Sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động cần thiết, kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư tron
Trang 14giờ 4giờ
Thời gian lao động cần thiết Thời gian lao động thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là: m’ = 100% = 100%
Sản xuất m tuyệt đối bằng cách kéo dài thời gian lao động thành 10 giờ trong khi thời gian lao động cần thiết là 6 giờ
-+ -
Thời gian lao động cần thiết Thời gian lao động thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là: m’ = 100% = 150%
Trang 26
Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động Nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định, còn giới hạn dưới của ngày lao động là thời gian lao động cần thiết
Như vậy về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động cần thiết nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất
và tinh thần của người lao động Độ dài cụ thể của ngày lao động
do cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản trên cơ sở tương quan lực lượng quyết định Do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nên chế độ ngày làm 8 giờ đã được thực hiện ở các nước tư bản chủ nghĩa
2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động cần thiết, kéo dài tương ứng thời gian lao
động thặng dư trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi
Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ chia thành:
Trang 3- Thời gian lao động thặng dư là 4 giờ
4
Tỷ suất giá trị thặng dư là m’= - = 100%
Sản xuất giá trị thặng dư bằng cách rút ngắn thời gian lao
động cần thiết còn 2 giờ Thời gian lao động thặng dư là 6 giờ
m’ = 100% = 300%
Bằng cách nào để rút ngắn thời gian lao động cần thiết, biết rằng thời gian lao động cần thiết bằng giá trị tạo ra sức lao động, bằng giá trị tư liệu sinh hoạt Muốn rút ngắn giá trị lao động cần thiết hạ thấp giá trị sức lao động, hạ thấp giá trị tư liệu sinh hoạt bằng cách tăng năng suất lao động trong ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt
Trang 4- Khi đã có nền sản xuất công nghiệp thì có sự kết hợp cả hai phương pháp trên
ý nghĩa của việc nghiên cứu:
- Về mặt lý luận thì khẳng định sự tiến bộ của lịch sử, sự phát triển lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản Do lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động cao
- Vạch rõ thực chất sự bóc lột cho dù giữ nguyên hay rút ngắn ngày lao động
- ý nghĩa thực tiễn, trong điều kiện nước ta để có vốn, tích luỹ để công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì sử dụng cả biện pháp tăng cường độ, kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động Trong đó tăng năng suất lao động là biện pháp cơ bản lâu dài vì
nó không vấp phải giới hạn
Giá trị thặng dư siêu ngạch:
Là giá trị thặng dư thu được ngoài mức trung bình do tăng năng suất lao động cá biệt, hạ thấp giá trị cá biệt so với giá trị xã hội
Trang 5Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối có một cơ sở chunhg, đó là đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao
động nên giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là biến tướng cuả giá trị thặng dư tương đối Tuy vậy giữa chúng vẫn có sự khác nhau Đó
là giá trị thặng dư tương đối dựa trên năng suất lao động xã hội còn giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên năng suất lao động cá biệt Giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ được thay thế bằng giá trị thặng dư tương đối khi trình độ kỹ thuật mới được áp dụng cá biệt trở thành được áp dụng phổ biến Vì vậy giá trị thặng dư siêu ngạch mang tính chất tạm thời Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
Sự khác nhau giữa chúng còn thể hiện ở chỗ: giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu được Nó biểu hiện sự tiến bộ kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản được áp dụng rộng rãi Xét về mặt đó thì nó thể hiện quan hệ của giai cấp công nhân
và toàn bộ giai cấp các nhà tư bản Giá trịt thặng dư siêu ngạch là mục đích trực tiếp cạnh tranh mà mỗi nhà tư bản cố gắng đạt được trong cạnh tranh với các nhà tư bản khác Xét về mặt này, giá trị thặng dư siêu ngạch không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa công nhân làm thuê và nhà tư bản mà còn thể hiện mối quan hệ giữa các nhà tư bản với nhau Như vậy giá trị thặng dư siêu ngạch là
động lực trực tiếp mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năng suất lao động, làm giảm giá trị của hàng hoá
Trang 6IV Quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng tồn tại một quy luật phản ánh quan hệ bản chất nhất của phương thức sản xuất đó và
đóng vai trò chủ đạo trong hệthống các quy luật kinh tế gọi là quy luật kinh tế cơ bản Theo Mác, sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Mục đích trực tiếp của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải
là giá trị sử dụng mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, nhân giá trị lên Theo đuổi giá trị thặng dư bằng bất cứ thủ đoạn nào là mục
đích, động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như toàn bộ xã hội tư sản
Để sản xuất giá trị thặng dư tối đa, các nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhan làm thuê không phải bằng cưỡng bức siêu kinh tế mà bằng cưỡng bức kinh tế dựa trên cơ sở mở rộng sản xuất, phát triển kỹ thuật để tăng năng suất lao động, tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động/
Như vậy, sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản bằng cách tăng số lượng lao động làm thuê và tăng mức bóc lột là
Trang 7Quy luật giá trị thặng dư tác động quyết định đến mọi mặt của xã hội tư bản Nó quyết định sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thay thế nó bằng xã hội cao hơn, là quy luật luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa