Luận văn Tổ chức công tác hạch toán kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ ở nhà in Bộ Lao động Thương binh và xã hội Với sự đổi mới cơ chế quản lý của Đảng và Nhà nước ta, những năm gần đây nền kinh tế đã có những bước chuyển mình đáng kể, trong đó có sự đóng góp rất lớn của các doanh nghiệp
Trang 1MỤC LỤC Trang
CHUONG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN KẾ TOÁN THÀNH
PHẨM, TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUÁ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I- ý NGHĨA CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN THÀNH PHẨM VÀ TIÊU THỤ THÀNH
1-Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm
2- Quá trình tiêu thụ và yêu cầu quản lý
3- Vai trò và yêu cầu của kế toán trong việc hạch toán và quản lý thành phẩm, tiêu thụ
1-Tổ chức công tác kế toán thành phẩm trong doanh nghiệp sản xuất - 4
2 - Tổ chức công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất 11 CHƯƠNG Il: THUC TE CONG TAC KE TOAN THANH PHAM, TIÊU THU THANH PHAM vA XAC DINH KET QuA HOAT DONG SAN XUAT KINH DOANH O NHA IN BO
LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI -2- 5° 222 s2 s22 ESsezszevssszersze
I- MOT SO DAC DIEM CHUNG VE NHA IN BO LAO DONG THUONG BINH VA XÃ HỘI
1 Quá trình hình thành và phát triỂn < «se sex sexserseeserse
2-Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý của nhà in
3- Đặc điểm công tác kế toán của nhà in -
II - THUC TE CONG TAC KE TOAN THANH PHAM, TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUA HOAT DONG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở NHÀ IN BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI
2 - Kế toán tiêu thụ thành phẩm \ và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh .33 CHƯƠNG Ii: MOT SỐ Ý KIẾN, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN THÀNH PHẨM, TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐINH KẾT QUÁ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở NHÀ IN BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
I- MOT SỐ Ý KIẾN, NHẬN XÉT VỀ KẾ TOÁN THÀNH PHẨM, TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QuA HOAT DONG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở NHÀ IN wee ee 42
1 - Nhận xét chung
II- MOT SO Y KIEN, DE XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN THÀNH PHẨM,
TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUA HOAT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở
1 -Vé bộ máy kế toán và sự phân công công việc trong bộ máy kế toán của nhà in
2 - Về chứng từ kế toán
3 - Thực tế công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm :
4 - Về hạch toán chiết khấu cho khách hàng *v S999 se
5 - Về hạch toán thuế giá trị gia tăng của thành phẩm được tiêu thụ
6 - Về hình thức sổ kế toán s- << << « «<< S4 95 991945595 99ø
Trang 2
Ludu van tét aghiép Lé thi dug Thug
LOI NOI DAU
Với sự đổi mới cơ chế quản lý của Đảng và Nhà nước ta, những năm gần
đây nên kinh tế đã có những bước chuyển mình đáng kể, trong đó có sự đóng góp rất lớn của các doanh nghiệp Nhưng để thích ứng kịp thời và hoà mình thật
sự với một cơ chế quản lý kinh tế mới đòi hỏi các doanh nghiệp nhất là khối các doanh nghiệp nhà nước phải trở thành các đơn vị sản xuất kinh doanh hạch toán độc lập, trong điều kiện đó mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được phải chủ động sản xuất kinh doanh có hiệu quả chiến thắng trong cạnh tranh, khẳng định được chất lượng sản phẩm và chỗ đứng của mình trên thị trường, nhất
là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp đều có sự
bình đẳng trong sản xuất kinh doanh nên sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay
gat
Các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm càng nhiều, càng vượt kế hoạch càng tốt song điều khó khăn hơn cả là làm sao để sản xuất phù hợp với tiêu thụ,
vì có tiêu thụ được doanh nghiệp mới có thể bù đắp chi phí bỏ ra, thu hồi được
vốn để có điều kiện tiếp tục quá trình tái sản xuất, mở rộng sản xuất, từ đó tăng vòng quay của vốn lưu động
Trong nền kinh tế thị trường tiêu thụ thành phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng không chỉ với các doanh nghiệp sản xuất mà với cả toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì thông qua tiêu thụ sẽ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã hội, giữ vững quan hệ cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, và cũng là nguồn thu quan trọng nhằm tích luỹ vào ngân sách Nhà nước
Nhận thức được tầm quan trọng trên cùng với quá trình tìm hiểu thực tế ở
nhà in Bộ Lao động Thương binh và xã hội, với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, cũng như cán bộ, nhân viên nhà in, tôi chọn đề tài : “ Tổ chức công tác hạch toán kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ ở nhà in Bộ Lao động Thương binh
và xã hội để nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp”
Nội dung chuyên đề ngoài lời nói đầu và kết luận gôm có:
Chương T : Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp sản xuất
Chương II : Thực tế công tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và
xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhà in Bộ Lao động Thương
binh và xã hội
