụng phân bón hợp

Trang 2

lý làm tăng năng suất và chất lượng lạc đem lại hiệu quả kinh tế cao, gópphần xây dựng nền nông nghiệp bền vững.

Hiện nay sản xuất lạc nói riêng và các cây trồng khác ở Thừa Thiên Huế nóichung hiện chưa sử dụng phân bón Mg Trong khi đó Mg là nguyên tố đalượng có nhiều vai trò sinh lý quan trọng đối với cây trồng, điều này đã ảnhhưởng đến năng suất lạc Vì vậy để xác định được vai trò, hiệu quả của việcbón bổ sung Mg cho lạc, góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh lạc ở ThừaThiên Huế và những vùng có điều kiện đất đai tương tự Chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng, phát triển và

Hạ, Hương Trà, Thừa Thiên Huế”

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của MgSO4 đến một số chỉ tiêu sinh trưởng pháttriển, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất lạc trong vụ Xuân năm

2011 tại Tứ Hạ, Hương Trà, Thừa Thiên Huế

- Xác định được vai trò cũng như liều lượng MgSO4 phù hợp để cây lạc cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao nhất ở Thừa Thiên Huế và cácvùng có điều kiện đất đai tương tự

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu bổ sung các dẫn liệu mới về vai trò của Mg đối với cây lạc trồng ở Thừa Thiên Huế

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất các liều lượng bón MgSO4 tối

ưu cho cây lạc ở Thừa Thiên Huế và những vùng khác có điều kiện tương tự

Từ đó góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh cây lạc cho năng suất cao 1.4 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 3

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Giới thiệu chung về cây lạc

2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây lạc

Cây lạc là cây trồng có giá trị kinh tế cao, xếp thứ 13 trong các cây thựcphẩm trên thế giới (Varnell và mocloud, 1975) [15, 11] Nó không chỉ đượctrồng ở khắp các tỉnh trên nước ta mà còn được trồng ở rất nhiều nơi trên thếgiới Ngày nay, cây lạc được trồng rất phổ biến, phân bố rộng rãi từ 40 vĩ độbắc đến 40 vĩ độ nam [12, 11] Trên thế giới hiện có hơn 100 quốc gia vàvùng lãnh thổ trồng lạc với diện tích khoảng 23 triệu ha Căn cứ các tài liệu

về khảo cổ học, nhiều nhà khoa học đã xác định cây lạc được trồng cách đây

3200 - 3500 năm Cây lạc được ghi vào sử sách từ thế kỷ thứ XVI [9, 7]

Cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ Được trồng ở lưu vực ven sông Amazonthuộc Peru Năm 1877, Skie đã tìm thấy quả lạc trong ngôi mộ thời Ancon( tại thủ đô của Pêru) Ngoài ra, người ta còn thấy lạc được trồng rất sớm ởMexico, ở Braxin, ở bolivia Theo krapovikat ( 1986) qua chuyến đi thu nhập

giống lạc khắp Nam Mỹ đã viết rằng: " có thể chắc chắn là Arachis hypogaea

bắt nguồn từ Bovilia tại các vùng đồi thấp và chân núi của dãy Anđơ " Giảthiết của krapovikat cho tới nay vẫn là giả thiết có cơ sở khoa học hơn cả[17], [11], [8]

Cây lạc là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao nên được trồng ở khắp các châu lục trên thế giới Ở châu Phi, tại vùng phía Tây vào thế kỷ XIV do người

Bồ Đào Nha đưa tới Thời điểm này người Tây Ban Nha đưa lạc từ Mexico đến Philipin, Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á, Ấn Độ có thể từ Srilanca hoặc Malayxia tới Madagatxca Ở châu Âu lạc được đưa vào thế kỷ XVI [8]

Ở châu Á: lạc từ bờ biển Peru theo các đoàn thuyền buôn tới Manila và châu

Á vào cuối thế kỷ XVI

Lịch sử trồng lạc ở Việt Nam hiện nay chưa được xác minh rõ ràng [6, 6]

