Thực trạng các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp: Đến nay đã hình thành các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh tập trung như: lúa, cao su, cà phê, điều, mía, rau quả, lợn , bò, tôm,
Trang 1đàn bò từ 11,7% lên 30,6% ở khu bốn cũ) xu hướng chuyển dịch này là phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của các vùng
Thực tế cơ cấu giá trị sản xuất trong ngành nông nghiệp qua các năm như sau:
Bảng 2: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá trị so sánh (%)
Trong đó:
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số 57, ngày 18/7/1998
Theo thống kê trên, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất 80,4% - 80,5% trong đó, cây lương thực vẫn tiếp tục độc chiếm nền nông nghiệp Việt Nam cây công nghiệp và cây ăn quả chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ Ngành chăn nuôi
đạt tỷ trọng còn khiêm tốn 16,6% - 16,7% đặc biệt, dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ trọng vừa nhỏ bé lại vừa có xu hướng giảm sút từ 3,0% xuống còn 2,8%
Như vậy, nền nông nghiệp nước ta hiện nay vẫn còn mang đậm nét cổ truyền, kém hiệu quả Do cơ cấu ngành nông nghiệp chậm thay đổi nên công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp ra khó có điều kiện phát triển Dịch vụ nông nghiệp có xu hướng giảm xẽ tác động xấu tới nền sản xuất hàng hoá trong cơ chế mở hiện nay Mặt khác hàng nông phẩm của nước ta đã không đa
Trang 2dạng về chủng loại, chất lượng lại chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế nên khó chiếm lĩnh thị trường Thậm chí có những loại nông phẩm thị trường bị thu hẹp do chất lượng, phẩm chất quá thấp, gây thiệt hại cho người sản xuất, ảnh hưởng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp
6 Thực trạng các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp:
Đến nay đã hình thành các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh tập trung như: lúa, cao su, cà phê, điều, mía, rau quả, lợn , bò, tôm, cá, nhưng nhìn chung sản xuất còn phân tán, manh mún, quy mô sản xuất hộ gia đình nhỏ bé, trước mắt có thể có hiệu quả, nhưng về lâu dài là trở ngại lớn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
Trong khi các vùng chuyên canh cao su, cà fê và chè đã khá ổn định thì các vùng chuyên canh khác còn đang trong quá trình hình thành, ít về số lượng, nhỏ về quy mô, lại chưa ổn định, các vùng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc chủ yếu phát triển dựa trên cơ sở các vùng truyền thống, thiếu sự tác
động tích cực của khoa học công nghệ, chưa đáp ứng được các yêu cầu nguyên liệu của công nghiệp
Hiện nay cả nước có gần 10 triệu hộ gia đình nông dân với đất nông nghiệp bình quân 0,8ha/hộ có tới hàng triệu thửa đất nhỏ và manh mún, quả thật chỉ phù hợp với sản xuất bằng lao động thủ công, nếu không sử lý thì không thể công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nhất là ở đồng bằng sông Hồng và miền Trung
Để phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của những ngành nghề truyền thống, từng bước phát triển các ngành sản xuất mới có khả năng, coi trọng các ngành sản xuất nông sản quý hiếm có lợi thế để phát huy tiềm lực đa dạng của nền nông nghiệp, đảm bảo sức cạnh tranh bền vững của nông sản hàng hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập với thị trường khu vực và thế giới, thì trước hết cần tập trung xây các vùng chuyên canh sản xuất trên quy mô lớn và từng bước được hiện đại hoá
Các vùng chuyên canh trồng lúa xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long
và một vài tỉnh của đồng bằng Sông Hồng, với tổng diện tích khoảng 0,8-1 triệu ha để hàng năm làm ra khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu đạt chất lượng cao
