1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr

63 1,4K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Tác giả Phạm Thu Hương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Thành
Trường học Viện Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Công nghệ sinh học
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005-2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 3,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây vải có tên khoa học là Litchi chinensis Sonn. Thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc. Ngày nay, cây vải được trồng ở nhiều nước trên thế giới.

Trang 1

CHƯƠNG 1 : MỞĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây vải có tên khoa học là Litchi chinensis Sonn Thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc Ngày nay, cây vải

được trồng ở nhiều nước trên thế giới

Vải là cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Thịt quả chứa rấtnhiều vitamin B, C, E và các chất vi lượng có lợi cho sức khoẻ con người.Quả vải được ăn tươi, sấy khô hoặc làm đồ hộp, nước giải khát Vỏ quả, thâncây và rễ có nhiều tanan có thể dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp Hoavải còn là nguồn mật có chất lượng cao Ngoài ra gỗ vải là loại gỗ quý, khôngmối mọt, bền nên có thể dùng để xây nhà, đóng đồ Tán cây vải cao lớn, sumsuê, rễ bám chắc có thể làm cây bóng mát, cây chắn gió, phủ xanh đất trốngđồi núi trọc, chống xói mòn,giữ cho đất luôn tươi xốp, mang nhiều ý nghĩa

về mặt môi trường

Cây vải có tính thích ứng mạnh, dễ trồng, chịu được đất chua, đất dốc nênphát triển tốt trên các vùng đồi hoang hoá Ở Việt Nam vải thường được trồngphổ biến ở vùng núi phía Bắc và miền trung du Chủ trương của Đảng vàchính phủ là chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế trang trại nhằmxoáđói giảm nghèo Vì vậy trong những năm gần đây diện tích trồng vải trênđất đồi tăng lên nhanh chóng, đời sống của bà con nông dân không ngừngđược cải thiện, kinh tế ngày càng phát triển, đồng thời giúp ổn định được trật

tự an ninh xã hội

Diện tích trồng vải tăng nhanh đồng nghĩa với việc mật độ và chủng quầnsâu hại gia tăng Có rất nhiều loại côn trùng hại cho vải như bọ xít hại nhãnvải, sâu cuốn lá, sâu đo, sâu xanh bướm vàng xám, rệp muội, rệp sáp, Đểphòng trừ sâu hại nông dân đã dựa chủ yếu vào thuốc hoá học mà không biếtđến tác hại của nó gây ra như : làm phá vỡ mối cân bằng sinh thái tiêu diệt cácloài kẻ thù tự nhiên, làm ô nhiễm môi trường, làm tăng tính kháng thuốc củanhững loài sâu hại Việc sử dụng thuốc hoá học bừa bãi đãđể lại lượng tồn

Trang 2

dưhoá chất trong nông sản, thực phẩm làm ảnh hưởng đáng kể tới sức khoẻcộng đồng.

Đểổn định và phát triển nông nghiệp một cách bền vững nói chung cũng nhưcây vải Thiều nói riêng cần nâng cao sự hiểu biết cho cộng đồng về sâu hại vàthiên địch của chúng để có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn dịch hại cũng nhưbảo vệ khai thác hợp lý những loài côn trùng cóích, hạn chế sử dụng thuốcbảo vệ thực vật độc hại cho con người và môi trường sống

Được phép của khoa Công nghệ sinh học  Viện Đại học Mở Hà Nội, dưới sựhướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Xuân Thành  Viện Sinh thái vàTài nguyên sinh vật, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr tại Sóc Sơn Hà Nội và các vùng phụ cận năm 20052006.

1.2 MỤCTIÊUCỦAĐỀTÀI.

 Xác định được thành phần côn trùng có lợi và có hại theo mùa vụ

và theo vùng địa lý

 Vẽđược đồ thị quy luật biến động số lượng của bọ rùa 18 chấm

Harmonia sedecimnotata Fabr

 Nắm được đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái cơ bản của bọ rùa

18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr.

Vai trò của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr trong

việc tiêu diệt côn trùng hại

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

A.Điều tra nghiên cứu tại thực địa.

1 Xác định sựđa dạng về thành phần loài côn trùng hại và thiên địch củachúng

2 Xác định quy luật phát sinh cũng như sự phân bố loài theo cây hoặcnhóm cây trồng theo mùa vụ hoặc vùng lãnh thổđịa lý

B Nghiên cứu trong phòng

Trang 3

1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái cơ bản của bọ rùa

18 chấm

2 Nghiên cứu khả năng tiêu diệt rệp của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata nhằm đề xuất hướng bảo vệ, sử dụng một cách có hiệu quả.

Trang 4

CHƯƠNG 2 : TỔNGQUAN

2.1.TÌNHHÌNHNGHIÊNCỨUVỀCÔNTRÙNGHẠIVÀTHIÊNĐỊCHCỦA CHÚNG.

Cây vải là cây á nhiệt đới, nóng quá thì không ra hoa chỉ ra lá, rét quá thìchết Vải được trồng ở những nơi cóđộẩm cao thường trồng ở vùng đồi núi,

do đó thuận lợi cho các loại côn trùng phát triển Ở các vùng địa lí khác nhau,những giai đoạn sinh trưởng và phát triển khác nhau có nhiều loại côn trùngkhác nhau tấn công gây hại làm tổn thất về chất lượng và năng suất của sảnphẩm

2.1.1 Những nghiên cứu về côn trùng vải thiều của các tác giả nước ngoài

ỞẤn Độ, L.B Singh đã tìm ra 11 loài ong, ruồi , ong bắp cày và những loài

côn trùng khác thấy ở hoa vải Ong mật, phần lớn làApiscerana indica, A dorsata vàA florea, 78% thụ phấn vải và chúng làm việc cả ngày vàđêm.

(http://lychee.htm )

Năm 1932, Liên Xôđã nhập nội một loài bọ rùa từ Ai Cập có sức tiêu thụ

rất mạnh các loài rệp Pseudococcus gabani, Pseudococcus cirti và rệp Pulvinaria phá hoại trên cây ăn quả và cây chè, kết quả làđã diệt được phần

Trang 5

Năm 1993 D.F Waterhouse đã công bố 4 loài sâu hại chính và quan trọng

ở phía nam Châu Á làAceria litchi (Keifer), Cnopomorpha sinensis, Cossus sp., Tessaratoma papillosa Drury (The Maior Arthropod Pest and Weed of

Agriculture in Southeast Asia: Distribution Impotance and Origin Canberra,Australia – 1993.)

Năm 1997 nhóm tác giả LiLi_ Ying Wang Ren và D.F Water house đãxác định được 10 loài sâu hại phổ biến và quan trọng trên cây nhãn và vải ởphía nam Trung Quốc (The distribution and impotance of arthropod pest andweed of Agriculture and Forestry plantationsin Southern China Canberra1997)

Năm 1998 Rajpal Singh và cộng tác viên phát hiện ra 16 loài sâu hại phổbiến tại một số huyện của Trung Quốc (K.Flower visitor of litchi and theirrole in pollinnation and fruit production Pest Management and EconomicZoology, 1998 Vol 6, No 1, pp 1 – 5.7 ref.)

Năm 1998, Liu Xi Die và cộng tác viên đã tiến hành nhân nuôi ongAnastatus Japonicus Ashmaed để trừ bọ xít nhãn vải, hiệu lực phòng trừđạt94% (Experiment of control of litchi stink bug by using Anastatus japoniusAshmead South China Fruit, 1998)

Năm 1998 Randahawa H.S và Gill R.S đã nghiên cứu về loài sâu đục hạt

vải Blastobasis sp (Lepidoptera Blastobasidae).

Năm 1998 Liu Yu Fang và cộng sự nghiên cứu và so sánh mức độ ký sinh

của 2 loài ong Anastatus sp vàOoencyrtus sp trên 2 vườn vải, 1 có sử dụng

thuốc trừ sâu hoá học, 1 vườn áp dụng biện pháp điều khiển dịch hại tổng hợpIPM , kết quả tỷ lệ ký sinh của của vườn sử dụng thuốc hoá học chỉ thấy ong

Anastatus sp xuất hiện với tỷ lệ rất thấp, không thấy ong ký sinh Ooencyrtus sp.trong khi vườn áp dụng IPM, tỷ lệ ký sinh của ong Anastatus sp là 17,7 – 18,4%, ong Ooencyrtus sp là 23,5 – 30,4%.

Năm 1998, Luo Qi Hao và cộng sựđi sâu nghiên cứu loài bướm đêm chích

hút quả vải Comocritis albicapilla Morinti, đây là một trong các loài sâu hại

Trang 6

quan trọng (Study on Comocritis albicapilla of litchi tree Journal of SouthChina Agricaltural University, 1998)

Năm 1999, Tan Shi Dong và cộng tác viên đãđiều tra phát hiện được 83loài sâu hại trên cây vải thuộc 76 giống, 30 họ, 7bộ, trong đó có 14 loài quantrọng nhất (Study on the structure and dynamic of pest community in lycheeorchard Actaphytoppylacica Sinica, 1999)

Năm 1999, Yang Chi Kun và cộng sựđã nghiên cứu về loài ruồi hại vải

thuộc giống Oligotrophiniở Quảng Đông, Trung Quốc (A new genus ang

species of gall midge (Dipera Cecidomyiidao) infesting litchi from China.Entomotaxonomia, 1999)

2.1.2.Những nghiên cứu về côn trùng vải thiều của các tác giả trong nước.

Điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta rất thuận lợi cho sự phát triển của côntrùng.Trên cơ sởđó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học Việt Nam đisâu nghiên cứu về hệ côn trùng phong phú vàđa dạng đó

Năm 1967–1968, Viện BVTV đãđiều tra thu thập được 18 loài sâu hạinhãn vải là: bọ dừa nâu, bọ dừa nâu nhỏ, sâu tiện vỏ, xén tóc mai rùa, rệp sápcạnh, rệp sáp đỏ, rệp sáp nâu mềm, bọ xít vằn, sâu cuốn lá, rệp sáp Ai Cập,rệp sáp lớn giả cam , rệp sáp hình bán cầu , ve sầu bướm , bọđa lớn hai chấm

và bọ xít nhãn (Kết quảđiều tra côn trùng 1967–1968 NXB nông thôn.)