Chương III : Một số ý kiến để xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả hoạt động kinh doanh ở nhà in Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Trang 3
Ludu van tét aghiép Lé thi dug Thug
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN KẾ
TOÁN THÀNH PHẨM, TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUÁ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT
I - Ý nghĩa của việc tổ chức công tác kế toán thành phẩm và tiêu
thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
1-Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm
Thành phẩm là sản phẩm đã được chế tạo xong ở giai đoạn chế biến cuối
cùng của qui trình công nghệ trong doanh nghiệp, được kiểm nghiệm đủ tiêu
chuẩn kỹ thuật qui định và đã nhập kho
Trong điều kiện hiện nay khi mà sản xuất phải gắn với thị trường thì chất
lượng sản phẩm càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết đối với mỗi doanh nghiệp
Thành phẩm sản xuất ra với chất lượng tốt, phù hợp với yêu cầu của thị trường đã trở thành vấn đề quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Việc duy trì ổn định
và không ngừng phát triển sản xuất của doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được
khi chất lượng sản phẩm sản xuất ra ngày càng tốt hơn, phong phú hơn và được thị trường chấp nhận Sản phẩm của các xí nghiệp công nghiệp sản xuất ra chủ
yếu là thành phẩm, ngoài ra có thể có bán thành phẩm Sản phẩm hàng hoá do
doanh nghiệp làm ra phải được tiêu thụ kịp thời cho nhu cầu của xã hội Vì vậy thành phẩm cần được theo dõi chặt chế tình hình nhập xuất tồn kho, theo dõi chi
tiết theo từng kho, từng nhóm và từng loại thành phẩm để có những thông tin
chính xác về tình hình biến động thành phẩm, từ đó có những quyết định đúng
đắn cho sản xuất và tiêu thụ
2- Quá trình tiêu thụ và yêu cầu quản lý
Tiêu thụ là khâu quan trọng trong qui trình tái sản xuất, là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn ở doanh nghiệp Tiêu thụ bao gồm: tiêu thụ ra
bên ngoài - là việc bán thành phẩm cho các đơn vị khác, hoặc các tổ chức cá
nhân trong và ngoài doanh nghiệp, tiêu thụ nội bộ là việc cung cấp giữa các đơn
vị nội bộ trong cùng một tổng công ty hay cùng một tập đoàn
Quá trình tiêu thụ bắt đầu từ khi doanh nghiệp xuất hàng giao cho khách
hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đầy đủ tiền hàng Tuy nhiên được
Trang 4
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
xác định là tiêu thụ khi khách hàng chấp nhận trả tiền Có thể phân chia các
trường hợp xuất hàng được coi là tiêu thụ như sau:
- Giao hàng cho khách và thu hồi tiền ngay (cả tiền ứng trước của họ )
- Giao hàng cho khách chưa thu tiên nhưng người mua đã chấp nhận thanh
toán
Do việc áp dụng các phương thức thanh toán khác nhau nên việc giao hàng
và thu tiền có thể có những khoảng cách nhất định về thời gian và không gian Trong quá trình thanh toán cần phân biệt hai khái niệm là doanh thu bán hàng và
Do vậy nếu xét về mặt lượng tại một thời điểm thì doanh thu bán hàng và tiền
thu bán hàng có thể không bằng nhau nhưng kết thúc một vòng luân chuyển vốn lưu động thành phẩm thì chúng bằng nhau Sự phân biệt này giúp doanh nghiệp
xác định chính xác số thuế phải nộp cho Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường tiêu thụ thành phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với doanh nghiệp sản xuất cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Thông qua tiêu thụ sẽ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã hội, giữ vững quan
hệ cân đối giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa tiền và hàng đối với doanh nghiệp, qua tiêu thụ sẽ thu hồi được vốn, tiếp tục quá trình tái sản xuất, từ đó tăng vòng quay của vốn lưu động
Xuất phát từ tầm quan trọng trên các doanh nghiệp cần thực hiện tốt các yêu cầu quản lý đặt ra là: Quản lý chặt chẽ khối lượng sản phẩm tiêu thụ, giá thành,
giá bán, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán, đồng thời thực hiện nghĩa
vụ với Nhà nước kịp thời, đầy đủ Để đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất, sử dụng vốn có hiệu quả, công tác tiêu thụ cần biết có từng khoản thu nhập nào, nguyên nhân tăng giảm từng khoản, quản lý chi phí bán hàng chặt chẽ, tổ chức hạch toán thành phẩm kế hoạch, hợp lý, như vậy mới hoàn thành tốt khâu
Trang 5Ludu van tét aghiép Lé thi dug Thug
- Theo dõi và giám đốc chặt chẽ tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ, tập hợp
và phi chép đầy đủ các khoản chi phí bán hàng, thu nhập bán hàng, tình hình
thanh toán với khách hàng, thanh toán với Nhà nước và xác định kết quả tiêu thụ,
cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan Đồng thời định kỳ tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động quản lý và tiêu thụ thành
phẩm
Thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quản
lý chặt chẽ thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp Song toàn bộ vai trò và nhiệm vụ nêu trên của kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm chỉ
thực sự có hiệu quả khi cán bộ kế toán nắm vững nội dung của việc tổ chức công tác kế toán
II - Nội dung tổ chức công tác kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm
1-Tổ chức công tác kế toán thành phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
1.1-Phân loại và đánh giá thành phẩm