Sự du nhập của cây lạc vào nước ta có thể từ Indonesia, Trung Quốc, các nước phương Tây từ thế kỷ XVI qua quá trình phát triển mạnh về thương mại

và tôn giáo

Trang 4

2.1.2 Giá trị dinh dưỡng của cây lạc

Sản phẩm chính của cây lạc là hạt lạc, trong hạt lạc có nhiều chất dinhdưỡng như dầu 40,2 – 60,7 %, dầu lạc là một hỗn hợp glixerit bao gồm gần

80 % axit béo không no và 20 % axit béo no Thành phần axit béo trong hạtlạc thay đổi tùy theo giống và điều kiện trồng trọt Các glixerit trong dầu lạcchứa 3 axit béo chính là axit oleic

(43- 65 %), axit linoleic (20 - 37 %) và axit panmitic (14 - 20 %) Ở nhiệt độbình thường, dầu lạc là một chất lỏng màu vàng nhạt, có độ nhớt thấp, cóhương thơm và mùi vị như hạt dẻ [6, 7] Protein 20,0 – 37,2 %, protein hạt lạcchủ yếu do 2 globulin (arachin, conarachin) hợp thành (chiếm 95 %) Trongprotein hạt lạc có 2/3 arachin và 1/3 là conarachin [6, 8], gluxit, vitamin, cácnguyên tố khoáng (đa lượng, trung lượng, vi lượng, siêu vi lượng ) Chính

vì vậy mà hạt lạc cung cấp chất béo và bổ sung protein cho con người Trongprotein của hạt lạc chứa các axit amin quan trọng và cần thiết cho con ngườigồm: các axit olêic, ninoleic, lauric, arginin, lơxin, metonin, serin, triptophan,valin, carbonhydrate Trong thực tế lạc được sử dụng để bổ sung cả về sốlượng và chất lượng các protit của một khẩu phần lấy các hạt cốc làm nền.Hỗn hợp “ hạt cốc – lạc” đã được chứng minh là tốt Các hạt cốc phần nhiềuthiếu lizin lạc lại thiếu metionin, hai loại protit này thường bổ sung cho nhau[9, 111]

Hàm lượng các chất dinh dưỡng của một số các loại hạt được thể hiện ở bảng Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của hạt một số loại cây có dầu

Đơn vị: %

Lạc 40,0 – 60,7 20,0 – 37,2 6,0 – 22,0 1,8 – 4,6Vừng 46,2 – 61,0 17,6 – 27,0 6,7 – 19,6 3,7 – 7,0Đậu Tương 10,0 – 28,0 35,0 – 52,0 28,0 4,6 – 6,0

Hướng Dương 40,0 – 67,0 21,0 – 60,0 2,0 – 6,5 3,2 – 5,4

(Nguồn:http//en.wikipedia.org) [19]

Trang 5

Qua bảng trên có thể thấy rõ ưu thế của hạt lạc trong vai trò cung cấp cácchất dinh dưỡng cần thiết cho con người với sự cân đối dầu, protein, gluxit vàkhoáng Hàm lượng dầu trong hạt lạc từ 40,2 - 60,7 % tương đương với vừng

và hướng dương cao hơn đậu tương Tỷ lệ protein 20,0 - 37,2 % cao sau đậutương, nhưng cao hơn vừng và hướng dương Chất khoáng trong hạt lạc thấphơn so với đậu tương Lạc là một loại thực phẩm có giá trị cao cung cấp cả vềmặt cung cấp năng lượng (calo), cả về mặt cung cấp protein

Theo tài liệu của Ưng Định và Đặng Phú thành phần các chất dinh dưỡngcủa hạt lạc như sau:

Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của hạt lạc

% xenlulo, 25 % gluxit và 6,6 % các loại muối khoáng 14, 15] Thân lá lạc sau

Trang 6

khi thu hoạch có thể làm thức ăn cho trâu bò hoặc có thể dùng làm phân bónbằng cách ủ mục với các loại phân khác hoặc cày vùi luôn xuống ruộng.

2.1.2 Giá trị kinh tế

Trên thị trường thương mại thế giới, lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩumang lại kim ngạch xuất khẩu cao của nhiều nước Ở Xenegan, giá trị lạcchiếm 1/2 thu nhập, chiếm 80 % giá trị xuất khẩu, còn Nigieria lạc chiếm 60

% giá trị xuất khẩu [8]

Ở nước ta, sản lượng lạc sản xuất ra hàng năm phần lớn dành cho việc xuấtkhẩu, có năm đã xuất đến 70 % sản lượng Mấy năm gần đây chúng ta đã xuất

70 – 80 ngàn tấn lạc nhân qua các nước như Pháp, Ý, Đức cho nên lạc đối vớichúng ta cũng là cây đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng [ 14, 21] TheoFAO, xuất khẩu lạc nhân của Việt Nam hiện nay vẫn đang đứng thứ 5 trong

10 nước xuất khẩu lạc lớn nhất thế giới, đóng góp 15,11 % cho nguồn hàngnông sản xuất khẩu Tuy nhiên chất lượng các mặt hàng xuất khẩu lạc vẫnchưa cao và không ổn định nên vẫn chưa đạt yêu cầu nhập khẩu của một sốnước Vì vậy cần nâng cao giá trị chất lượng nông sản phẩm để đạt được kimngạch cao và mở rộng thị trường xuất khẩu Mặt khác, cần đa dạng mặt hàngxuất khẩu, ngoài lạc nhân chúng ta nên xuất khẩu dầu, bánh kẹo, bơ,

Các sản phẩm phụ còn dùng trong chăn nuôi, dùng làm nguyên liệu trongcông nghiệp như làm dầu nhờn xoa máy, trục xe, xà phòng

2.1.3.Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất

Lạc là một loại cây họ đậu, có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất Do nó cókhả năng cố định nitơ đó là một quá trình chuyển hóa nitơ phân tử trong khôngkhí thành đạm cung cấp cho cây và đất trồng thông qua hoạt động sống của vikhuẩn nốt sần cộng sinh trên rễ của lạc Theo tổ chức FAO ước tính thì khảnăng cố định nitơ của vi khuẩn nốt sần và cây lạc cùng một số cây họ đậukhác trên đồng ruộng thể hiện như sau đối với cây lạc là 72 – 124 kg/ha/năm,

đậu tương 60- 168 kg/ha/năm, đậu hà lan 52- 77 kg/ha/năm Trong thân lá lạc

có một lượng các chất khoáng N, P, K không thua kém gì phân chuồng vì thế

nó là một nguồn bổ sung phân bón hữu cơ rất quan trọng trong trồng trọt Thểhiện qua bảng

Trang 7

Bảng 2.3: Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng

So sánh với phân chuồng tính theo chất khô thì tỷ lệ lân và kali trong thân lá

lạc gần gấp 2 lần so với phân chuồng Nên lạc là cây trồng rất lý tưởng trong

công tác cải tạo bồi dưỡng đất, và có vị trí quan trọng trong chế độ luân canh

với nhiều loại cây trồng khác, cũng như việc chống xói mòn, phủ xanh đất

trống đồi trọc [14, 26]

2.2.Tình hình sản xuất lạc

2.2.1 Trên Thế Giới

Trong các loại cây trồng làm thực phẩm cho con người, lạc có vị trí quan

trọng Mặc dù cây lạc đã có từ lâu đời, nhưng tầm quan trọng kinh tế của lạc

chỉ mới được xác định trong khoảng 125 năm trở lại đây [6, 11] Hiện nay, lạc

đứng thứ 2 trong các cây lấy dầu thực vật (về diện tích và sản lượng) sau đậu

tương [15, 41] Theo FAO, tổng diện tích trồng lạc thế giới là 25,210.000 ha

được trồng chủ yếu ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Trong đó, châu Á có diện

tích trồng lạc lớn nhất chiếm 63,4 % diện tích và 71,7 % sản lượng Ở châu

Phi chiếm 31,3 % diện tích và 18,6 % sản lượng, Bắc Trung Mỹ và các nước

còn lại chiếm 3,7 % diện tích và 7,5 % sản lượng

Trước đây, trên thế giới có 75 % diện tích trồng lạc sản xuất theo lối cổ

truyền, kỹ thuật canh tác lạc hậu [6, 13] Cho nên năng suất không cao và

thường không ổn định Theo nhận định của các nhà khoa học, tiềm năng để

năng cao năng suất và sản lượng lạc ở các nước còn rất lớn cần phải khai thác

[2, 1] Hiện nay đa số các nước đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới

vào trong sản xuất vì thế mà năng suất lạc ngày càng tăng cao Ở Ấn Độ,

nước đứng đầu thế giới về diện tích trồng lạc đã thực hiện chương trình phát

triển và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc nhằm giải quyết cơ bản vấn đề

tự túc dầu ăn cho đất nước từ những năm 1980 Kinh nghiệm của Ấn Độ cho

Trang 8

thấy, nếu chỉ sử dụng giống mới mà vẫn áp dụng kỹ thuật canh tác cũ thì năngsuất lạc bình quân chỉ đạt 26 - 30 % Nếu áp dụng kỹ thuật canh tác tiến bộnhưng vẫn dùng giống cũ thì năng suất lạc chỉ tăng 20 - 43 % Nhưng giốngmới kết hợp kỹ thuật canh tác tiến bộ đã tăng năng suất lạc 50 – 63 % trênđồng ruộng nông dân [2] Tuy nhiên, các tiến bộ khoa hoc kỹ thuật áp dụngcòn chưa đồng đều giữa các nước vì thế dẫn đến sự chênh lệch năng suất lạcgiữa các nước

Tình hình sản xuất lạc trên thế giới biểu hiện qua bảng sau

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của một số nước trên thế giới Chỉ tiêu

Năm

Tên nước

Diện tích(triệu ha)

Năng suất(tấn/ha)

Sản lượng(triệu tấn)

2007 2008 2009 2007 2008 2009 2007 2008 2009

Thế giới 23,3

8 25,06 21,26 2,00 2,09 1,62 51,00 53,38 34,40

Ấn Độ 6,70 6,85 6,40 0,98 1,07 0,98 6,60 7,34 6,25Trung Quốc 4,69 4,62 4,20 2,79 3,10 3,40 13,09 14,34 14,30Nigieria 2,23 2,30 1,25 1,72 1,69 1,24 3,83 3,90 1,55Indonesia 0,70 0,64 0,75 2,10 1,22 1,67 1,47 0,77 1,25

Mỹ 0,48 0,61 0,61 3,51 3,82 3,83 1,69 2,33 2,34Việt Nam 0,25 0,26 0,25 1,96 2,09 2,00 0,49 0,52 0,53

( Nguồn: FAO, 2009) [20]

Năng suất lạc của các nước trên thế giới chênh lệch nhau khá lớn và không ổnđịnh qua các năm Nước có năng suất lớn nhất (2009) ở Mỹ là 3,83 tấn/ha,Trung Quốc 3,40 tấn/ha, Việt Nam 2,00 tấn/ha, Nigieria 1,24 tấn/ha, Ấn Độchỉ có 0,98 tấn/ha khá thấp so với diện tích thực tế

Mặc dù, Ấn Độ là nước có diện tích lạc lớn nhất trên thế giới nhưng sảnlượng lại đứng sau Trung Quốc Sản lượng lạc năm 2009 của Trung Quốc là14,30 triệu tấn, Ấn Độ là 6,25 triệu tấn, Mỹ là 2,34 triệu tấn, Nigieria là 1,55triệu tấn, , Việt Nam 0,53 triệu tấn Theo số liệu của FAO thì các nước đangphát triển sản xuất 50 % sản lượng lạc trên thế giới, các nước này có diện tíchtrồng lạc chiếm 55 % tổng diện tích Các nước phát triển diện tích lạc ổn định

Trang 9

hoặc có xu hướng giảm [3] Nhìn chung năng suất và sản lượng lạc ngày càngtăng nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất cũng như việc trao đổicác tiến bộ kỹ thuật giữa các nước

2.2.2.Ở Việt Nam

Ở Việt Nam cây lạc được trồng từ lâu đời và được sử dụng rộng rãi trongđời sống hàng ngày của nhân dân ta Hiện nay, lạc được phân bố chủ yếu ở 4 vùng lớn là: Miền núi và trung du Bắc Bộ, đồng bằng Sông Hồng, khu bốn cũ

và miền Đông Nam Bộ Cả 4 vùng này chiếm đến 3/4 diện tích và sản lượng, còn lại rải rác ở một số vùng Trong những năm gần đây, đảng và nhà nước ta

đã có những chủ trương và chính sách khuyến khích, đầu tư phát triển sản xuất lạc Do đó diện tích lạc trong những năm gần đây đã tăng với tốc độ khá nhanh So với các cây công nghiệp khác, lạc hiện nay chiếm diện tích khá lớn

Về tình hình tiêu thụ lạc, trong thập kỷ 90 Việt Nam là nước đứng thứ tư về xuất khẩu lạc Lượng lạc xuất khẩu trong 5 năm đầu thập kỷ 90 là 127 nghìn tấn, chiếm 8,7 % thị phần, 5 năm cuối thập kỷ 90 tăng lên 173 nghìn tấn, chiếm 11,6 % thị phần Những năm gần đây (2001- 2005), trung bình kim ngạch xuất khẩu lạc của Việt Nam đạt khá cao, trên 50 triệu đôla Mỹ Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam những năm gần đây thể hiện ở bảng sau

Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam

(nghìn ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(nghìn tấn)

Trang 10

( Nguồn: FAO, 2010 ) [20]

Trong vòng 6 năm từ 1985 đến năm 1990 diện tích lạc cả nước biến động

từ 212.700 – 201.400 ha với năng suất bình quân từ 9,5 – 10,6 tạ/ha (1990)[10] Những năm gần đây không mở rộng nhiều (năm 2000 là 244,9 nghìn hađến năm 2009 cũng chỉ có 249,2 nghìn ha) nhưng do áp dụng được các tiến

bộ kỹ thuật nên sản lượng lạc đã tăng lên nhiều từ 355,3 nghìn tấn (năm 2000)tăng lên 525,1 nghìn tấn (năm 2009) Tiềm năng để nâng cao năng suất lạc ởnước ta còn rất lớn nhưng để có thể khai thác triệt để tiềm năng này cần đẩymạnh hơn nữa công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật một cáchrộng rãi trong sản xuất, tạo điều kiện để mọi người dân có thể tiếp thu mộtcách nhanh chóng nhằm góp phần nâng cao năng suất, tăng thu nhập chongười dân

2.2.3 Tình hình sản xuất lạc ở Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, đây là tỉnh có nhiều tiềmnăng để phát triển cây lạc Hiện nay, diện tích trồng lạc toàn tỉnh hàng nămkhoảng 4100 ha và năng suất bình quân đạt 21,2 tạ/ha Trong những năm gầnđây, ở một số vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế, cây lạcđược xem là cây chủ lực có hiệu quả kinh tế cao so với các loại cây khác.Nông dân đã từng bước thay thế các cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp bằngcây lạc Tình hình sản xuất lạc ở Thừa Thiên Huế những năm gần đây thểhiện ở bảng sau

Bảng 2.6: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Thừa Thiên Huế

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 11

Qua bảng số liệu cho thấy diện tích lạc giảm dần, năm 2005 là 4800 ha đếnnăm 2009 chỉ còn 4100 ha, nhưng do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nên năngsuất và sản lượng tăng, về năng suất, từ năm 2005 đến năm 2009 có xu hướngtăng và đạt 21,2 tạ/ha vào năm 2009 tăng 3,6 tạ/ha so với năm 2005 (17,6tạ/ha) Mặc dù diện tích lạc giảm nhưng do năng suất tăng nên sản lượng lạcngày càng tăng Năm 2005, sản lượng lạc đạt 8400 tấn, đến năm 2009 đạt

8700 tấn Mặc dù vậy tiềm năng phát triển cây lạc của vùng vẫn còn rất lớn,cần phải đầu tư, có các chính sách hợp lý để thúc đẩy phát triển cây lạc

2.3.Vai trò của MgSO4 và tình hình sử dụng nó cho cây trồng

2.3.1.Vai trò của MgSO4

Cây lạc tuy có khả năng hút được đạm tự do nhờ vi khẩn nốt sần ở rễ nhưng chỉ sau khi cây có 3 - 4 lá thật trở lên mới hình thành và phát triển nốt sần, ở cây cũng chỉ cung cấp được khoảng 50 – 60 % nhu cầu đạm [13] Do

đó, cần phải cung cấp đầy đủ phân bón cho lạc ngay từ đầu, để lạc sinh trưởngphát triển tốt mang lại năng suất cao Mg là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng không thể thiếu đối với cây lạc,vì Mg là thành phần cấu tạo của diệp lục, có vai trò quan trọng trong quang hợp Là hoạt chất của hệ enzim gắn liền với sự chuyển hoá hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic, hình thành clorophyl, thúc đẩy hấp thụ và vận chuyển lân của cây Ngoài ra, Mg còn hoạt động như một chất xúc tác trong các phản ứng khử oxy hóa trong các mô thực vật Nó cũng

hỗ trợ hoạt động của sắt (Fe) và giúp các thực vật chống lại tác động có hại của quá trình thông khí kém Bằng cách sử dụng một tác động tích cực dựa vào các màng tế bào và các màng thấm, Mg có thể làm tăng khả năng chống lại khô hạn và bệnh tật của cây Nếu thiếu Mg cây lạc đặc biệt mẫn cảm với bệnh đốm nâu [10] Lá có màu vàng, cây còi cọc, nếu thiếu nghiêm trọng toàn

bộ cây mất màu xanh và chết [6]

2.3.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng MgSO4 cho cây trồng

- Cho cây trồng

Mg là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho thực vật, có thể làm tăng khảnăng chống hạn và bệnh tật cho nhiều loại cây trồng khác nhau Giúp cây sinhtrưởng phát triển tốt, tăng năng suất chất lượng nông sản Như đối với cây cà

Trang 12

phê Mg đóng vai trò khá quan trọng giúp cây tăng khả năng chống hạn, sinhtrưởng phát triển tốt trong mùa khô [21] Ở thực vật Mg được hấp thụ dướidạng ion Mg2+ [1], được dùng để bón cho những cây có nhu cầu Mg cao nhưthuốc lá, cây ăn trái bón cho các loại đất nghèo Mg như đất xám, đấtcát Có thể dùng để bón lót cho cây hoặc hoà ra nước để phun qua lá [7] Mớiđây người ta sử dụng phân bón MgSO4 cho một số loại cây trồng đã mang lạihiệu quả cao như đối với cây chè, các cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa Học

Kỹ Thuật nông lâm nghiệp miền núi phía bắc đã thí nghiệm bón bổ sungMgSO4 ở các mức 25kg/ha, 50kg/ha, 75kg/ha trên nương chè giống shan chấttiền tuổi 5 – 6 tại phú thọ Kết quả cho thấy khi bón bổ sung 50 kg MgSO4 /hacho năng suất cao hơn đối chứng là 13,99 tạ/ha, làm tăng sản lượng chè vànâng cao hiệu quả kinh tế [18] Vì vậy hiện nay bón phân Mg đã trở thànhcách làm tiêu chuẩn đang được nhiều nhân dân quan tâm

- Cho cây lạc

Mg là nguyên tố đa lượng là nguyên tố cây trồng có nhu cầu bón khôngnhiều, song trong hoạt động sống của cây nguyên tố này có vai trò xác địnhkhông thể thay thế bằng nguyên tố khác

Mg chỉ có trong cây ở mức 10-4 – 10-5 song chúng lại có trong thành phầnnhiều loại men và kích thích hoạt động của các hệ thống men trong cây [22].Các quá trình quang hợp, hút khoáng, chuyển hóa và vận chuyển các hợp chấthữu cơ trong cây đều có sự đóng góp của các nguyên tố trung lượng [7] Lạc

có nhu cầu về dinh dưỡng các loại cao Collino và moris (1941) cho biết mộttấn quả và hai tấn rơm lạc của một vụ thu hoạch lấy đi 14 kg MgO [12].Ngoài các yếu tố dinh dưỡng đa lượng chính, các nguyên tố trung lượng như

Mg, Ca, S…cũng có ảnh hưởng tích cực đến nốt sần và hoạt động cố địnhnitơ cộng sinh Thiếu các yếu tố dinh dưỡng này quá trình cố định nitơ cộngsinh không hoạt động, vì vậy để đảm bảo hiệu quả cố định nitơ và năng suấtlạc cần thiết phải cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho cây [2] Khidùng 30 kg/ha MgSO4 đã tăng năng suất lạc tới 25 % tương đương với hiệulực của canxi và kali [2]