Năm 1982, sau một quá trình nghiên cứu có hệ thống, Hoàng Đức Nhuận

đã phát hiện được ở Việt Nam trên 220 loài thuộc 65 giống, 15 tộc và 6 phân

họ (Bọ rùa – Coccinellidae ở Việt Nam NXB Khoa học và kỹ thuật HàNội - 1982)

Năm 1990, theo tác giả Vũ Công Hậu thì sâu hại vải thì có rất nhiều loàikhác nhau, trong đó có các loài gây hại chủ yếu như: bọ xít nhãn vải

(Tessaratoma papillosa), bọ xít dài hôi (Leptocorisa acuta), sâu đục vỏ (Indarbela sp), sâu cuốn lá (Olethreutes leucaspis), sâu đo xanh hai sừng (Thalassodes guadraria), rệp sáp (Ceroplastes rubens), (Trồng cây ăn quảở

Việt Nam – NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh, 1990)

Trang 7

Bọ xít Tessaratoma papillosa là loài nghiêm trọng với các vườn vải và

nhãn, chúng chích hút mầm non, quả non gây hiện tượng rụng quả, nếu chíchhút quả già thi gây kém chất lượng Năm 1995, Vũ Quang Côn và cộng sựnghiên cứu một sốđặc điểm phát sinh , phát triển của bọ xít nhãn vải

Tessaratoma papillosa Drury (Hemiptera : Pentatomidae ), đi sâu nghiên cứu

sự phát triển của cá thể, của các cơ quan sinh sản, sự phát sinh lứa và biếnđộng số lượng loài Kết quả cho thấy thời gian cùng tồn tại gối lứa của bọ xíttrưởng thành thế hệ cũ và mới kéo dài khoảng 30 ngày, trong đó bọ xít trưởngthành của thế hệ mới chiếm tới 61,4% còn bọ xít trưởng thành thế hệ cũ chỉ38,6% Bằng thực nghiệm cho thấy mỗi con cái thế hệ mới ghép đôi giao phôívới con đực thế hệ cũđẻđược 2 – 3 ổ trứng Hiện tượng tiêu sinh trứng củatrưởng thành cái xảy ra khi cách ly chúng với cây nhãn vải Mật độ bọ xít caonhất vào trung tuần tháng 4 (48 – 56 con/cây) (Một sốđặc điểm phát sinh,

phát triển của bọ xít nhãn vải Tessaratoma papillosa Drury (Hemiptera :

Pentatomidae) Những công trình nghiên cứu cơ bản , 1995 ) [225–231] Năm 1995, Trần Huy Thọ và cộng sựđã phát hiện dược 19 loài sâu hại và

4 loài nhện hại tại Hà Nội, Hải Hưng, Hà Nam, Yên Bái Những loài sâu hạichính đó là: bọ xít hại nhãn vải , rệp sáp , ve sầu bướm , sâu tiện vỏ , sâu đụccành, sâu đục thân, nhện lông nhung và ruồi đục quả (Một số kết quả nghiêncứu về sâu hại chủ yếu trên một số cây ăn quảở miền Bắc nước ta Tuyển tậpcông trình nghiên cứu Viện BVTV 1990 – 1995)

Năm 1998 – 2000, Nguyễn Xuân Hồng đã xác định được 15 loài sâu hạivải ở Lục Ngạn (Bắc Giang), và Chương Mỹ (Hà Tây) Trong đó có 14 loàithuộc 5 bộ của côn trùng và 1 loài nhện hại, phổ biến là nhện lông nhung, bọxít hại nhãn vải, rệp muội, sâu đục quả và ngài chích hút Ngoài ra còn ghinhận được một sốđối tượng khác là dơi và chuột

Năm 2001, chi cục BVTV tỉnh Bắc Giang đã ghi nhận được 17 loài sâuhại tại Bắc Giang chủ yếu là ve sầu nhảy, bọ xít nhãn vải và nhện lông nhung

Trang 8

Năm 2003, đã có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng trên cây nhãnvải.

Phạm Văn Lầm và Nguyễn Thành Vĩnh dẫn liệu bước đầu vềđặc điểm

sinh học cơ bản của ong đen Ooencyrtus phongi Trjap ký sinh trứng bọ xít

nhãn vải cho thấy: ở nhiệt độ 28,4 – 31,1°C vàđộẩm 74,2 – 79,6%,

Ooencyrtus phongi ký sinh trứng bọ xít nhãn vải lhoàn thành vòng đời trong

thời gian trung bình từ 12,8 – 13,5 ngày Tuổi thọ của ong trưởng thành kéodài 2,3 – 2,6 ngày (không được ăn thêm lá hoặc chỉ uống nước lã) đến6,9 – 11,3 ngày (được ăn thêm nước đường hoặc dung dịch mật ong 50%).Một con ong trưởng thành cái ký sinh trung bình được 12,2 trứng bọ xít