Các vùng chuyên canh ngô ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây nguyên, đồng bằng Sông Hồng và miền núi phía Bắc, với tổng diện tích khoảng 1 triệu ha để hàng năm sản xuất khoảng 4-5 triệu tấn ngô hàng hoá
Trang 3Các vùng cà phê ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và trung bộ khoảng 300.000
ha
Các vùng chè xuất khẩu tập trung ở miền núi phía Bắc, với diện tích khoảng 100.000ha
Vùng chuyên canh điều ở Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và một phần ở Tây Nguyên với diện tích khoảng 300.000ha
Các vùng cây ăn quả tập trung, gồm cây ăn quả nhiệt đới ở Nam Bộ và cây ăn quả á nhiệt đới ở miền núi phía Bắc khoảng 500.000ha
Các vùng chăn nuôi lợn xuất khẩu ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng và
Đồng bằng Sông cửu Long v.v
Trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh của từng vùng về tiềm năng đất
đai, khí hậu và kinh nghiệm truyền thống, cùng với việc đẩy nhanh tiến độ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để tạo ra nhiều loại nông sản hàng hoá
đa dạng đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Như vậy để đạt được mục tiêu trên không thể không tiến hành quy hoạch
và thực hiện các biện pháp đồng bộ để tạo ra các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn gắn kết liên hoàn giữa trước sản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất, giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ, tạo hành lang thông suốt từ sản xuất của nông dân đến thị trường tiêu thụ
7 Sự phát triển của công nghiệp chế nông sản của nước ta:
Nhìn chung, công nghiệp chế biến nông sản của nước ta đã bước đầu vượt qua được những khó khăn của thời kỳ đầu chuyển sang cơ chế thị trường
và đã có một số tiến bộ
Năm năm vừa qua, nhất là hai năm 1995- 1996, là thời kỳ tập trung đầu tư cao cho công nghiệp chế biến nông sản Hầu hết các doanh nghiệp chế biến nông sản đã đi vào đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, đổi mới thiết bị và công nghệ, tăng thêm cơ sở và công suất, làm cho năng lực chế biến nông sản tăng nhanh, đặc biệt là công nghiệp chế biến mía đường
Các doanh nghiệp cũng đã xúc tiến nhanh việc tiếp cận thị trường trong
và ngoài nước, bố trí lại sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm và cải tiến mẫu mã phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của từng thị trường Sản phẩm chè chế biến từ 7 mặt hàng (3 loại chè đen và 4 loại chè hương) nay đã có 45 mặt hàng chè tham gia vào thị trường Về cà fê, ngoài cà fê nhân đã có các mặt hàng cà fê hoà tan, cà fê rang xay xuất khẩu, mặt hàng gạo xuất khẩu cũng đa dạng hơn
Trang 4Sản lượng công nghiệp chế biến nông sản cũng đã tăng đáng kể Trong năm 1995 sản lượng gạo, ngô qua chế biến: 12,5 triệu tấn, tăng 4,5 triệu tấn so với năm 1990, đường mật các loại 393.000 tấn, tăng 70.000 tấn, chè búp khô chế biến công nghiệp 35.000 tấn, tăng 11.000 tấn; cao su mủ khô 120.000 tấn, tăng trên 50.000 tấn; cà fê nhân trên 200.000 tấn, tăng gấp 4 lần so với năm 1990 Đặc biệt là gạo chất lượng cao (tỷ lệ tấm 15 -5%) tăng lên rất nhanh,
từ dưới 1% năm 1990 lên trên 70% vào năm 1995, làm thay đổi hẳn cơ cấu và giá trị gạo xuất khẩu của nước ta
Nhờ vậy giá trị sản lượng chế biến nông sản liên tục tăng với tốc độ cao, bình quân 5 năm 1991- 1995, giá trị sản lượng chế biến lương thực tăng 17,4% năm, giá trị sản lượng chế biến thực phẩm tăng 12,7% năm
Nhìn chung là công nghiệp chế biến nông sản đã có bước tiến bộ đáng kể nhưng còn nhỏ bé và chưa phát triển tương xứng với khả năng của nguồn nguyên liệu, nổi bật là:
Tỷ trọng nông sản được chế biến công nghiệp còn quá thấp, mới chỉ đạt 30% sản lượng mía, gần 60% chè, dưới 20% rau quả
