Xử lý ô nhiễm môi trường gây ra bởi chất thải không thể chỉ trông chờ vào một vài biện pháp cụ thể nào đó mà cần phải thực hiện đồng bộ: từ các giải pháp quản lý vĩ mô như hoạch định chí
Trang 1- Thu gom thứ cấp: rác thải được thu gom từ các bãi chứa chung, các điểm hẹn chuyển đến bãi xử lý Quá trình này phụ thuộc vào các loại xe thu gom và quãng đường vận chuyển, và ít ảnh hưởng đến người dân
VI.3.1.1 Hiệu quả của việc thu gom được đặc trưng bởi các tiêu chí sau:
- Số tấn chất thải được thu gom trong một giờ
- Tổng số hộ được phục vụ trong một giờ làm việc của một kíp
- Chi phí của một ngày thu gom
- Chi phí cho mỗi lần dừng để thu gom
- Số lượng người được phục vụ bởi một xe trong một tuần
VI.3.1.2 Các hình thức thu gom khác
- Thu gom theo khối: trong hình thức thu gom này các xe thu gom này xe thu gom sẽ chạy theo một quy trình đều đặn theo tần suất đã được quy định trước đó (từ 2-3lần/tuần hoặc theo ngày, ) Những xe này sẽ dừng tại các ngã ba, tư hay điểm hẹn nhất định nào đó và rung chuông Theo tín hiệu này những người dân xung quanh đó mang sọt rác của mình đến để đổ vào các xe Có nhiều dạng khác nhau của hình thức thu gom này nhưng điểm chung là mọi gia đình đều được yêu cầu phải có thùng rác của riêng mình ở trong nhà và mang đến cho công nhân thu gom rác đúng giờ theo tín hiệu đã quy đinh
- Thu gom lề đường: đây là một hình thức thu gom đòi hỏi có một dịch vụ đều đặn và một thời gian biểu tương đối chính xác Các hộ dân cần phải đặt lại thùng rác sau khi rác đã được đổ ra khỏi thùng Điểm quan trọng là những thùng này đòi hỏi phải dạng chuẩn, nếu không lượng rác bỏ vào thùng sẽ dư ra ngoài hoặc chỉ chiếm một phần nhỏ thể tích của thùng Trong những điều kiện này, rác có thể bị gió thổi bay hay súc vật hoặc người bới rác làm vung vãi ra đường làm cho quá trình thu gom kém hiệu quả hoặc gây lãng phí
VI.3.2 Vận chuyển và trung chuyển
Trong hệ thống xử lý rác, vận chuyển và trung chuyển là một khâu khá quan trọng, bao gồm
cả các phương tiện, các trang thiết bị các vật dụng có liên quan Hoạt động trung chuyển và vận chuyển bao gồm luôn cả việc chuyển các phế liệu từ nơi phân loại tới các cơ sở tái chế hay chuyển sản phẩm cuối cùng của quá trình xử lý đến bãi chốn lấp
Theo Trần Hiếu Nhuệ & CTV, (2001) thì hoạt động trung chuyển và vận chuyển có thể được
mô tả bằng sơ đồ sau:
Trang 2Hình 6.10 Sơ đồ hoạt động thu gom, trung chuyển và vận chuyển rác (Bùi Thị Nga & ctv, 2008)
Sự vận hành hệ thống trung chuyển sẽ hổ trợ đắc lực cho hoạt động thu gom rác một cách có hiệu quả và ngày càng trở nên cần thiết bởi các nguyên nhân sau:
- Khoảng cách quá xa từ nơi thu gom tới nơi xử lý, nếu không sử dụng trạm trung chuyển sẽ dẫn đến việc thu gom không đạt hiệu quả kinh tế
- Sự hiện diện của các khu vực dân cư thưa thớt
- Việc sử dụng các container có kích thước trung bình để chứa rác ở những nơi sản sinh
ra rác quá lớn
Trong đó kiểu vận hành chuyên chở được chia thành:
- Hệ thống thùng xe di động: là hệ thống thu gom trong đó các thùng chứa đầy rác được luân phiên chuyên chở đến bãi thải và đưa thùng không vào vị trí cũ để thay thế
Hệ thống này phù hợp để vận chuyển rác từ các nguồn tạo ra khối lượng rác lớn
- Hệ thống dùng xe cố định: là hệ thống thu gom trong đó các thùng chứa đầy rác vẫn
cố định, người công nhân chỉ nhấc lên đổ vào xe lớn và sau đó đặt lại vị trí cũ
Tuy nhiên, dù sử dụng phương tiện vận chuyển nào, chúng ta cũng phải thỏa các điều kiện sau:
- Vận chuyển rác với giá rẻ nhất
- Rác phải được đậy kỹ trong quá trình chuyên chở
- Các loại xe này phải được thiết kế phù hợp với hệ thống giao thông hiện hành
- Tải trọng xe không vượt tải trọng cho phép của hệ thống đường xá hiện hành
- Phương pháp để tháo dỡ rác trong xe phải đơn giản và thuận tiện,
Trang 3-
Hình 6.11 Sơ đồ mạng lưới thu gom chất thải rắn tư nhân
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ & CSV, 2001)
Nguồn phế thải
phế liệu
Nhóm thu gom phế liệu
Nhóm thu mua phế liệu
Nhóm buôn bán và
sử dụng lại phế
Bãi chân lấp Đội quân bới rác
tại bãi rác
Thu mua rác tại bãi đổ
Bãi tập kết tạm
thời trạm trung
chuyển
Xe rác đẩy tay
Đường phố
Thùng rác, bể
chứa rác
Các hộ gia đình
Khách sạn
Cơ quan trường
học
Các cơ sở sản xuất ngành công nghiệp
Đội quân nhặt rác lưu động
Thu mua đồng nát tại kho chứa
Đại lý và những người buôn bán
Xuất khẩu
Những người mua đồng nát lưu động
Hoạt động thu mua dọc đường phố
Nhà hàng ăn
uống, nhà trọ
Trang 4VI.3.3 Thu hồi và tái chế
Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến
thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất Đây là công việc ưu tiên hàng đầu trong lĩnh vực quản lý và xử lý rác nhằm thỏa mãn hai mục tiêu: bảo
vệ tài nguyên thiên và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Hoạt động tái chế cũng cần chi phí để thu gom, vận chuyển, chế biến và ngăn chặn các tác động tiêu cực đến môi trường do quá trình tái chế gây ra Do đó, nếu như chi phí tái chế cao hơn lợi ích tái chế thì lúc đó hoạt động tái chế không được coi là hoạt động có ích Sơ đồ hệ thống thu hồi các chất và dòng lưu chuyển các nguồn vật liệu được thể hiện hình sau
Hình 6.12 Dòng lưu chuyển các vật liệu
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ & CSV, 2001)
Môi trường toàn cầu
(Hệ sinh thái)
Tác động môi trường
Tiêu hủy cuối cùng (chôn lấp)
Sản xuất Phân phối Tiêu dùng
Chất thải
Tái chế
Xử lý trung gian
“Xử lý tốt hơn”
(Tái chế)
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên kinh tế
Các nguồn tài
nguyên tái chế
Tài nguyên có thể tái chế
Hoạt động kinh tế
“kinh tế thị trường”
Tái sản xuất
Các tác động môi trường
Trang 5VI.4 CÔNG CỤ PHÁP LÝ VÀ CHÍNH SÁCH TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VI.4.1 Các công cụ pháp lý trong công tác quản lý chất thải rắn
Ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường lao động là một trong những nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng tới sức khỏe, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động, rộng hơn là ảnh hưởng tới sức khỏe của cả cộng đồng và môi trường Việc tìm kiếm các giải pháp
để giảm thiểu ô nhiễm vì thế luôn là mối quan tâm của tất cả mọi người mà trước hết là của các cơ quan xã hội Xử lý ô nhiễm môi trường gây ra bởi chất thải không thể chỉ trông chờ vào một vài biện pháp cụ thể nào đó mà cần phải thực hiện đồng bộ: từ các giải pháp quản lý
vĩ mô như hoạch định chính sách, luật pháp, các quy chế, quy định , các giải pháp quy hoạch tổng thể cho cả khu công nghiệp cho đến các giải pháp cụ thể về công nghệ và xử lý
“cuối đường ống”
Trên thế giới người ta thường sử dụng 2 công cụ quản lý môi trường: công cụ pháp lý và công cụ kinh tế Công cụ pháp lý là chính phủ đặc ra các tiêu chuẩn, các quy định, chính sách để các cơ quan quản lý về môi trường dựa theo đó làm cơ sở để kiểm tra, thẩm định, đánh giá và xử phạt Công cụ kinh tế là dùng các chính sách về lệ phí, thuế, vốn nhằm kích thích hoặc cưỡng bức doanh nghiệp thực hiện Luật BVMT