Để phục vụ cho mục đích quản lý và hạch toán thành phẩm ở các doanh nghiệp thường được phân loại theo chủng loại , nhóm, thứ hạng
Tuỳ theo đặc điểm riêng của thành phẩm mà các doanh nghiệp có thể phân loại thành phẩm theo các tiêu thức như : công dụng , phẩm cấp, kích cỡ
Thành phẩm là một bộ phận quan trọng của nhóm hàng tồn kho Hàng tồn kho là một phần quan trọng trong tài sản lưu động của nhiều doanh nghiệp Do vậy đánh giá và trình bày hàng tồn kho có một ảnh hưởng quan trọng trong việc xác định và báo cáo tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp
Trang 6
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
Vì vậy kế toán không thể sử dụng một tài khoản để phản ánh suốt quá trình này
mà phải sử dụng nhiều tài khoản để phản ánh sự vận động của thành phẩm tại từng thời điểm theo giá thực tế tại các thời điểm đó ( TK 155, TK 632 )
Giá thực tế của thành phẩm nhập vào được xác định phù hợp theo từng nguồn :
Thành phẩm do doanh nghiệp tự sản xuất chế tạo ra được đánh giá theo giá thành
công xưởng (giá thành sản xuất thực tế ) bao gồm: chi phi nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, và chi phí sản xuất chung
Thành phẩm thuê ngoài gia công chế biến được đánh giá theo giá thực tế gia
công bao gồm : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (đem gia công), chỉ phí thuê ngoài
gia công và chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình gia công
Thành phẩm nhập vào từ các nguồn khác nhau như mua bên ngoài cũng được
đánh giá theo trị giá mua giống như các loại vật tư gồm: giá mua và chi phí thu mua
Vì thành phẩm nhập kho có thể theo những giá thực khác nhau ở từng thời điểm
trong kỳ hạch toán nên khi tính toán và phản ánh giá thực tế của thành phẩm xuất
kho có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
- Tính theo đơn giá thực tế từng loại thành phẩm, theo từng lần nhập (giá đích danh)
- Tính theo đơn giá bình quân kỳ trước
-_ Tính theo đơn giá bình quân gia quyên
- Tính theo đơn giá nhập trước - xuất trước
Tính theo đơn giá nhập sau xuất trước
Tính theo đơn giá hạch toán
Việc lựa chọn các phương pháp trên có ảnh hưởng trực tiếp đến các báo cáo tài chính nên nó phải tuân theo nguyên tắc công khai toàn bộ của kế toán Việc lựa chọn phương pháp nào cần căn cứ vào tình hình thực tế, đặc điểm hoạt động sản xuất , khả
Trang 7
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
năng trình độ của kế toán , các công cụ sử dụng để thu thập thông tin cũng như yêu cầu quản lý cuả doanh nghiệp
+ Nguyên tắc nhất quán :
Việc lựa chọn phương pháp đánh giá thành phẩm phải tuân theo nguyên tắc nhất
quán Điều đó có nghĩa nguyên tắc này đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng
phương pháp đánh giá thành phẩm giống nhau từ kỳ này sang kỳ khác, có như vậy
các báo cáo tài chính của các kỳ tiếp nhau mới so sánh được Mục đích của doanh
nghiệp là làm sao chọn được phương pháp nào có thể lập được báo cáo tài chính thuận lợi nhất, tuy nhiên nếu điều này cho phép các nhà phân tích tài chính sẽ khó
mà so sánh báo cáo của doanh nghiệp qua các năm Nếu lãi tăng lên người xem báo
cáo sẽ không xác định rõ được sự tăng đó có phải từ hoạt động có hiệu quả hay từ việc thay đổi phương pháp kế toán Nguyên tắc nhất quán sẽ giúp cho điểu này không xảy ra Tuy vậy không có nghĩa là doanh nghiệp không bao giờ có thể thay
đổi phương pháp kế toán Nếu có sự thay đổi được chấp nhận như là một sự cải tiến
trong quá trình lập báo cáo tài chính thì có thể được thực hiện nhưng bản chất của sự
thay đổi , ảnh hưởng của sự thay đổi đến lãi ròng , tất cả phải được công khai trong phần ghi chú của báo cáo tài chính
+ Nguyên tắc thận trọng
Việc đánh giá thành phẩm phải tuân theo nguyên tắc thận trọng Nguyên tắc này
yêu cầu khi giá thị trường xuống thấp hơn giá vốn thì kế toán ghi chép báo cáo theo giá thị trường nhưng khi giá thị trường lên cao thì kế toán vẫn ghi theo giá vốn
Nguyên tắc này đòi hỏi thành phẩm tồn kho không bao giờ được đánh giá cao hơn
giá thực tế có thể thực hiện được và thấp hơn giá trị thuần túy thực hiện trừ đi số lãi
Mọi nghiệp vụ biến động của thành phẩm đều được phản ánh ghi chép vào
chứng từ ban đầu phù hợp và đúng nội dung qui định
Các chứng từ được sử dụng trong kế toán bao gồm :
- Phiếu nhập kho thành phẩm : do bộ phận sản xuất lập
- Phiếu xuất kho thành phẩm : do phòng cung tiêu lập
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ : -
- Hoá đơn kiêm phiếu xuat kho : -
- Thẻ kho
Trang 8
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
-Và các chứng từ liên quan khác ( biên bản kiểm kê, phiếu tái nhập )
Kế toán thành phẩm sử dụng sổ , thẻ kế toán chỉ tiết như:
-Sổ thành phẩm
-Sổ tổng hợp nhập - xuất - tồn thành phẩm
- Báo cáo tình hình nhập - xuất kho thành phẩm
- Các bảng kê và các chứng từ có liên quan khác
+Thủ tục nhập , xuất kho thành phẩm diễn ra như sau:
Khi sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối cùng của qui trình công nghệ được bộ
phận KCS kiểm nghiệm, nếu đủ tiêu chuẩn kỹ thuật qui định thì phân xưởng sẽ viết
phiếu nhập kho và cùng thủ kho tiến hành nhập kho thành phẩm Thủ kho căn cứ vào
phiếu nhập kho để đối chiếu với số lượng thành phẩm thực nhập để phản ánh váo thẻ kho
Khi nhận được hoá đơn kiêm phiếu xuất kho kế toán kiểm tra tính hợp lý, hợp
