LỜI MỞ ĐẦUHơn 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt đượcnhiều kết quả và thành tựu đáng kể,
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt đượcnhiều kết quả và thành tựu đáng kể, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước.Thế và lực của Việt Nam được tăng cường, vị thế quốc tế được nâng cao.Nước ta không còn là một nước nông nghiệp lạc hậu kém phát triển, từ quanliêu bao cấp đã trở thành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa
Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang vận hành theo cơ chế mới từĐại hội VI (1986) Sự kiện đánh dấu bước chuyển này là việc khẳng định
đường lối đổi mới kinh tế của Việt Nam: “Phát triển nền kinh tế hàng hoá
có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội”, coi chính
sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, có tính quy luật
từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội
Đại hội đã thay đổi cơ bản phương thức phát triển của đất nước, mở đầucho hàng loạt những đổi mới toàn diện sau này trên tất cả các lĩnh vực nôngnghiệp, công nghiệp, văn hoá, xã hội …
Bài tiểu luận này chúng em xin nêu những nội dung cơ bản của Đảng ta
vềchủ trương đổi mới phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Trang 3I KHÁI NIỆM CƠ CẤU KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
VÀ KINH TẾ HÀNG HÓA:
1 Khái niệm cơ cấu kinh tế nhiều thành phần:
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận của nền kinh tế quốc dân, đượcsắp xếp theo một tương quan tỉ lệ nào đó
Thành phần kinh tế là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân xét về mặtquan hệ sản xuất với hình thức sở hữu và quan hệ sở hữu đặc trưng, với trình
độ nhất định về lực lượng sản xuất
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là tổng thể các thành phần kinh tế, đượcsắp xếp theo một tương quan hợp lí nhằm mục tiêu phát triển lực lượng sảnxuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới
2 Khái niệm kinh tế hàng hóa:
Là mô hình kinh tế dựa trên quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hóa
Trang 4II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRƯỚC 1986:
Xét một cách tổng thể, từ năm 1955 đến 1985, nền kinh tế nước ta đã trảiqua nhiều thời kì phát triển khác nhau Căn cứ vào đặc trưng của mỗi thời kì
có thể phân chia sự phát triển và biến đổi nền kinh tế ở nước ta qua 3 thời kìkhác nhau:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III xác định là: xây dựng đời sống ấm
no hạnh phúc ở Miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh chocuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà
c) Thành tựu:
Phát triển nhanh về các lĩnh vực kinh tế và xã hội, cơ sở vật chất trongcông nghiệp, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng được xây dựng Tốc độ phát triển
Trang 5kinh tế cao, giáo dục, y tế phát triển khá nhanh, xã hội miền Bắc xã hội donhững người lao động làm chủ, đời sống tinh thần lành mạnh.
Miền Bắc trở thành hậu phương lớn, căn cứ địa vững chắc để nhân dân cảnước có thể đánh thắng đế quốc Mĩ
Là mô hình có tính tập trung cao với những đặc điểm chủ yếu là:
Nhà nước quản lí nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệthống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanh nghiệphoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vàcác chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư,tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, tiền lương, nhân sự… đều do cáccấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn,vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nộp các sản phẩm cho Nhà nước Lỗthì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất
và pháp lí đối quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do các quyết định
Trang 6không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu Các doanh nghiệpkhông có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc tráchnhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh.
Quan hệ hàng hoá – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vậtchủ yếu Nhà nước quản lí kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp” Vìvậy, rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, tưliệu sản xuất quan trọng, không được coi là hàng hóa về mặt pháp lí
Bộ máy quản lí cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừasinh ra đội ngũ quản lí kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan lieu, nhưnglại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu:
- Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết
bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so vớigiá trị thị trường Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
- Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độphân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, theo địnhmức hình thức tem phiếu
- Bao cấp theo chế độ phát vốn của ngân sách, nhưng không
có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấpvốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho
sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin – cho”
Mô hình này quá đề cao vai trò của một thành phần kinh tế xã hội chủnghĩa dưới hai hình thức: Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, còn các thànhphần kinh tế khác bằng những chính sách, biện pháp hành chính, áp đặt nóng
Trang 7vội để đẩy nhanh tiến độ cả tạo xã hội chủ nghĩa đối với chúng, với mục tiêuchính không phải là để huy động, phát triển, mà là hạn chế, thu hẹp, thậm chíxoá bỏ các thành phần kinh tế.
c) Kết quả, hạn chế:
Trong một thời gian, mô hình kinh tế này đã từng phát huy tác dụng tíchcực trong việc thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá theo kiểu cổ điển, tậptrung được các nguồn lực, sức người, sức của đáp ứng yêu cầu của cuộckháng chiến chống Mĩ cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước
Nhưng càng về sau mô hình này càng bộc lộ những khiếm khuyết: cácnhu cầu của xã hội vượt quá khả năng đáp ứng của một nền kinh tế kém hiệuquả, thiếu năng động do thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu;công tác, chỉ đạo, quản lí cũng phạm phải một số sai lầm
d) Chủ trương cải cách:
Đảng và Nhà nước ta đã dần dần thấy ra được những nhược điểm của môhình kinh tế đó và đã bắt đầu có chủ trương cải tiến một phần cơ chế quản líkinh tế
Thí dụ:
- Hội nghị lần thứ 20 Ban chấp hành Trung ương khóa III (tháng 4-1972)bàn về quản lí kinh tế đã thấy rõ sức cản của cơ chế quản lí hành chính cungcấp và chủ trương chuyển sang thực hiện phương thức kinh doanh xã hội chủnghĩa
- Hội nghị lần tháy 24 Ban chấp hành Trung ương khóa III (tháng 9 –1975) đã đề cập đến vấn đề duy trì nền kinh tế nhiều thành phần ở miền Nam
Trang 8trong một thời gian nhất định, ra sức sử dụng mọi khả năng lao động kĩ thuật,tiền vốn, kinh nghiệm quản lí để đẩy mạnh sản xuất.
3 Thời kì 1976 – 1985:
a) Hoàn cảnh đất nước:
Đây là thời kì cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình đấtnước gánh chịu những đảo lộn kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộcchiến tranh ác liệt lâu dài
Nước ta có những thuận lợi và khó khăn:
Mỹ thực hiện kế hoạch “hậu chiến” chống phá Việt Nam: bao vây cấmvận, sử dụng bọn tay sai gây bạo loạn
Sau giải phóng miền Nam ta chưa đánh giá hết những khó khăn, còn lạcquan với chiến thắng của đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai
Trang 9Đảng và nhân dân ta lại phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở haiđầu biên giới: chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phíaBắc.
Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khó khăn, trì trệ, yêu cầu khách quanphải cải tổ, cải cách
b) Sức ép từ phía quốc tế với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam:
Chính phủ Mĩ thi hành chính sách cấm vận kinh tế đối với Việt Namnhằm đặt nền kinh tế Việt Nam vào thế cô lập, suy yếu và dẫn đến sụp đổ
Khi Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội thì Liên Xô và cácnước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và nhiều nước trong hệ thống xã hội chủnghĩa trên thế giới cũng lâm vào tình cảnh tương tự
Do khủng hoảng kinh tế, các nước xã hội chủ nghĩa cũng không thể triểnkhai kế hoạch hợp tác kinh tế với Việt Nam một các bình thường Do đó, việntrợ từ các nước xã hội chủ nghĩa – nguồn lực phát trỉển hết sức quan trọng đốivới Việt Nam – bị suy giảm; hoạt động thương mại của Việt Nam đối với khuvực thị trường truyền thống, thị trường quan trọng hàng đầu cũng bị suy giảmmạnh, làm trầm trọng thêm những mất cân đối lớn vốn có của nền kinh tế
Trong khi đó, Trung quốc đã thành công trong việc “cải cách, mở cửa”vào năm 1978 nền kinh tế theo định hướng thị trường nhưng vẫn giữ được conđường xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế Trung Quốc có sự tăng trưởng pháttriển nhanh
Hơn thế, trên thế giới cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật đang diễn ravới quy mô lớn chưa từng có,đem lại cho loài người những thành tựu vô cùng
to lớn Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật, nhiều nước
Trang 10trên thế giới thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, mở cửa nền kinh tế và phát triểnkinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước.
c) Sai lầm, khuyến điểm trong hoạt động của Đảng, Nhà nước:
Sản xuất tăng chậm so với khả năng, yêu cầu vốn có của nền kinh tế, hiệuquả sản xuất, đầu tư thấp, năng xuất lao độn giảm, chất lượng sản phẩm sútkém Những mất cân đối lớn của nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt còngay gắt hơn trước Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố, vaitrò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh yếu, các thành phần kinh tế xã hội chủnghĩa chưa được cải tạo và sử dụng tốt
Đời sống nhân dân, nhất là công nhân viên chức còn nhiều khó khăn.Nhiều người lao động chưa có việc làm, nhiều nhu cầu tối thiểu của người dânchưa được đảm bảo Hiện tượng tiêu cực phát triển, công bằng bị vi phạm,pháp luật, kỉ cương không nghiêm;lộng quyền, tham nhũng, những hoạt độngphi pháp chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời
Thực trạng trên làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạocủa Đảng và của các cơ quan Nhà nước
d) Quá trình hình thành đường lối đổi mới 1976 – 1986:
* Giai đoạn 1976 – 1981:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (tháng 12 – 1976) đã đề ra đườnglối chung với những nội dung chủ yếu: xây dựng nền kinh tế mới xã hội chủnghĩa ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí trên cơ sở phát triểnnông nghiệp và công nghiệp nhẹ, xây dựng kinh tế Trung ương và phát triểnkinh tế địa phương, kết hợp lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan
Trang 11hệ sản xuất mới; xây dựng chế độ mới: chế độ làm chủ tập thể xã hội chủnghĩa; xây dựng nền văn hóa mới; xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Từ những đường lối chung đó, Đại hội đã đề ra những chỉ tiêu cụ thể cho
kế hoạch 5 năm (1976 – 1980):
Ở miền Nam tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa nông dân vào tậpđòan sản xuất, hợp tác xã Đến 1979, các tỉnh miền Nam đã căn bản hoànthành việc đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể dưới hai hình thức tậpđoàn sản xuất và hợp tác xã Tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tưnhân đạt kết quả
Ở miền Bắc chủ trương đưa các hợp tác xã lên quy mô lớn và tập trung.Toàn miền Bắc năm 1979 có 4.154 hợp tác xã có quy mô toàn xã Nhưng các
mô hình này không mang lại hiệu quả
Tháng 3 – 1977, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định trong hainăm 1977 – 1978 hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đốivới công thương nghiệp tư bản tư doanh, trước hết là xóa bỏ thương nghiệp tưbản chủ nghĩa Đối với nông nghiệp Nam bộ, áp dụng mô hình tập thể hóa ởmiền Bắc, không phù hợp với đặc điểm của một nền nông nghiệp đã bước đầusản xuất hàng hóa Kết quả là chẳng những không thúc đẩy được sản xuất ởNam bộ phát triển mà lại kiềm hãm nông nghiệp phát triển theo hướng sảnxuất hàng hóa Nền nông nghiệp cả nước lâm vào tình trạng khủng hoảng.Năm 1978, thống nhất tiền tệ trong cả nước
Trong những năm 1976 – 1978, xuất hiện “Khoán chui” trong nôngnghiệp ở Đồ Sơn (Hải Phòng) với hình thức giao ruộng đất cho nông dân sảnxuất và có hiệu quả Thành ủy cho triển khai khoán trong toàn Hải Phòng.Đây là dấu hiệu của các làm ăn mới
Trang 12Kết quả:
Nhìn chung kinh tế phát triển chậm, giá cả mỗi năm tăng 2%, lạm phát bacon số Tổng sản phẩm xã hội tăng 1,4%/năm, thu nhập quốc dân tăng 4%trong khi số dân tăng 2,24%/năm, thiên tai dồn dập, đất nước thật sự lâm vàokhủng hoảng kinh tế - xã hội
Thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 6 của ban chấp hành trung ươngkhoá IV, tháng 9 – 1979 chinh phủ ra quyết định tận dụng đất nông nghiệp,qui định rõ mức được hưởng đối với tập thể và người lao động có công tậndụng đất hoang hoá Tháng 10 – 1979, hội đồng chính phủ công bố quyết địnhxóa bỏ các trạm kiểm soát để người sản xuất được tự do lưu thông hàng hóangoài thị trường, không phải nộp thuế sau khi làm tròn nghĩa vụ đầy đủ đốivới nhà nước Nhà nước tăng mức đầu tư cho nông nghiệp về phân bón,giống, cơ khí Năm 1979, sản lượng lương thực tăng 1.718.500 tấn so với năm
1978 Tiểu thủ công nghiệp được chú trọng và phát triển
Trước tình hình khó khăn và trì trệ của sản xuất nông nghiệp, nhiều địaphương (như Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ An) đã mạnh dạn tìm cách tháo gỡ:khoán việc cho các hội xã viên nhưng bề ngoài vẫn giữ mô hình tập thể
Trang 13(khoán chui) Căn cứ vào kết quả thực tế, ban bí thư trung ương Đảng chophép các địa phương mở rộng khoán sản phẩm và khoán việc.
Trong công nghiệp, chính phủ chủ trương phát huy quyền chủ động sảnxuất kinh doanh và quyền tự chủ về nền kinh tế của các xí nghiệp quốc doanh
Mở rộng hình thức trả lương khoán, lương thực phẩm Góp phần làm giảmtình trạng trì trệ trong sản xuất của doanh nghiệp nhà nước
* Giai đoạn 1982 – 1985:
Đại hội Đảng lần thứ 5 chủ trương tiếp tục tìm tòi cơ chế quản lí mới cho
thích hợp, xoá bỏ cơ chế cũ, điều chỉnh lại cơ cấu, qui mô, tốc độ và các bước
đi của công nghiệp hóa
Kết quả:
Tình hình kinh tế xã hội có nhiều chuyển biến nhất định: Nông nghiệptrong thời kì 1981 – 1985 tăng 4.5% Sản lượng lương thực tăng đều trong 5năm, từ 15 triệu tấn lên 18.2 triệu tấn, tốc độ bình quân của công nghiệp trongcác năm 1981 – 1985 là 9.5%
Cuối năm 1984 đầu năm 1985, Long An đi đầu về xóa bỏ bao cấp trongsản xuất, khuyết khích các đơn vị tự chủ trong sản xuất, bỏ tem phiếu, xóa bỏcác bất hợp lí trong cung - cầu
Hạn chế:
Trên lĩnh vực lưu thông phân phối còn nhiều vấn đề nóng bỏng chưađược giải quyết Trong bối cảnh đó, Đảng và nhà nước ta tiến hành cải cáchgiá, lương, tiền lần thứ nhất năm 1981 – 1982 Lần cải cách này đã làm cho
Trang 14lạm phát trầm trọng thêm từ đó đẩy giá thị trường tiếp tục tăng nhanh (năm
1985 tăng thêm 300% so với năm 1984)
Khắc phục:
Tháng 6 – 1985, hội nghị trung ương lần thứ 8 họp chuyên bàn về giá –lương - tiền, quyết định phải dứt khoát xóa bỏ tập trung quan liêu bao cấp,thực hiện chế độ tập trung dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doan xã hội chủnghĩa Hội nghị cho thấy Đảng đã có sự đổi mới tư duy trên lĩnh vực phânphối lưu thông một cách cơ bản, đã thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quiluật của sản xuất hàng hóa
Tóm Lại:
Từ hội nghị 6 ban chấp hành trung ương khóa IV (Tháng 8 – 1979) đếnhội nghị 8 ban chấp hành trung ương khoá V, những chủ trương có tính chấtđổi mới đã từng bước đi vào thực tiễn nước ta, là cơ sở để Đảng ta hình thànhđường lối đổi mới toàn diện
Đảng đã khẳng định: chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến củanhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng Bước đầu,Đảng ta đã thành công trong đổi mới tư duy lí luận, nhất la tư duy kinh tế,nhận thức rõ hơn những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kì quá