VI.4.1.1 Các quy định và tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là công cụ chính sách để điều chỉnh chất lượng môi trường Trong tiêu chuẩn môi trường có các loại tiêu chuẩn như: Tiêu chuẩn quy định về các giá trị về nồng
độ hoặc số lượng của các chất thải lỏng, rắn hoặc khí trước khi thải vào môi trường; tiêu chuẩn lấy mẫu và phân tích; tiêu chuẩn thiết kế các thiết bị xử lý có tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và tiêu chuẩn bộ hoặc ngành Thường thì tiêu chuẩn gắn với các quy định về hình phạt (phạt tiền, đóng cửa cơ sở sản xuất thậm chí truy tố trước pháp luật)
VI.4.1.2 Các loại giấy phép môi trường
Các loại giấy phép này do các cơ quan quản lý Nhà nước cấp cho các cơ sở sản xuất, cho phép các cơ sở này được hành nghề mà không gây nguy hại đến môi trường, ví dụ: giấy thẩm định môi trường, giấy thỏa thuận môi trường, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường tùy theo loại hình và quy mô sản xuất mà các cơ quan quản lý có các yêu cầu khác nhau Theo Thông tư 490/1998/TT-BKHCNMT về hướng dẫn và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường có quy định:
- Các dự án đầu tư có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng, dễ gây ra sự
cố môi trường, khó khống chế và khó xác định tiêu chuẩn môi trường thì phải lập và trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường Các dự án còn lại sẽ đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường trên cơ sở tự xác lập và phân tích báo cáo đánh giá tác động môi trường của mình
- Phiếu xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường là căn cứ pháp lý về mặt môi trường để các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét và cho phép dự án thực hiện các bước tiếp theo
Trang 6VI.4.1.3 Kiểm soát môi trường
Kiểm soát môi trường chính là khống chế ô nhiễm, ngăn ngừa hoặc loại bỏ chất thải nguy hại ngay tại nguồn phát sinh, làm sạch ô nhiễm, thu gom, tái sử dụng và xử lý chất thải Kiểm soát môi trường là kiểm soát nguồn thải vào môi trường: các ống khói, các cống xả nước thải, các nguồn rác thải Muốn quản lý được các nguồn này, buộc các cơ quan quản lý về môi trường tiến hành thống kê được các cơ sở sản xuất và các dòng chất thải đổ ra Căn cứ thống kê là các báo cáo đánh giá chất lượng môi trường Trên cơ sở hồ sơ kiểm kê nguồn thải có thể xác định được các khu vực cơ nguy cơ cao về ô nhiễm hoặc sự cố môi trường để từ đó có sự chú ý hoặc đầu tư nhất định trong việc phòng ngừa ô nhiễm hoặc kiểm soát nguồn thải
VI.4.1.4 Thanh tra môi trường
Thanh tra môi trường là biện pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm về BVMT, góp phần quan trọng đảm bảo cho hiệu lực Luật BVMT được thực hiện một cách nghiêm chỉnh Các cơ sở pháp lý cho việc hình thành các tổ chức thanh tra về BVMT gồm: Pháp lệnh thanh tra, Luật BVMT, ngoài ra còn các văn bản và quy định khác như: tiêu chuẩn môi trường, cam kết BVMT đó là những công cụ để tổ chức thanh tra đánh giá mức độ thực hiện Luật BVMT
VI.4.1.5 Đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một quá trình xác định, miêu tả và đánh giá ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của một dự án đến sức khỏe con người, đến động vật và thực vật, đến môi trường đất, nước, không khí, đến cảnh quan, đến kinh tế - xã hội của khu vực có