pháp của chứng từ và duyệt thanh toán Khi xuất kho thành phẩm thủ kho cũng kiểm
tra chứng từ làm căn cứ xuất hàng và ghi thẻ kho
1.3- Hạch toán chỉ tiết thành phẩm
Hạch toán chi tiết thành phẩm phải được thực hiện theo từng kho , từng loại và
từng nhóm thành phẩm Phương thức hạch toán thành phẩm được áp dụng phổ biến nhất hiện nay là phương pháp sổ số dư và phương pháp thẻ song song ( ngoài ra còn
có phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển )
Phương pháp hạch toán chỉ tiết thành phẩm theo phương pháp nay khá đơn giản
và được áp dụng phổ biến Theo phương pháp thẻ song song để hạch toán nghiệp vụ
nhập, xuất, tồn kho thành phẩm ở kho thủ kho ghi chép, phản ánh về mặt số lượng tình hình nhập, xuất, tồn kho lên thẻ kho Thẻ kho do kế toán lập theo mẫu qui định
thống nhất (mẫu 06 VT ) cho từng danh điểm, từng kho , từng loại thành phẩm
Hàng ngày hoặc định kỳ 3-5 ngày một lần sau khi ghi thẻ kho thủ kho phải
chuyển toàn bộ chứng từ nhập, xuất, tồn kho về phòng kế toán
Tại phòng kế toán phải mở sổ kế toán chi tiết thành phẩm cho từng kho, từng loại
thành phẩm tương ứng với thẻ kho mở ở kho Khi nhận được các chứng từ do thủ kho
chuyển lên kế toán thành phẩm kiểm tra, đối chiếu với các chứng từ liên quan, căn
cứ vào đó tính ra thành tiền và phản ánh vào sổ kế toán chỉ tiết thành phẩm cả về mặt
số lượng và giá trị Cuối tháng sau khi kế toán tiến hành cộng sổ tính ra tổng số
nhập, xuất, tồn kho của từng loại, nhóm thành phẩm và đối chiếu số tồn tên sổ với số
tồn kho ghi trên thẻ kho Để thực hiện việc kiểm tra đối chiếu giữa kế toán chỉ tiết và tổng hợp sau khi đối chiếu với thẻ kho của thủ kho, kế toán phải căn cứ vào sổ kế
Trang 9
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
toán chỉ tiết thành phẩm lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho thành phẩm Số liệu
của bảng này được đối chiếu với số liệu của kế toán tổng hợp phản ánh trên bảng
tính giá thành phẩm
- Phương pháp sổ số dư
Đặc điểm nổi bật của phương pháp nàylà kết hợp chặt chẽ việc hạch toán nghiệp
vụ của thủ kho với việc ghi chép của phòng kế toán và trên cơ sở kết hợp đó , ở kho chỉ hạch toán về mặt số lượng , ở phòng kế toán chỉ hạch toán về mặt giá trị của
thành phẩm, xoá bỏ việc ghi chép trùng lắp giữa kho và phòng kế toán , tạo điều
kiện thực hiện kiểm tra thường xuyên và có hệ thống của kế toán với thủ kho, đảm bảo số liệu chính xác kịp thời Sổ số dư do kế toán mở cho từng kho , dùng cho cả năm và giao cho thủ kho trước ngày cuối tháng
Phương pháp này áp dụng thích hợp với doanh nghiệp có chủng loại thành phẩm
nhiều, việc xuất, nhập kho diễn ra thường xuyên, doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống giá hạch toán, hệ thống danh điểm thành phẩm và trình độ kế toán tương đối cao
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng loại thành phẩm theo từng kho cho cả năm Cuối tháng tiến hành kiểm tra số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp Phương pháp này chỉ áp dụng thích hợp với các doanh nghiệp có qui mô nhỏ , khối lượng và chủng loại thành phẩm nhập, xuất không nhiều, không có điều kiện ghi chép hàng
ngày
Việc lựa chọn, áp dụng phương pháp hạch toán chi tiết thành phẩm còn phụ thuộc vào tình hình thực tế, đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp và trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán
1.4 - Kế toán tổng hợp thành phẩm :
Sử dụng các TK chủ yếu như : TK155 ( thành phẩm ), TK 157 (hàng gửi đi bán
), TK 632 ( giá vốn hàng bán ) và một số TK khác
Theo chế độ kế toán hiện hành, doanh nghiệp có thể sử dụng một trong 2
phương pháp kế toán thành phẩm: phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh thường xuyên, liên tục có hệ thống tình hình nhập xuất tồn kho thành phẩm trên sổ kế toán ( Biểu số 1)
Trang 10
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết quả kiểm
kê thực tế để phản ánh trị giá thành phẩm tồn kho cuối kỳ trên sổ kế toán và từ đó xác định giá trị thành phẩm xuất kho trong kỳ (Biểu số 2)
k/c trị giá tp tồn kho cuối kỳ
giá trị thực tế tp hoàn | k/c tp xuất bán nhưng
hưa được coi là tiêu thụ
k/c trị giá vốn hàng bán |
TK157
TK9
11
Dac điểm cơ bản phân biệt hai phương pháp trên đó là : phương pháp kê khai
thường xuyên kế toán sử dụng tài khoản hàng tồn kho để phản ánh số hiện có và tình
hình nhập xuất trong kỳ, còn theo phương pháp kiểm kê định kỳ nhóm tài khoản này chỉ được dùng để kết chuyển số doanh nghiệp đầu kỳ và cuối kỳ ( phản ánh giá trị
hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ )
Trang 11
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
Khi phương pháp kê khai thường xuyên được sử dụng nha quan lý có khả năng
giám sát lượng thành phẩm tồn kho một cách liên tục , điều này giúp cho nhà quản
lý có cơ sở đê lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ phù hợp Do việc theo dõi phản ánh
sự biến động “ Hàng tồn kho “ là liên tục nên phương pháp này chỉ áp dụng thích
hợp với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng có giá trị lớn , nghiệp
vụ xuất ít
Với phương pháp kiểm kê định kỳ phải thận trọng với hàng tới kho Việc xác định