độ, về chủ nghĩa xã hội
Những năm 1976 – 1986 là thời kì đầy khó khăn thử thách Đảng cộngsản Việt Nam với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, đãquyết tâm đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, đưa đất nước tiếnlên
Trang 15III ĐẠI HỘI KHÓA VI (1986):
1 Hoàn cảnh lịch sử của đại hội:
Đại hội VI của Đảng họp từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986 tạithủ đô Hà Nội trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những thuận lợi nhưngcũng không ít khó khăn, thách thức:
- Việt Nam vẫn chịu tác động của chính sách bao vây cấmvận của đế quốc Mỹ
- Kinh tế phát triển chậm, sản xuất trì trệ do sai lầm chủquan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, nóng vội trong cải tạo
xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa
- Trải qua thời kì khảo nghiệm thực tiến tìm tòi con đườngđổi mới có không ít khuyết điểm, vấp váp nhưng Đảng, Nhà nước,nhân dân ta cũng có được những thành tựu và kinh nghiệm bước đầu
- Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa cũng có nhiều khókhăn và đứng trước yêu cầu khách quan phải cải tổ, cải cách Côngcuộc cải cách ở Trung Quốc đạt được những thành công bước đầu
Thực tiễn đó đòi hỏi đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng,đối với vận mệnh của dân tộc
2 Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội VI
đề ra:
Đổi mới cơ cấu kinh tế: (cơ cấu công – nông nghiệp; cơ cấu nội bộ
ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; côngnghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện)
Trang 16Đại hội xác định phải “Tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nôngnghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước tiến lên sản xuất lớn
xã hội chủ nghĩa”; công nghiệp nặng thì “phải nhằm phục vụ các mục tiêukinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, và theo khả năng thực tế,chuẩn bị tiền đề cho sự phát triển kinh tế trong chặng đường tiếp theo”…
Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm:
Chương trình lương thực thực phẩm phát triển theo hướng đẩy mạnhthâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích cây lúa ở những nơi có điều kiện,phấn đấu tăng diện tích ruộng đất sử dụng của cả nước Ở những nơi có điềukiện phải thực hiện khai hoang, mở rộng thêm diện tích trồng trọt; phải coitrọng cả lúa và màu; đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, tăng đàn gia súc, gia cầm,
áp dụng rộng rãi mô hình VAC để nâng cao hiệu quả sản xuất…
Chương trình hàng tiêu dùng thì chú trọng tăng cường sản xuất hàng tiêudùng về số lượng, chủng loại để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội; tậptrung giải quyết vấn đề nguyên liệu, tận lực khai thác các nguồn nguyên liệutrong nước, đồng thời ưu tiên dành ngoại tệ để nhập khẩu những nguyên liệucần thiết Phải đổi mới cơ chế và chính sách để thu hút lực lượng tiểu, thủcông nghiệp và các lực lượng khác tham gia làm hàng tiêu dùng
Chương trình hàng xuất khẩu “tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủlực; đạt kim ngạch xuất khẩu đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật
tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hóa cần thiết”