dự án, và những biện pháp áp dụng để ngăn ngừa hoặc khống chế các ảnh hưởng có hại tới các yếu tố đó
VI.4.1.6 Luật bảo vệ môi trường
Luật bảo vệ môi trường có đề cập một số qui định cụ thể về quản lý chất thải:
- Việc đặt các điểm tập trung, bãi chứa, nơi xử lý, vận chuyển rác và chất gây ô nhiễm môi trường phải tuân theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường (BVMT) và chính quyền địa phương
- Đối với nước thải, rác thải có chứa chất độc hại, nguồn gây dịch bệnh, chất dễ cháy,
dễ nổ, các chất thải không phân hủy được phải có biện pháp xử lý trước khi thải cơ quan quản lý Nhà nước về BVMT quy định danh mục các loại nước thải, rác thải nói
ở khoản này và giám sát quá trình xử lý trước khi thải
Các văn bản dưới luật:
Nghị định số 175/CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật BVMT:
- Mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh, bệnh viện, khách sạn, nhà hàng có các chất thải ở dạng rắn, lỏng, khi cần phải tổ chức thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra ngoài phạm vi quản lý của cơ sở mình Công nghệ xử lý các loại chất thải rắn trên phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
- Nghiêm cấm việc xuất, nhập khẩu chất thải có chứa độc tố hay các vi trùng gây bệnh
có thể gây ô nhiễm môi trường
Trang 7- Bộ KHCN&MT chịu trách nhiệm trước Chính phủ tổ chức và chỉ đạo thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về bảo vệ môi trường
- Tổ chức, quyền hạn, phạm vi hoạt động của thanh tra chuyên ngành về BVMT do Bộ trưởng Bộ KHCN&MT và Tổng thanh tra Nhà nước thống nhất quy định, phù hợp với các quy định của Luật BVMT và Pháp lệnh thanh tra (Điều 38)
Các tiêu chuẩn chất thải rắn trong quá trình sản xuất
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 6696:2000 Chất thải rắn-Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – Yêu cầu chung về BVMT
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 6705:2000 Chất thải rắn không nguy hại-Phân loại
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 6706:2000 Chất thải nguy hại – Phân loại
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 6707:2000 Chất thải nguy hại – Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN ISO 14001:1998 Hệ thống quản lý môi trường-Quy định và hướng dẫn sử dụng
VI.4.2 Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
VI.4.2.1 Xây dựng chiến lược quản lý CTR
- Dự báo lượng thải căn cứ vào sự phát triển của sản xuất
- Quy hoạch các khu công nghiệp, dự kiến cho việc thu gom, vận chuyển, chôn lấp
- Đầu tư trang thiết bị cho việc thu gom và vận chuyển CTR
- Lựa chọn công nghệ xử lý hợp lý
- Lập kế hoạch tài chính cho việc xử lý, tái sử dụng
- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, đặc biệt là áp dụng chiến lược sản xuất sạch
VI.4.2.2 Tổ chức thu gom và phân loại tại nguồn
Đây là khâu hết sức quan trọng trong hệ thống quản lý CTR Thu gom tốt sẽ đảm bảo môi trường trong sạch, làm sạch cảnh quan Đồng thời với thu gom là phân loại tại nguồn, tách rác thải nguy hại ra khỏi rác thải không nguy hại để dễ xử lý: Rác thải không nguy hại có thể đem chôn lấp trong khi đó rác thải nguy hại phải có biện pháp xử lý riêng, tùy thuộc tính chất của chất thải (Bộ Tài Nguyên & MT, 2002)
VI.4.2.3 Lựa chọn công nghệ xử lý