hàng tới kho sẽ ảnh hưởng gây nên sai lầm về giá với hàng bán, lãi gộp, lãi thuần tài sản lưu động và vốn chủ sở hữu Hơn nữa hàng tồn kho cuối kỳ của kỳ này còn là hàng tồn kho của kỳ tiếp theo, nên có thể làm hại một cách rõ ràng đến tính hữu dụng của báo cáo tài chính Vì thế phương pháp kiểm kê định kỳ chỉ áp dụng với các đơn vị có chung loại thành phẩm và hàng hóa đa dạng, giá trị thấp, nghiệp vụ nhập xuất diễn ra thường xuyên và đặc biệt công tác quản lý thành phẩm phải được thực
-Bảng kê số 8: Bảng kê nhập-xuất-tồn kho thành phẩm, dùng để phản ánh tổng
hợp tình hình nhập, xuất kho thành phẩm theo giá hạch toán và giá thực tế
-Bảng kê số 9: Bảng kê tính giá thực tế thành phẩm, phản ánh các số liệu liên
TK 155 trên bảng kê cuối tháng là căn cứ để ghi vào nhật ký chứng từ số 7
Trong hình thức kế toán chứng từ ghi số các nghiệp vụ hạch toán tăng giảm
thành phẩm từ các chứng từ gốc lập chứng tư ghi sổ, căn cứ vào chứng từ ghi sổ vào
sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và sổ cái Đồng thời kế toán phải mở sổ chỉ tiết theo dõi từng loại thành phẩm
1.6 - Hach toán dư phòng giảm giá hàng tồn kho
Trang 12
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho là việc tính trước vào chi phí sản xuất kinh
doanh phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn so với giá ghi sổ kế toán của thành phẩm
tồn kho nhằm bù đắp thiệt hại thực tế xảy ra do thành phẩm bị giảm giá, đồng thời phản ánh đúng giá thực tế thuần tuý của thành phẩm tồn kho nhằm đưa ra hình ảnh
chung, thực tế về tài sản của doanh nghiệp khi lập báo cáo tài chính
Tài khoản sử dụng: TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Tài khoản này dùng để phản ánh việc lập dự phòng và xử lý các khoản dự phòng
giảm giá hàng tồn kho khi có những bằng chứng chắc chắn về sự giảm giá thường xuyên của thành phẩm tồn kho ở doanh nghiệp
Cuối niên độ kế toán, nếu có những bằng chứng chắc chắn về trị giá thực tế của thành phẩm tồn kho thấp hơn giá có thể bán được trên thị trường, kế toán lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho ghi:
Nợ TK 642 - chi phíquản lý doanh nghiệp
Có TK 159 - dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Đến niên độ kế toán sau doanh nghiệp phải hoàn nhập toàn bộ dự phòng đã lập cuối năm trước vào khoản thu nhập bất thường để xác định kết quả kinh doanh:
Nợ TK 159
Có TK 721
Đồng thời tiến hành lập dự phòng cho năm mới theo các qui tắc trên Thời điểm hoà nhập khoản dự phòng đã lập và lập khoản dự phòng giảm giá thành phẩm tồn kho mới được tiến hành tạo thời điểm lập báo cáo tài chính năm
2 - Tổ chức công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
2.1- Các phương thức tiêu thụ thành phẩm:
Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra có thể được đem tiêu thụ bên ngoài hay bên trong nội bộ nhưng mục đích chính của doanh nghiệp là sản xuất ra những sản
phẩm để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Thực tế có rất nhiều cách phân chia các tiêu thức tiêu thụ thành phẩm với mỗi một phương thức tiêu thụ khác nhau trình tự hạch toán cũng khác nhau Sau đây là
một số phương thức tiêu thụ cụ thể:
+ Phương thức tiêu thụ trực tiếp: Giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho, tại
các phân xưởng sản xuất ( không qua kho) của doanh nghiệp Thành phẩm khi bàn
giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và đơn vị bán mất quyền sở hữu
Trang 13Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
doanh nghiệp khi được người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng
chuyển giao( một phần hay toàn bộ) thì số hàng chấp nhận này mới được coi là tiêu thụ
+ Phương thức tiêu thụ qua đại lý: Do hàng ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp cho đến khi chính thức tiêu thụ, bởi vậy nội dung hạch toán giống như tiêu thụ theo phương thức chuyển hàng, số tiền hoa hồng cho đại lý được tính vào chỉ phí bán hàng
+ Phương thức tiêu thụ- bán hàng trả góp: Khi giao hàng cho người mua thì
lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ, người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua một số tiền phải trả chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định, thông thường
số tiền trả các kỳ bằng nhau trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi suất trả chậm
Ngoài các phương thức tiêu thụ chủ yếu trên các doanh nghiệp còn sử dụng
thành phẩm để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên chức,
để trao đổi lấy hàng hoá khác
2.2 Công tác tiêu thu thành phẩm
Công tác tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp có thể tiến hành theo nhiều
phương thức khác nhau như tiêu thụ trực tiếp, chuyển hàng theo hợp đồng, giao hàng
cho đại lý, bán hàng trả góp Mặc dù vậy việc tiêu thụ thành phẩm nhất thiết gắn với
việc thanh toán với người mua, vì chỉ khi nào xí nghiệp thu nhận được đầy đủ tiền
hàng bán thì việc tiêu thụ mới được xem là đã thực hiện và mới được ghi chép trên sổ sách kế toán Việc thanh toán với người mua về thành phẩm bán ra được thực hiện bằng nhiều phương thức:
- Phương thức thanh toán bằng tiền mặt:việc giao hàng và thanh toán tiền hàng được thực hiện ở cùng một thời điểm và ngay tại doanh nghiệp nên việc tiêu thụ
thành phẩm được hoàn tất ngay sau khi giao hàng và nhận tiền
- Thanh toán bằng phương thức chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua có quyền từ chối không thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá trị hàng