T.papillosa và sản sinh trung bình 136 ong trưởng thành cho đơì sau (Dẫn liệu bước đầu vềđặc điểm sinh học cơ bản của ong đen Ooencyrtus phongiTrjap, Myart et Kost (Hymenoptera, Encyrtidae) ký sinh trứng

bọ xít nhãn vải _ Tạp chí BVTV số 3/2003)

Cũng trong năm 2003, Phạm Đình Sắc nghiên cứu cấu trúc loài nhện bắtmồi và biến động số lượng của một số loài phổ biến trên cây vải vùng SócSơn Hà Nội đã xác định được 33 loài nhện bắt mồi thuộc 10 họ, trong đó họ

nhện nhảy Salticidae có số loài cao nhất (9 loài), tiếp đến là họ bụng tròn chăng lưới Araneidae (7 loai), họ nhện hàm dài Tetragnathidae (6 loài), họ nhện càng cua Thomicidae (3 loài), các họ còn lại 1 – 2 loài Những loài bắt

gặp nhiều và chiếm ưu thế trên vườn vải tại Sóc Sơn là nhện nhảy sọc

đỏEpocilla canlcarata, nhện nhảy vằn xanh Phintella sp., nhện càng cua lớn Heteropoda sp Số loài nhện đã xác định dược trên cây vải tại Sóc Sơn Hà

Nội phong phú hơn số loài nhện trên cây vải tại vùng Mê Linh Vĩnh Phúc.(Cấu trúc loài nhện bắt mồi và biến động số lượng của một số loài phổ biếntrên cây vải vùng Sóc Sơn Hà Nội Tuyển tập công trình nghiên cứuBVTV - Viện Bảo vệ thực vật - NXB Nông nghiệp)[125_129]

Năm 2003, Đào Đăng Tựu, Lê Văn Trịnh và Trần Huy Thọđãđiều tra thuthập được 51 loài sâu và nhện hại trong đó có 46 loài tập trung ở 6 bộ côn

Trang 9

trùng và 5 loài ở lớp nhện Bộ cánh vẩy Lepidoptera có nhiều nhất là 8 loàichiếm 35,3%, bộ cánh đều Homoptera có 15 loài chiếm 29,4%, bộ cánh cứngColeoptera 8 loài chiếm 15,7%, cánh nửa Hemiptera 3 loài chiếm 5,8%, haicánh Diptera, cánh tơ Thysanoptera chiếm 1,9% Lớp nhện có 5 loài chiếm10% Trong số 51 loài gây hại đã phát hiện có 11 loài sâu hại rất phổ biếntrong đó có 9 loài làđối tượng tập trung gây hại từ thời kỳ ra hoa cho tới lúcthu hoạch bao gồm : bọ xít vải , rệp muội , rệp sáp , sâu đục cuống quả, ruồihại quả, nhện lông nhung, nhện chổi rồng, bướm chích quả,ve sầu bướm haichấm trắng.

Các kết quả khảo sát nhện trên cây vải tại Mê Linh - Vĩnh Phúc và SócSơn- Hà Nội cho thấy số loài và mật độ nhện ở mức cao trong quần xã cácloài cóích Năm 2003, Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn đã nghiên cứu thành

phần, số lượng và sự trúđông của nhện Araneae trên cây vải vùng Mê

Linh – Vĩnh Phúc Kết quả cho thấy nhện ẩn nấp ở bên trong giữa tấm cáctông và vỏ thân hoặc cành cây Trong tổng số 30 tấm các tông được đặtcốđịnh trên cây vải thu được 179 cá thể nhện của 19loài thuộc 9 họ Loài nhện

thu được nhiều nhất là nhện nhảy vằn lưng Bianor hotingchiehi, sau đó là loài nhện nhảy sọc đỏEpocilla calcarata Số lượng nhện trúẩn qua đông đạt

cao nhất trong thời gian từ cuối tháng 10 đến giữa tháng 11, đây cũng là thời

kỳ rụng lá của vườn cây ăn quả

(Thành phần, số lượng và sự trúđông của nhện Araneae trên cây vải tại

vùng Mê Linh- Vĩnh Phúc Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học

sự sống-báo cáo khoa học hội nghị toàn quốc lần thứ 2, nghiên cứu cơ bảntrong sinh học, nông nghiệp, y học - Huế 25 - 26/7/2003) [713 – 716]

Theo Bùi Lan Anh và Ngô Xuân Bình, đã nghiên cứu điều tra một số sâubệnh hại nhãn vải tại Thái Nguyên năm 2002 – 2003 Kết quả cho thấy sâuhại nhãn vải có 19 loài, trong đó hại lá 12 loài, hại thân cành 1 loài và 6 loàihại hoa và quả Trong số những loài sâu hại đáng chúý là sâu đục gân lá tỷ lệhại trung bình 5 - 10% , nơi bị hại nhiều nhất có khi lên tới 19 - 26% Sâu