- Chôn lấp: là hình thức xử lý CTR phổ biến nhất, rẻ tiền nhất nhưng cũng tốn diện tích đất nhất điều quan trọng là phải lựa chọn địa điểm chôn lấp phù hợp: Cách xa khu dân cư, khu vui chơi giải trí, du lịch, cách xa nguồn nước nhưng phải thuận lợi cho sự vận chuyển Ngày nay, những bãi chôn lấp hợp vệ sinh là phải bao gồm các lớp lót đáy chống thấm, hệ thống thu nước rác, hệ thống thu khí rác, hệ thống qaun trắc thường xuyên để giám sát môi trường nước ngầm, không khí, đất
Trang 8- Chế biến CTR hữu cơ thành phân rác: trong thành phần của CTR thường chứa lượng rác hữu cơ cao, dễ phân hủy vi sinh Khi ủ các loại rác này với các chế độ thích hợp
sẽ chuyển hóa chúng thành phân rác, làm chất độn cho đất, giúp cho việc cải tạo đất rất tốt Phương thức này ở nước ta chưa phổ biến, mới có 2 thành phố là Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh xây dựng xí nghiệp loại này nhưng công suất xử lý nhỏ, chủ yếu là rác sinh hoạt
- Tái sử dụng và tái chế: CTR từ công nghiệp có thể rái sử dụng được rất nhiều, ví dụ sắt thép vụn có thể nấu lại, vải vụn làm ruột chăn đệm, đồ nhựa tái sinh Phương thức này là cách tốt nhất trong việc tiết kiệm nguyên liệu, đỡ diện tích chôn lấp hoặc các hình thức xử lý khác Rất cần khuyến khích phương thức này
- Thiêu đốt: nhiều chất thải rắn nguy hại không thể chôn lấp mà phải dùng biện pháp thiêu đốt Ưu điểm của phương pháp này là xử lý một cách triệt để nguồn lây nhiễm bệnh tật như HIV/ASDS, viêm gan, viêm não, lao, thương hàn, tả hoặc các hóa chất độc hại mà nếu chôn lấp không tốt sẽ gây ô nhiễm nước ngầm; giảm từ 75% đến 95% theo thể tích lượng rác chôn lấp Như vậy có thể tiết kiệm được rất lớn diện tích đất
để làm bãi chôn lấp; có thể tái sử dụng nhiệt sinh ra do quá trình đốt để đun nước nóng, hơi nước và chuyển hóa thành điện Nhược điểm là vốn đầu tư ban đầu cao, giá thành xử lý cũng cao, cao hơn chôn lấp từ vài lần đến hàng chục lần Ngoài ra việc xử
lý khí thải cũng phải cẩn thận vì trong khí thải có chứa dioxin và furan, là những chất
có tiềm năng gây ưng thư cao
-
VI.5 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI
VI.5.1 Khái niệm về chất thải nguy hại
Chất thải độc hại là các chất thải có thể được sinh ra do các hoạt chất công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp Các chất thải độc hại có thể là các chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất sệt Trong định nghĩa chất thải độc hại không nói đến các chất thải rắn sinh hoạt, nhưng thật ra rất khó phân biệt một cách toàn diện chất thải công nghiệp với chất thải sinh hoạt Chất thải độc hại không bao gồm chất thải phóng xạ vì loại chất thải này đã được hầu hết các nước phân cách và tổ chức quản lý riêng Độ độc hại của các chất thải độc hại rất khác nhau,
có chất gây nguy hiểm cho con người như các chất cháy có điểm cháy thấp, các chất diệt côn trùng, các vật liệu clo hoá phân huỷ chậm, có chất gây tác động nhỏ hơn nhưng khối lượng của nó lại là vấn đề lớn như các chất thải hầm mỏ, xỉ, thạch cao phốt phát cũ hoặc các sệt hydroxyt khác Những chất thải có chứa những hoá chất không tương hợp có thể gây nổ, bắt cháy Tiếp xúc với axít hoặc kiềm mạnh gây bỏng da Da hấp thụ một số thuốc trừ sâu có thể gây ngộ độc cấp tính Những thùng, hòm chứa chất thải hoá chất nếu không được xử lý, để bừa bãi vào nơi không được bảo vệ tốt có thể gây các tai nạn ngộ độc nghiêm trọng (Hodgson, & Levis, 1987)
Thông thường đây chính là các chất có mang 1 trong các đặc tính sau:
- Dễ cháy