Trang 13

- Nét mới của đề tài

Trong lĩnh vực sử dụng phân bón nông dân đã biết sử dụng phân bón đúng cây, đúng đất và trong một số trường hợp đã xem xét đến yêu cầu phân bón của từng giống Tuy nhiên cũng như hầu hết nông dân trong cả nước, nông dân ở Huế cũng chỉ chú trọng đến các yếu tố đa lượng như N,P,K mà hầu như chưa chú ý đến các yếu tố trung lượng như Mg,…do đó phần nào cònhạn chế tới năng suất cây trồng và chưa cải thiện được độ phì đất canh tác Vì vậy việc bón Mg cho lạc là cần thiết và có ý nghĩa thực tế Góp phần tăng năng suất và thu nhập cho người dân

Trang 14

- Phần 3

VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

- Giống lạc L14 Có nguồn gốc từ Trung Quốc, cho năng suất cao và thời gian chín trung bình Là giống tiến bộ kỹ thuật, do trung tâm đậu đỗ, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chọn lọc từ dòng QĐ5, có tiềm năng năng suất cao, từ 38 – 40 tạ/ha, tỷ lệ nhân 73 – 75% Là một trong mười giống sản xuất diện tích lớn ở nước ta Giống này đang được sản xuất phổ biến ở Thừa Thiên Huế

- MgSO4 loại chứa 99,5% hoạt chất, xuất xứ từ Trung Quốc

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4 đến các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển và năng suất lạctrong vụ Xuân 2011 tại trung tâm nghiên cứu cây trồng

Tứ Hạ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng MgSO4 cho lạc ở Thừa Thiên Huế 3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp bố trí ruộng thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiênRCB với 7 công thức, 3 lần nhắc lại

Trang 15

* Sơ đồ bố trí ruộng thí nghiệm

Trong đó: I, II, III, IV, V, VI, VII là các công thức

a, b, c là số lần nhắc lại

* Diện tích thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí với diện tích như sau:

- Tổng số ô thí nghiệm 21 ô (mỗi ô là một công thức)

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 7,5m2

- Diện tích thí nghiệm: 7,5 m2 x 21 ô = 157,5 m2

- Diện tích bảo vệ: 22,5 m2

- Tổng diện tích thí nghiệm: 180 m2

3.3.2 Định kỳ lấy mẫu: Tiến hành lấy mẫu để theo dõi ở các thời kỳ

- Thời kỳ 1: bắt đầu phân cành cấp 1

- Thời kỳ 2: bắt đầu ra hoa

- Thời kỳ 3: tắt hoa 5-7 ngày

- Thời kỳ 4: thu hoạch Tại mỗi thời kỳ, trên mỗi ô thí nghiệm nhổ ngẫu nhiên 5 cây theo phươngpháp nhổ tuần tự để theo dõi các chỉ tiêu

3.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu

* Chiều cao thân chính (cm/cây): Dùng thước đo mm, đặt thước ngang đốt

lá mầm và vuốt cây lên đo đỉnh sinh trưởng, đọc và ghi kết quả (cm) mỗicông thức có 3 lần nhắc lại, mỗi ô nhắc lại đo 5 cây, tính số trung bình

Bảovệ

Bảo vệ

Bảovệ

IVa VIa IIa VIIa IIIa Va Ia

Vb IIb VIb IVb VIIb Ib IIIb IVc VC Ic IIc IIIc VIc VIIc

Bảo vệ

Trang 16

- Số cành (cành) và chiều dài cành (cm/cành): đếm số cành cấp 1, cấp

2, đo chiều dài cành cấp 1, cấp 2 như đo chiều cao cây vào thời kỳ thu hoạch

- Số lá xanh trên thân chính (lá/cây): Đếm số lá xanh trên thân chính tạicác thời kỳ theo dõi của các cây đã đo chiều cao Mỗi lần nhắc lại đếm ngẫunhiên 5 cây rồi tính trung bình

- Số lượng nốt sần (nốt/cây) và khối lượng nốt sần (g/cây): Tại mỗi thời

kỳ theo dõi, mỗi lần nhắc lại nhổ 3 cây theo phương pháp nhổ tuần tự, nhổthật cẩn thận để hạn chế sự đứt rễ Đếm số lượng nốt sần hữu hiệu, đem sấy

và cân rồi tính giá trị trung bình ở các thời kỳ ra hoa, sau ra hoa

- Diện tích lá (dm2lá/cây) và chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất): Sử dụngphương pháp khoan lá và cân nhanh trực tiếp