mua, do khối lượng gửi đến cho người mua không phù hợp với hợp đồng về số lượng,
chất lương và qui cách, trừ trường hợp này việc tiêu thụ thành phẩm chưa thể xem là
đã được tiêu thụ Kế toán cần theo dõi tình hình chấp nhận hay không chấp nhận để
xử lý trong thời hạn qui định bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp
- Thanh toán bằng phương thức chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua đã chấp nhận thanh toán, trường hợp này việc tiêu thụ thành phẩm được xem
như đã thực hiện, chỉ cần theo dõi công việc thanh toán với người mua Vì vậy khi
thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm căn cứ vào điều kiện cụ thể, tổ chức ký hợp
Trang 14
Luda van tot nghiép Lé thi Wong Shug
Kế toán chi tiết quá trình tiêu thụ thành phẩm có thể mở các sổ chỉ tiết như: sổ
chỉ tiết bán hàng, sổ chỉ tiết thanh toán với người mua
Đặc trưng cơ bản của kế toán tiêu thụ thành phẩm theo hệ thống kế toán mới là
kế toán tổng hợp tiêu thụ thành phẩm đã sử dụng TK 511- Doanh thu bán hàng, để
phản ánh doanh thu bán hàng ra ngoài và TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ, để phản ánh doanh thu của thành phẩm hàng hoá lao vụ dịch vụ cung cấp giữa các đơn
Vị trực thuộc
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một loạt các tài khoản, kế toán phản ánh các
khoản giảm trừ doanh thu như: TK 521, TK 531, TK 532, TK 333 và các tài khoản
phản ánh các quá trình thanh toán với người mua như: TK 131, TK 111, TK 112 Khi các doanh nghiệp áp dụng thuế giá trị gia tăng từ ngày 01-01-1999 thì đối với những cơ sở kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì
doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ ( chưa có thuế
giá trị gia tăng) bao gồm cả phụ thu và phụ phí thêm ngoài giá bán( nếu có ) mà cơ
sơ kinh doanh được hưởng
- Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh tính thuế theo phương pháp trực tiếp thì
doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ, bao gồm cả
phụ thu và phụ phí thu thêm ngoài giá bán ( nếu có ) mà cơ sở sản xuất kinh doanh được hưởng ( tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế giá trị gia tăng )
Các khoản thuế phải nộp liên quan đến bán hàng:
- Theo luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tănglà loại thuế gián thu tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng và do người tiêu dùng cuối cùng chịu thuế
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu tính trên doanh thu của một số
mặt hàng do Nhà nước quy định nhằm thực hiện sự điều chỉnh của Nhà nước đối với
tiêu dùng trong nước
- Thuế xuất khẩu: Là loại thuế tính trên doanh thu của các hàng hoá bán ra
ngoài lãnh thổ Việt Nam
+ Kế toán các nghiệp vụ bán hàng chủ yếu được khái quát qua sơ đô sau:
- Qué trình tiêu thụ theo phương pháp trực tiếp: (Biểu số 3)
Trang 15Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
1)Kết chuyển trị giá vốn hàng đã tiêu thụ
2a) Trị giá vốn hàng gửi bán
2b) Trị giá vốn hàng đã tiêu thụ
3) Doanh thu bán hàng, thuế giá trị gia tăng phải nộp
4) Kết chuyển các khoản giảm trừ
5) Kết chuyển trị giá vốn của hàng tiêu thụ
6) Kết chuyển doanh thu để xác định kết quả tiêu thụ
- Quá trình hạch toán tiêu thụ thành phẩm theo phương thức bán hàng trả góp: ( Biểu số 4)
1) Phản ánh trị giá vốn của hàng tiêu thụ
2a) Phản ánh doanh thu bán hàng trả góp
2b) Phản ánh tổng số lãi trả chậm
Trang 16
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
2c) Thuế gía trị gia tăng phải nộp
3) Kết chuyển trị giá vốn hàng bán
4) Kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả
- Quá trình hạch toán tiêu thụ thành phẩm theo phương thức bán hàng ký gửi: (
2) Doanh thu thực tế tiêu thụ theo hàng ký gửi, thuế GTGT phải nộp
3) Kết chuyển trị giá vốn hàng ký gửi được xác định tiêu thụ
4) Kết chuyển giá vốn của hàng ký gửi để xác định kết quả tiêu thụ
5) Kết chuyển doanh thu thuần
6) Đại lý thanh toán cho doanh nghiệp về doanh thu số hàng ký gửi
Hạch toán tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp theo phương pháp kiểm kê
Trang 17Luda van tot aghiép Le thi Hing Thug
3) Doanh thu bán hàng trong kỳ và thuế GTGT phải nộp
4) Kết chuyển trị giá vốn hàng bán trong kỳ
5) Kết chuyển các khoản giảm trừ
6) Kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả
7) Kết chuyển trị giá thành phẩm sản xuất trong kỳ
2.3 - Kế toán chi phi bán hàng:
Chi phí bán hàng là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để sản phẩm của mình được làm quen hay được người tiêu dùng ưa chuộng , các doanh nghiệp sẵn sàng chi ra một khoản chi phí lớn cho mục đích đó Chính do xu hướng này ngày một lớn lên chi phí bán hàng càng phải được tập hợp đây đủ và rõ ràng hơn Theo chế độ kế toán hiện hành chi phí bán hàng được coi là khoản chi phí thời
kỳ trong kỳ được tập hợp đầy đủ và cuối kỳ được chuyển sang tài khoản “ xác định
kết quả “ để tính lãi, lỗ hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ ( chế độ kế toán cũ
chỉ phí tiêu thụ được xem là một bộ phận của giá thành sản phẩm ) chỉ phí bán hàng cần được tập hợp riêng và phân bổ cho từng loại sản phẩm để kế toán có thể xác định lãi, lỗ của từng loại sản phẩm
Để hạch toán chỉ phí bán hàng, kế toán sử dụng TK 641 - chi phí bán hàng, tài khoản này được mở chỉ tiết theo các yếu tố chi tiết sau:
-TK 641.1- chi phí nhân viên
-TK 641.2 - chỉ phí vật liệu bao bì
- TK 641.3 - chi phí dụng cụ đồ dùng
- TK 641.4 - chi phí khấu hao tài sản cố định
-TK 641.7 - chi phí dịch vụ mua ngoài
Trang 18Ludn van tét aghiép Lé thi Wong Thug
—[ chỉ phí mua ngoài
2.4 - Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những chỉ phí cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến hoạt động của cả doanh nghiệp Chi phí quản lý doanh nghiệp cần được dự tính và quản lý chỉ tiết, tiết kiệm, hop ly, chi phí quản lý cuối kỳ cần kết chuyển để xác định kêt quả kinh doanh Nếu doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài, trong kỳ không có sản phẩm tiêu thụ thì cuối
kỳ chi phí quản lý doanh nghiệp được kết chuyển sang theo dõi ở tài khoản “ chỉ phí chờ kết chuyển “
Kế toán sử dụng TK 642 - chi phí quản lý doanh nghiệp , để tập hợp các khoản chi phi thuộc loại này trong kỳ: Tài khoản 642 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành các tiểu khoản sau:
- TK 642.1 - chi phí nhân viên quản lý
Trang 19Luan van tot aghiép Lé thi Wing Thug
và hoạt động bất thường), từng loại thành phẩm hàng hoá lao vụ dịch vụ
Kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hoá lao vụ dịch vụ được biểu hiện dưới chỉ tiêu lãi ( hoặc lỗ ) về tiêu thụ được tính như sau:
Lãi (hoặc lỗ) về tiêu thụ = Lợi tức gộp - ( chi phí bán hàng + chi phí quản lý doanh nghiệp )
Trong đó, lợi tức gộp = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả cuối cùng chính là lãi (hoặc lỗ)
về têu thụ thành phẩm, hàng hoá dịch vụ
-Trinh tự hạch toán xác định kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hoá được khái quát như sau: (Biểu số 9)
TKO9II kết chuyển giá vốn kết chuyển doanh hàng bán thu thuần về tiêu thụ
TKSII —
Trang 20
Ludu van tét aghiép Lé thi dug Thug
kết chuyển lãi
Trên đây là những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán kế toán thành phẩm, tiêu
thụ thành phẩm và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
Song giữa lý luận và thực tiễn luôn có một khoảng cách nhất định, thực tế công
tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh có đáp ứng được yêu cầu sản xuất, phù hợp với cơ chế thị trường
hay không là điều không dễ dàng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức công tác
kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh một cách chặt chế khoa học đúng chế độ kế toán quy định
Sau đây là sự tìm hiểu cụ thể về thực tế công tác hạch toán kế toán thành phẩm,
tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của
nha in Bộ Lao động Thương binh và xã hội
CHƯƠNG II: THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN THÀNH PHẨM, TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUÁ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở NHÀ IN BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
Trang 21
Ludu van tét aghiép Lé thi dug Thug
Sau một thời gian hoạt động xưởng in đã phát triển với quy mô lớn hơn vì thế
Bộ trưởng Bộ thương binh và Xã hội đã quyết định chuyển xưởng in thành Xí nghiệp
in Bộ Thương binh và Xã hội ( Quyết định sốI63 / QĐTB-XH ngày 04-09-1986 )
Khi hai bộ (Bộ Lao động và Bộ Thương binh-Xã hội ) được sát nhập thành một bộ mới là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì ngày 23-11-1988 Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã quyết định thành lập Xí nghiệp sản xuất dịch vụ đời
sống trực thuộc bộ ( Quyết định số 516 /LĐTB-XH-QĐ) với cơ bản là xí nghiệp in
Thương binh và Xã hội cũ đồng thời giao thêm nhiệm vụ phục vụ đời sống cán bộ công nhân viên trong cơ quan, bộ
Do cơ chế quản lý của Nhà nước thay đổi vì thế Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh- Xã hội lại ra quyết định thành lập xí nghiệp ¡n và sản xuất dụng cụ người tàn tật ( Quyết định sốI8§ /LĐTB-QĐ ngày 16-01/1991) vẫn với cơ sở cũ và thay đổi
nhiệm vụ mới phù hợp hơn Nhưng sau một năm Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quyết định thành lập doanh nghiệp Nhà nước mới là nhà in Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ( Quyết định thành lập số 152 /LĐTB -XHQĐ ngày 20-
3- 1992 ) trên cơ sở tách ra từ Xí nghiệp in và sản xuất dụng cụ người tàn tật
Nha in là đơn vị kinh tế cơ sở trực thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
hoạt động theo nguyên tắc độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được
mở tài khoản tại ngân hàng của Nhà nước.Doanh nghiệp được phép đặt trụ sở chính tại Ngõ 4 Hoà Bình, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội Vốn kinh doanh của nhà in khi đăng ký thành lậplại là 877 triệu đồng
Trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp và doanh nghiệp tự bổ sung là 348,1
Trang 22Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
Những ngày đầu mới thành lập với cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, đội ngũ cán bộ chưa có kinh nghiệm, công nghệ máy móc sản xuất còn lạc hậu, hiệu quả sản xuất thấp Từ năm 1992 sau khi được thành lập lại là một doanh nghiệp Nhà nước độc lập Nhà in đã có nhiều bước phát triển, sản xuất nhiều mặt hàng phong phú
đa dạng hơn Mặc dù còn có những khó khăn, trở ngại và thiếu sót trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện song những năm qua nhìn ở góc độ chung Nha in đã hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, đặc biệt đã có nhiều cố gắng tìm cách giảm giá thành,
đi đôi với quan tâm cải thiện chất lượng sản xuất
Một số chỉ tiêu nhà in đã đạt được trong những năm gần đây:
2-Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý của nhà ïn
2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ của nhà in
Nhà in Bộ Lao động Thương binh và xã hội là loại doanh nghiệp sản xuất nhỏ,
sản phẩm làm ra phụ thuộc vào đơn đặt hàng Quy trình công nghệ sản xuất là một dây chuyên khép kín liên tục, máy móc thiết bị thuộc loại tinh vi và chính xác
Sản phẩm của Nhà ¡in đa dạng phong phú nhưng chỉ thực hiện in ( một màu
hoặc nhiều màu ) trên vật liệu giấy các loại như ¡n sách, tạp chí, tranh, lịch, nhãn mác các loại
Trang 23
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
Sau khi ký hợp đồng kinh tế với khách hàng, doanh nghiệp nhận được bản gốc ( bài ảnh, hình vẽ ) với yêu cầu qui cách, chất lượng theo hợp đồng Nếu khách hàng chưa có makét thì doanh nghiệp phải lập ma két gồm bố cục, chon chư, bố cục ảnhvà thông qua khách hàng duyệt lại sau đó chuyển cho bộ phận tách màu (nếu in
đen thì không phải tách màu) Bộ phận tách màu thường là đi thuê vì công nghệ này
đòi hỏi chuyên môn cao Tiếp đến là bộ phận bình bản trên cơ sở makét và phim
màu, bộ phận này sẽ xắp xếp các loại chữ, hình ảnh có cùng một loại màu in vào
các tấm mi ca theo từng trang ¡n Sau đó chuyển tới bộ phận chế bản khuôn in bằng
nhôm hoặc bằng kẽm sau khi bản này được phơi thì chuyển tới bộ phận ¡n Sau khi in xong thì chuyển tới bộ phận xếp thành tập, để xén ghim hoặc đóng kẹp, sau đó
nghiệm thu rồi đóng gói chuyển cho khách hàng
Nhà in có bốn phân xưởng chính: Phân xưởng cơ điện
Phân xưởng chế bản Phân xưởng in Phân xưởng sách và hoàn thiện Mỗi phân xưởng có một quản đốc và từ một đến hai phó quản đốc, dưới các
phân xưởng là các tổ sản xuất
Tổ chức ¡n chủ yếu:
- in LASER: Chi yéu phục vu cho công tác chế bản
- in OFFSET: Day là công nghệ in phẳng, độ chính xác cao, in được nhiều
- in TYPO: La công nghệ ¡n lồi, chủ yếu in một màu, in những sản phẩm không đồi hỏi chất lượng cao
- So đồ qui trình công nghệ của Nhà in: (Biểu số 11)
Tài liệu gốc
(Hợp đồng)
Thiết kế mĩ thuật
Trang 24Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
Ché ban Phoi ban
In
Hoan thién nghiém thu
2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của nhà in:
Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình, nhà in phải tổ chức một
bộ máy quản lý và điều hành công việc gọn nhẹ và hợp lý:
Sơ đồ bộ máy quản lý: (Biểu số 12)
Giám đốc Phó giám đốc
6/7 là 20 người, bậc 5/7 là 20 người
+ Lãnh đạo: Giám đốc là người chỉ huy cao nhất trong tất cả các lĩnh vực hoạt
động của đơn vị , có quyền tổ chức hoặc đề nghị Bộ đề bạt, bãi miễn các tổ chức và
cá nhân trong đơn vị
Phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc và thay mặt giải quyết các công việc của giám đốc khi giám đốc đi vắng, trực tiếp phụ trách lĩnh vực kỹ thuật, thiết bị
và điều động sản xuất
Trang 25
Ludu van tốt aghiép Lé thi dug Thug
+ Cac phong ban nghiép vu:
- Phòng kế hoạch sản xuất kinh doanh: Giao dịch, ký kết hợp đồng kinh tế với khách hàng, lập kế hoạch sản xuất, cung cấp vật tư nguyên vật liệu làm thủ tục quyết toán hợp đồng Có nhiệm vụ đi sâu nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá
dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động
Khi có lệnh sản xuất đã được giám đốc duyệt, giao xuống cho xưởng phải kiểm tra theo dõi tiến độ thực hiện đảm bảo số lượng, chất lượng và thời gian giao nộp sản
phẩm Quản lý, theo dõi giám sát công việc và nhân sự ở tổ kiểm hoá, tổ bình bản và
tổ vi tính
-Phòng tổ chức hành chính: Quản lý về nhân sự, văn thư, y tế và đời sống, dựa vào kế hoạch sản xuất phải xây dựng được kế hoạch lao động tiền lương, kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, nâng cao nghiệp vụ và tay nghề cho người lao động
Tổ chức phục vụ tốt các cuộc tiếp khách toạ đàm và hội họp của giám đốc với cấp trên, với các cơ quan hữu quan Giúp giám đốc quan hệ tốt với chính quyền và cơ quan chức năng ở địa phương Trưởng phòng phải chịu trách nhiệm trước giám đốc
về phân công bố trí và quản lý nhân sự
- Phòng kế toán thống kê: Chịu trách nhiệm trước giám đốc về quản lý và tổ chức thực hiện có hiệu quả nguồn vốn, xây dựng được kế hoạch tài chính cho các hoạt động của đơn vị, kết thúc năm kế hoạch mọi lĩnh vực thu chi của đơn vị phải
được thể hiện trong bảng tổng kết tài sản bảo đảm đây đủ và chính xác
Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hạch toán và quyết toán trong các đơn vị theo
đúng quy định của ngành, các cơ quan chức năng của Nhà nước
Kho quỹ phải thường xuyên kiểm tra, kiểm kê bảo đảm ghi chép rõ ràng đầy đủ
chính xác và có biện pháp bảo quản tốt tránh mất mát, hư hỏng gây lãng phí
Có những biện pháp chủ động về tiền vốn đáp ứng kịp thời cho nhu cầu mua
sắm nguyên vật liệu, vật tư thiết bị để sản xuất ổn định
3- Đặc điểm công tác kế toán của nhà ïn
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý nhà in Bộ lao động-
Thương binh và Xã hội tổ chức kế toán theo mô hình kế toán tập trung Toàn bộ
công tác kế toán từ việc ghi sổ chỉ tiết đến tổng hợp lập báo cáo, kiểm tra đều được
thực hiện ở phòng kế toán thống kê