- Dễ nổ
- Làm ngộ độc
Trang 9- Ăn mòn
- Dễ lây nhiễm
Một số chất nguy hại điển hình:
- Acid và kiềm
- Chất oxy hoá
- Kim loại nặng
- Dung môi
- Cặn dầu thải
- Amiăng
Nguồn phát sinh các chất này từ hộ gia đình, công nghiệp, thương nghiệp, bệnh viện và xí nghiệp dược Ngoài ra một số chất như một vài sản phẩm hoá học cực kỳ nguy hiểm như áenic acid, cyanid, và nhiều loại thuốc trừ sâu, benzen, creosote, phenol, và toluen Thực tế các chất thải độc hại mới chỉ được quan tâm tới từ sau năm 1960 trở lại đây Việc kiểm tra chất thải độc hại cũng gây tốn kém, nhưng kinh nghiệm ở nhiều nước phát triển cho thấy việc xử lý chất thải độc hại khi đã gây ô nhiễm còn tốn tiền của và thời gian hơn nhiều, có khi gấp từ 10 đến100 lần Do vậy, việc kiểm tra chất thải độc hại thường chỉ được quan tâm sau khi xảy ra một thảm hoạ hoặc sau một đe doạ thảm hoạ môi trường Sau sự kiện những người dân chết do ăn phải cá bị nhiễm thuỷ ngân trong nước biển ở Minamata, Nhật là nước đầu tiên đưa ra việc kiểm tra đầy đủ các chất thải độc hại (1960) Nước Anh, sau sự bất bình của công chúng khi phát hiện những thùng rỗng có chứa muối xyanua trên đất hoang mà trẻ
em đã chơi trên đó, Uỷ ban kiểm tra chất thải độc hại được thành lập và sau đó đã được pháp luật thông qua Nước Mỹ, năm 1976 hệ thống kiểm tra chất thải độc hại được thành lập
do sự phản đối của công chúng vì sự ô nhiễm gây nên bởi các đống rác không được kiểm soát (Lê Huy Bá, 2002)
VI.5.1.1 Phương thức gây ô nhiễm của chất thải độc hại
Các chất thải độc hại có thể gây ô nhiễm môi trường trực tiếp như bay hơi hoá chất trong khí quyển hoặc có thể gây ô nhiễm gián tiếp qua vận chuyển của gió hoặc bề mặt nước Vấn đề quan trọng không phải chỉ phụ thuộc vào nơi đổ thải và tình trạng đất ở bên dưới
- Đất bị ô nhiễm:
Khi đất bị ô nhiễm chất thải nguy hại sẽ làm cho đất mất đi chức năng vốn có của đất, những nơi đó hầu như không có thảm thực vật che phủ, đất bị biến đổi thành màu đen
các loài sinh vật đất hầu như biến mất (Hình 6.13)
Trang 10Hình 6.13 Đất bị ô nhiễm bởi chất thải nguy hại (Lê Văn Khoa, 2005)
- Ô nhiễm nước bề mặt:
Bề mặt ngoài của nước ở gần chỗ chất thải có thể nhận những chất thải độc hại từ bề mặt chảy Hơn nữa, dòng chảy đất - nước của các hoá chất cũng đưa ô nhiễm vào mặt nước Trong điều kiện tiếp xúc không khí sẽ thúc đẩy quá trình phân huỷ hoá, hoá sinh các hợp chất hữu cơ Quá trình bay hơi ở mặt nước cũng dễ hơn ở đất
- Các đường ô nhiễm khác:
Các hợp chất hữu cơ có thể bay hơi trong không khí, gió có thể đưa chất thải độc hại vào môi trường, rau quả trồng gần nơi chất thải có thể hấp thụ những độc tố của chất thải
VI.5.1.2 Phân loại chất thải độc hại
Chất gây cháy
- Là những chất lỏng có chứa ít hơn 24% cồn và điểm bốc cháy dưới 60oC
- Là những chất khí có thể cháy khi bị nén
- Là chất oxy hoá
Chất ăn mòn
Một chất thải biểu hiện đặc tính ăn mòn nếu có một trong các đặc điểm sau:
- Là dung dịch lỏng có pH< 2 hoặc pH> 12.5
- Chất lỏng ăn mòn thép ở tỷ lệ > 6,35 mm/năm ở nhiệt độ thí ngiệm là 55oC
Chất phản ứng
- Không bền và trải qua sự biến đổi mạnh mẽ không có sự nổ
- Hình thành những hổn hợp nổ tiềm ẩn với nước
- Là chất thải mang gốc cyanid hoặc sulphide, khi ở pH2-12.5 có thể sinh ra khí, hơi, khói ở một lượng đủ để gây nguy hiểm cho con người và MT
Chất gây nổ
- Có khả năng nổ hoặc phản ứng nổ nếu bị tác động với nguồn khởi đầu hoặc bị nung nóng trong điều kiện nén