Phần lớn các cơ sở chế biến lúa gạo, chè rau quả, mía được xây dựng
đã lâu, thiết bị và quy trình công nghệ lạc hậu Tuy nhiên, hiện nay đã có một
số nhà máy xay xát, đánh bóng, phân loại gạo, chế biến đường, cao su, ươm tơ, chế biến thức ăn chăn nuôi mới được xây dựng có máy móc thiết bị tương đối hiện đại, nhất là các cơ sở liên doanh hay đầu tư 100% vốn nước ngoài, nhưng số lượng các cơ sở này lại chưa nhiều Chất lượng chế biến nông sản nhìn chung còn thấp, hiệu quả chế biến chưa cao nên sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế kém, làm cho nông dân nước ta phải chịu nhiều thua thiệt
8 Những thuận lợi của quá trình CNH - HĐH nông nghiệp ở nước ta:
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như: Việc giao quyền sử dụng
đất nông nghiệp lâu dài cho hộ nông dân, chuyển đổi mô hình và cách thức tổ chức hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp, các nông, lâm trường, trạm trại; thực hiện các chương trình quốc gia về nông nghiệp và nông thôn như chương trình 120 (cho vay giải quyết việc làm) chương trình 327 (phủ xanh đất chống, đồi trọc), chương trình 773 (khai phá vùng bãi bồi ven biển) Kết quả là ngành nông nghiệp đã có chuyển biến tích cực Nông nghiệp đã đảm bảo đủ nhu cầu lương thực cho nhu cầu an toàn lương thực,trở thành một trong những thế
Trang 5mạnh xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước; đất đã được sử dụng có hiệu quả hơn cả về số lượng lẫn chất lượng khai thác; đời sống nông dân từng bước được cải thiện và nâng cao
Chúng ta có một thuận lợi nữa cho quá trình CNH - HĐH nông nghiệp là hiện nay nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế quan hệ với các nước trong khu vực và ngoài thế giới, nên có thể tiếp thu được những kinh nghiệm, những tiến bộ khoa học mới vận dụng vào trong nông nghiệp của mình Mặt khác hiện nay ở nước ta vai trò của kinh tế hộ ngày càng được khẳng định, nó là đơn vị kinh tế tự chủ, rất năng động, sáng tạo trong việc tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ mới vào trong sản xuất nông nghiệp
9 Những khó khăn và thách thức trong quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nước ta:
* Khó khăn:
Khó khăn trước hết là hiện nay nền nông nghiệp nước ta vẫn mang một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ là phổ biến, việc cơ giới hoá thì chậm phát triển, diện tích đất nông nghiệp thì còn manh mún, phân tán, điều kiện đất đai canh tác bình quân trên đầu người còn thấp và đặc biệt ở nông thôn, trình độ
về phát triển kinh tế, trình độ về khoa học và công nghệ còn yếu kém và chuyển biến chậm
Vai trò của kinh tế hộ tuy đã được khẳng định, nhưng khả năng về mặt tài chính của họ thì còn rất eo hẹp và nhỏ bé Trên đây cũng là những khó khăn cơ bản mà nó đã không gây sự kìm hãm nhỏ đối với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp hiện nay
* Thách thức:
Khác với nhiều nước trong khu vực, sự phát triển sản xuất ở Việt Nam lại diễn ra trong bối cảnh mức tăng dân số và tỷ lệ đói nghèo cao Công tác giáo dục và đào tạo, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi cao còn nhiều khó khăn, hạn chế Hệ thống phúc lợi công cộng, cơ sở vật chất kỹ thuật
và các vấn đề xã hội khác còn một khoảng cách xa với yêu cầu Tỷ lệ người nghèo, hộ nghèo tuy có xu hướng giảm nhưng mức sống còn rất thấp Chênh lệch mức sống vật chất và văn hoá giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng ngày càng tăng Căng thẳng xã hội về nguồn nhân lực dư thừa ngày càng nóng bỏng Bên cạnh đó, trong nhiều năm chiến lược phát triển kinh tế xã hội chưa chú ý đúng mức tới bảo vệ môi trường, môi trường sống trong lành ở nông thôn cũng đang bị suy thoái nghiêm trọng Rừng núi nghèo kiệt, nguồn nước