* Cách xác định diện tích lá (LA): Cắt toàn bộ lá cây cần đo diện tích láđược p1 (g) Dùng khoan lá có bán kính xác định (r), khoan 20 miếng lá rồiđem cân được p2 (g)

Công thức tính: LAI = số cây/m2 đất trồng x diện tích lá/cây

- Khối lượng diện tích lá (g/dm2lá): Ngắt 20 lá bánh tẻ cần xác định khốilượng diện tích lá, xếp chồng lên nhau, khoan lá thật ngọt Đem các miếng lákhoan sấy khô đến khối lượng không đổi cân trên cân phân tích được p (g)

Các miếng lá khoan có diện tích: 20 x 3,14 x r2 (dm2)

p Khối lượng diện tích lá: SLW = (g/dm2 lá)

Trang 17

một ít bông thủy tinh và một ít Aceton rồi nghiền cho thật nhỏ Thêm Acetonkhuấy đều rồi lọc qua phễu lọc chân không Cho tiếp Aceton vào bã, nghiềnrồi lọc lại cho đến khi dịch lọc hết màu xanh Định mức tổng lượng dịch chiếtlên 20 ml.

* Định lượng sắc tố ở dạng hỗn hợp: Đem dịch sắc tố quan sát được somàu trên máy để xác định mật độ quang (OD) ở các bước sóng λ = 662 nm,

λ = 644nm Áp dụng phương pháp tính của wettstein (1957) để xác địnhlượng sắc tố có trong 1l dịch chiết (mg sắc tố/ l dung)

* Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

-Tổng số quả trên cây (quả/cây) và Số quả chắc trên cây (quả chắc/cây): Sử dụng phương pháp đếm và ghi lại số liệu

- Khối lượng quả chắc trên cây (g/cây): Mỗi ô thí nghiệm lấy 5 cây cânkhối lượng quả chắc sau đó chia trung bình

- Khối lượng 100 quả khô (g): Lấy 3 mẫu quả, mỗi mẫu 100 quả ngẫunhiên cân lần lượt cả 3 mẫu Khối lượng 100 quả được tính bằng trung bìnhcủa 3 mẫu

Ngày đăng: 29/07/2014, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Cẩm nang sử dụng phân bón, trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật hoá chất, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sử dụng phân bón
[4]. Đường Hồng Dật, Sổ tay hướng dẫn sử dụng phân bón, NXB Nông Nghiệp, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn sử dụng phân bón
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
[5]. Ưng Định, Đặng Phú, Thâm canh lạc, NXB Nông Nghiệp Hà Nội,1977 [6]. Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, Giáo trình cây lạc, NXB Nông Nghiệp [1979] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm canh lạc", NXB Nông Nghiệp Hà Nội,1977 [6]. Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, "Giáo trình cây lạc
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
[7] Trần Thị Thu Hà, Khoa học phân bón, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học phân bón
[8]. Nguyễn Minh Hiếu (chủ biên), Giáo trình cây công nghiệp, NXB Nông Nghiệp Hà Nội-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội-2003
[9].Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lạc, NXB lao động, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lạc
Nhà XB: NXB lao động
[12]. Reddy, cây lạc (đậu phộng) biên dịch: Vũ Công Hậu, Nguyễn Thế Dân, Trần Thị Dung, NXB Nông Nghiệp TPHCM, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cây lạc (đậu phộng)
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp TPHCM
[14]. Phạm Văn Thiều, Kỹ thuật trồng lạc năng suất và hiệu quả, NXB Nông Nghiệp, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng lạc năng suất và hiệu quả
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
[15]. Nguyễn Thị Thanh Nhàn (chủ biên), Giáo trình cây công nghiệp, NXB Nông Nghiệp Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
[17]. Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó, kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lạc, NXB Lao Động Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lạc
Nhà XB: NXB Lao Động Hà Nội
[13]. Thâm canh lạc xuân đạt trên 20 tạ/ha, NXB Nông Nghiệp, 1986 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.3: Số cành và chiều dài cành của các công thức Chỉ tiêu - Ảnh hưởng của MgSO4  đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc trong vụ xuân 2011 tại trung tâm nghiên cứu cây trồng tứ hạ, hương trà, thừa thiên huế
Bảng 4.3 Số cành và chiều dài cành của các công thức Chỉ tiêu (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w