Trang 10

đục quả tỷ lệ hại trung bình 0,5%, nơi bị hại nặng tỷ lệ hại trên 10% Các loài

bọ xít, sâu ăn lá, sâu đục thân cành cây gây hại có tính chất cục bộ (Một sốkết quảđiều tra sâu bệnh hại nhãn vải tại Thái Nguyên năm 2002 – 2003 Tạpchí Bảo vệ thực vật số 6/2003)

TS.Nguyễn Xuân Thành - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, đãđónggóp cho nghành nghiên cứu côn trùng học nói chung và côn trùng trên cây vảinói riêng nhiều công trình nghiên cứu có giá trị

Năm 1998 – 1999, Nguyễn Xuân Thành nghiên cứu ở nông trường BìnhKhê , xã Tràng Lương , huyện Đông Triều, Quảng Ninh và nông trường HàTrung, Thanh Hoá Số lượng loài thu được là 77 loài sâu hại và 1 loài nhệnhại, trong đó : Bộ cánh phấn có 39 loài, bộ cánh đều 13 loài, bộ hai cánh có 1loài, bộ cánh nửa 4 loài, bộ cánh cứng 19 loài Côn trùng cóích gồm 14 loàicôn trùng ăn thịt (thuộc 6 bộ và 8 họ ) và 13 loài côn trùng ký sinh (11 loàithuộc bộ cánh màng , 2 loài thuộc bộ hai cánh) Nhện hại mới phân loại được

một loài làEriophies litchi Keifer thuộc họ Eriophydae, số lượng loài nhện ăn

thịt thu được là 10 loài Ông đã nghiên cứu sinh học sinh thái về loài sâu cuốnláđầu đen và sâu cuốn láđầu nâu, nhóm sâu nhớt, nhóm sâu đo xanh, sâu đohình que đầu hai sừng, sâu đo nâu xám , nhóm bướm chích quả , sâu đụccuống quả , sâu đục gân lá, bọ cánh cứng , bọ cánh gân nâu, bọ hung , bọ xítnhãn vải , bọ mắt vàng , nhện lông nhung, câu cấu, bọ dừa, ong ký sinh trứng

bọ xít nhãn vải và ong ký sinh sâu non bộ cánh vẩy (Côn trùng và VSV trêncây vải thiều tại Quảng Ninh và Thanh Hoá - Biện pháp lợi dụng vàđiều khiểnchúng Kỷ yếu hội nghị khoa học, công nghệ và môi trường các tỉnh miền núiphía Bắc lần thứ 7)

Năm 2000, Nguyễn Xuân Thành nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học,

sinh thái của hai loài bọ mắt vàng Chrysopasp vàAnkylopteryxsp.

(Chrysopidae) trên cây vải thiều Đông Triều, Quảng Ninh Kết quả cho thấyhai loài bọ mắt vàng đều thuộc phân họ Chrysopinae Esben-Petesen 1918, họChrysopidae, bộ Neuroptera Cả hai loài tồn tại và phát triển quanh năm trên

Trang 11

cây vải, mật độ cao nhất vào tháng cuối xuân , đầu hè, khi mật độ thức ăn vàcác yếu tố sinh thái khác thuận lợi cho chúng Mật độ cao nhất vào cuối tháng

4 đầu tháng 5, cuối tháng 5và từ 15 đến 20 tháng 6 Đây là 2 loài côn trùng ănthịt sau hại quan trọng trong việc điều hoà mật độ chủng quần sâu hại vải, gópphần đáng kể hạn chế tác hại của sâu gây ra (Một sốđặc điểm hình thái, sinh

học, sinh thái của hai loài bọ mắt vàng Chrysopasp vàAnkylopteryx sp.

(Chrysopidae) trên cây vải thiều tại Đông Triều Quảng Ninh_ Tạp chí Sinhhọc số 3/2000) [44_47]

Năm 2002, Nguyễn Xuân Thành bước đầu nghiên cứu về thành phần cácloài côn trùng và nhện trên vải tại Hà Nội và vùng phụ cận Qua điều tra chothấy thành phần côn trùng và nhện tương đối phong phú Tổng số loài hiện đãthu được 109 loài, trong đó côn trùng và nhện thu được là 54 loài Những loàinguy hiểm nhất có 12 loài Côn trùng cóích (Ky sinh và bắt mồi) thu được là

21 loài, cóý nghĩa nhất là bọ mắt vàng, bọ rùa 18 chấm, ong ký sinh kéntrắng Nhện bắt mồi thu được 34 loài Từ kết quả thu được nhận thấy sự tươngquan giữa các loài có hại và có lợi gần như nhau và cho gợi cho chúng ta cóýthức hơn trong việc sử dụng các biện pháp phòng trừ các loài sâu hại sao chovừa đạt hiệu quả phòng trừ tốt mà vẫn bảo vệđược môi trường sinh thái, bảovệđược sức khoẻ cộng đồng ( Kết quả nghiên cứu bước đầu về thành phầncác loài côn trùng và nhện trên vải tại Hà Nội và vùng Phụ cận_ Kỷ yếu hộithảo quốc gia về khoa học và công nghệ bảo vệ thực vật_NXB Nông nghiệp

2002 ) [274_278]

Với chủ trương của Đảng xoáđói giảm nghèo, phát triển và mở rộng kinh

tế trang trại ổn định trật tự an ninh xã hội vì thế mà diện tích trồng vải ngàycàng tăng dẫn đến mật độ côn trùng hại nhãn vải cũng gia tăng Mục đíchnghiên cứu phòng trừ thành phần côn trùng hại vải, năm 2003, Nguyễn XuânThành đã nghiên cứu thành phần côn trùng hại nhãn vải và thành phần thiênđịch của chúng ở miền Bắc Việt Nam Kết quả sau nhiều năm nghiên cứu chothấy thành phần côn trùng hại và thiên địch của chúng trên nhãn vải rất phong

Trang 12

phú vàđa dạng Tổng số loài gây hại hiện đã biết là 99 loài trong đó có 98 loàicôn trùng và 1 loài nhện Các loài này thuộc 5 bộ sau: Coleoptera,Lepidoptera, Hemiptera, Homoptera và bộ nhện nhỏ Acarina Bộ cánh cứng

có 30 loài thuộc 9 họ , chiếm tới 33,33% trong tổng số loài bắt gặp BộLepidoptera có 42 loài chiếm 42,42% tổng số loài bắt được Bộ cánh đềuHomoptera có 6 họ , 11 loài chiếm 11,11% Bộ cánh nửa Hemiptera có sốlượng ít nhất chỉ có 6 loài trong 4 họ , chiếm tỷ lệ thấp , chỉ có 6,66% Bộnhện nhỏ Acarina thuộc lớp nhện chỉ mới thu được 1 loài, chiếm số lượng

họít nhất trong các loài gây hại Bọ xít nhãn vải Tessarotoma papillosa Drury

và nhện lông nhung Eriophies litchi Keifer là những đối tượng gây hại nguy

hiểm nhất Các loài thiên địch của các loài sâu hại vải thuộc lớp côn trùng thuđược 29 loài thuộc 6 bộ Neuroptera, Diptera, Coleoptera, Mantodae,Hemiptera và Hymenoptera Bộ nhện lớn bắt mồi trong lớp nhện Arachnida

có 33 loài thuộc 10 họ: Salticidae, Arancidae, Tetragnathidae, Tromicidae,Oxypidae, Clubionidae, Lycosidae, Heteropodidae, Linyphiidae, Theridiidae (Thành phần côn trùng hại nhãn vải và thiên địch của chúng ở miền BắcViệt Nam Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia bảo vệ thực vật –Phục vụ chủtrương chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung_NXB Nông nghiệp 2003) [53_56]

Trong năm 2003, Nguyễn Xuân Thành và Phạm Quỳnh Mai dã nghiêncứu ong ký sinh trứng bọ xít nhãn vải vàảnh hưởng của các yếu tố sinh tháiđến chúng Kết quả nghiên cứu sau nhiều năm cho thấy có hai loài ong ký

sinh trứng bọ xít nhãn Tessaratoma papillosa Drury, đó là ong đen nhảy Ooencyrtus fongi Tryapizin thuộc họ Encyrtidae và ong xanh Anastatus aff

Japonicus thuộc họ Eupelmidae Cả hai loài ong này song song tồn tại trong

suốt thời gian Bọ xít đẻ trứng Ong Ooencyrtus fongi xuất hiện sớm hơn và có

tỷ lệ cao hơn nhiều so với ong xanh Anastatusaff Ong xanh Anastatus aff

không những có khả năng tiêu diệt trứng bọ xít nhãn mà còn có thể tiêu diệt

trứng bọ xít xanh vòi dài hại cây có múi Rhynchocoris humeralis Thunberg.

Trang 13

Các yếu tố môi trường tác động trực tiếp đến thời gian xuất hiện và tỷ lệ kýsinh của cả hai loài ong này đó là thời tiết cuối đông đầu xuân và việc sử dụngthuốc bảo vệ thực vật Vì vậy cả hai loài ong này có vai trò quan trọng trongviệc điều hoà mật độ chủng quần trứng bọ xít nhãn vải (Viện Sinh thái vầ Tàinguyên Sinh vật , Trung tâm KHTN&CNQG Ong ký sinh trứng bọ xít nhãnvải và các yếu tốảnh hưởng đến chúng.Những vấn đề nghiên cứu trong khoahọc sự sống - NXB khoa học và kỹ thuật Huế 25-26/7/2003)[742_745] Năm 2004, Nguyễn Xuân Thành cho biết trên cây nhãn vải đã thu được 17loài bướm thuộc phân họ Ophiderinae, họ bướm đêm Noctuidae , bộ cánhphấn Lepidoptera Dựa vào cấu trúc của vòi châm , vòi hoá sừng hoặc không

ta có thể chia ra làm hai nhóm: Nhóm đầu vòi hút hoá sừng có khả năngxuyên thủng vỏ quảđể hút dịch Nhóm thứ hai gồm những loài có vòi khôngkitin hoá Chúng chuyên hút dịch ở các quả bị thương do loài khác hoặc dothiên tai gây ra Nhóm thứ hai đại diện là hai loài chuyên sinh sản, phát triển

và phá hoại trên cây nhãn vải Sâu xanh bướm vàng xám Oxyodes scrobiculata Fabr làđối tượng sâu hại nguy hiểm cho các vùng trồng vải

thiều Chúng gây hại cho vải nhất là lộc non làm ảnh hưởng đến năng xuất vàchất lượng vải Thiên địch của sâu xanh bướm vàng xám gồm các loài thuộc

bọ xít cổ ngỗng Raduviidae (Sycanus bifidus, S croceovitatus vàS faleni) Họ

bọ xít 5 cạnh Pentatomidae(C furcellata) và ong ký sinh kén trắng chùm

Cotestia sp Tỷ lệ ký sinh của hai loài ong này trung bình là 32%, vì vậy nó

có vai trò quan trọng đáng kể trong việc điều chỉnh mật độ chủng quần củaloài này (Những đặc điểm quan trọng của loài bướm đêm hại cây ăn quảthuộc phân họ Ophiderinae, Noctuidae, Lepidoptera trên miền Bắc Việt Nam_Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống Thái Nguyên23/9/2004 - NXB Khoa học kỹ thuật )[630_632]

Năm 2005, Nguyễn Xuân Thành và Hồ Thị Thu Giang đã thu thập vàphân loại được 6 loài sâu cuốn lá vải thuộc họ Tortricidae bao gồm: 1

Adoxophyes fasciata Wals, 2 Adoxophyes syrtosema Meyris, 3.

Trang 14

Archipseucroca Diakonoff, 4 Argyroplose apropola Meyrick, 5 Homonacoffearia Meyrick, 6 Olethreutes leucaspis Meyrick Trong đóArchipeucroca Diakonoff vàOlethreutes leucaspis Meyrick là hai loài có

mật độ lớn nhất, xuất hiện gần như quanh năm, phá hoại nặng lá non, ảnh

hưởng đến sự quang hợp của cây Qua nghiên cứu cho thấy Archips eucroca

có trứng màu vàng nhạt được đẻ thành từng ổ, xếp trên lá, tỷ lệ trứng nở trên80%, thời gian phát triển trên 7 ngày, tỷ lệ sống của ấu trùng trên 70%, thờigian phát triển trung bình 19 ngày Thời gian của nhộng kéo dài trung bình6,5 ngày, tỷ lệ vũ hoá 67% Bướm sống trung bình từ 3-7 ngày Sau khi vũhoá 1-2 ngày bứơm bắt đầu đẻ trứng, số lượng trứng đẻ cao nhất được 359quả, thấp nhất 52 quả, trung bình 146 quả Trong 4 ngày đầu trứng được đẻnhiều, cao nhất vào ngày thứ 2 Trong mùa xuân mật độ sâu cao nhất vào cuốitháng 3 đến đầu tháng 4 (Thành phần sâu cuốn lá vải (Tortricidae,

Lepidoptera) ở miền Bắc Việt Nam vàđặc điểm sinh học sinh thái của Archip eucroca Diakonoff Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học toàn quốc lần

thứ 5 Hà Nội, 11_12/4/2005 NXB Nông nghiệp 2005 )[219_224]

Cũng trong năm 2005, Nguyễn Xuân Thành và Kiều Thu Thuỷ nghiên cứu

đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ xít bắt mồi Sycanus bifidus Fabr.

(Reduviidae- Hemiptera) ở một số vùng trồng điều của miền Trung (BìnhĐịnh, Quảng Ngãi) và trung du, miền núi của miền Bắc nơi trồng vải thiều

Kết quả nghiên cứu cho thấy bọ xít bắt mồi Sycanus bifidus tiêu diệt các loài

sâu thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera nhưấu trùng sâu xanh nhả tơ quấn tổ hại

điều, ấu trùng sâu xanh bướm vàng xám Oxyodes scrobiculata Khả năng tiêu thụ mồi của loài bướm này khá lớn 24-25 ấu trùng Oxyodes scrobiculata.

Nhiệt độ vàẩm độảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của loài bọ xít bắt mồi

Sycanus bifidus Điều kiện thời tiết tốt nhất cho bọ xít bắt mồi này phát triển

là : nhiệt độ 25-30°C vàẩm độ 70-80% Khả năng tiêu diệt côn trùng của bọ

xít bắt mồi Sycanus bifitusđã mở ra hướng phát triển mới của nền nông

nghiệp Việt Nam, nếu chúng ta biết khai thác và bảo vệ loài côn trùng thiên

Trang 15

địch nói chung và loài bọ xít bắt mồi nói riêng sẽ mang lại rất nhiều lơi íchcho con người như bảo vệ cây trồng, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và bảovệđược sự cân bằng sinh thái một cách bền vững (Đặc điểm sinh học, sinh

thái của bọ xít bắt mồi Sycanus bifitus Fabr.(Reduviidae-Hemiptera).Những

vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống/ Báo cáo hội nghị khoa họctoàn quốc 2005 NXB khoa học và kỹ thuật)[1067 – 1070]

2.2 TÌNHHÌNHNGHIÊNCỨUVỀPHÒNGTRỪ.

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho sự phát triển của câyvải Hiện nay, ở nhiều địa phương, cây vải đang được phát triển theo lối hànghoá cả về diện tích vàđầu tư chăm sóc Qua các nghiên cứu mức độ gây hạicủa các loài côn trùng là rất lớn, vì vậy công tác bảo vệ và năng cao chấtlượng nông sản là rất cần thiết Ngày nay, để phòng trừ sâu bệnh có rất nhiềubiện pháp như: biện pháp canh tác, biện pháp hoá học, biện pháp sinh học Việc lựa chọn phương pháp phòng trừ cho từng vùng địa phương là rất khácnhau, tuỳ vào điều kiện kinh tế và trình độ hiểu biết của mỗi vùng

2.2.1.Vai trò vàý nghĩa của từng biện pháp Bảo vệ thực vật.

2.2.1.1 Biện pháp canh tác.

Là biện pháp thủ công, nóđãđược lưu truyền từ rất lâu như xới, xáo, làm

cỏ, và chăm sóc thường xuyên sẽ hạn chếđược 1 phần dịch hại Biện phápcanh tác chỉ là biện pháp trước mắt tạm thời và mang tính chất tình thế trong

cả vụ

2.2.1.2.Biện pháp hoá học.

Thuốc trừ sâu hoá học là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổnghợp được dùng để phòng trừ các loài sâu hại, dịch hại, bệnh hại, cỏ dại,nhện ,chuột và những sinh vật hại khác gây ra đối với cây trồng và nông sản.Chất độc khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật hại với một lượng rất nhỏ là cóthểgây độc với sinh vật hại đó , nó làm phá huỷ chức năng cơ bản của sinh vậthại và làm cho sinh vật hại chết

Trang 16

Sau chiến tranh thế giới thứ II, các thuốc trừ sâu hoá học tổng hợp hữucơđã lần lượt được đưa ra thị trường mở ra kỷ nguyên của thuốc trừ dịch hạitổng hợp theo lối sản xuất công nghiệp Đầu tiên là các hợp chất Chlo hữu cơnhư DDT, 666, Aldrin, đãđược ứng dụng trong nông nghiệp Trong nhữngnăm 60_70 của thế kỷ XX là sự ra đời của các hợp chất lân hữu cơ như:Malathion Wofatox, Etyl parathion Ngoài ra còn có các loại thuốc hoá họcchứa dẫn xuất các axít Cacbanic, Thiocacbanic, Dithiocacbanic thuộc phânnhóm Cacbanat và nhóm thuốc chứa Pirethroid.

Ưu điểm của loại thuốc này là có hiệu quả nhanh, kịp thời vì thuốc hoá học cóhiệu quả nhanh về thời gian, làm cho năng suất cây trồng ổn định Thuốc hoáhọc có hiệu quả trong phạm vi rộng, hiệu quả với nhiều loại dịch hại trên câytrồng và có thểáp dụng ở khắp mọi nơi

Nhược điểm của thuốc trừ sâu hoá học:

+ Gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của người sảnxuất, đến vật nuôi và cây trồng

+ Sử dụng nhiều lần với nồng độ cao sẽ làm cho sâu hại quen dần vớithuốc hoá học và từđó tạo ra tính kháng thuốc của sâu có thể duy trì cho thế

hệ sau mặc dù chúng không tiếp xúc với thuốc, làm giảm sút rõ rệt về tính đadạng của quần thể sinh vật cóích, làm xuất hiện các loại dịch hại mới vàchúng phá hoại mạnh hơn gây hại dữ dội hơn

+ Nếu sử dụng thuốc trừ sâu với nồng độ thấp thi sẽ kích thích cá thể dịchhại sóng sót khi đã tái phát chúng có khả năng phục hồi và khả năng phát triểnmạnh hơn trước rất nhiều và chúng có khả năng thay đổi đặc tính của loài

2.2.1.3 Biện pháp sinh học.

Là biện pháp lợi dụng những kẻ thù tự nhiên ngoài đồng ruộng như cácloại côn trùng , nhện và vi sinh vật cóích để phòng trừ các loại dịch hại theohướng bảo vệ môi trường, làm sao ổn định cân bằng sinh thái

Trong nhiều năm qua việc sử dụng thuốc trừ sâu hoá học đãđể gây ranhiều hậu quả xấu đối với con người và môi trường sinh thái Thêm vào đó là

Trang 17

nền kinh tế các nước phát triển, cuộc sống của con người ngày càng được cảithiện và biện pháp sinh học ngày càng được hoàn thiện và phát triển trên cơ

sở phát triển của các ngành Công nghệ sinh học trong đó Công nghệ sinh họctrong Bảo vệ thực vật càng được chúýđể nâng cao chất lượng sản phẩm nhằmphục vụ trở lại cho con người Ngày nay biện pháp sinh học được sử dụngnhư một biện pháp quan trọng của phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM IPM làchiến lược bảo vệ thực vật mới trên cơ sởáp dụng tổng hợp các biện phápphòng trừ dịch hại một cách đồng bộ, hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu hoá họccóđộc tố cao đồng thời sử dụng các biện pháp sinh học một cách có hiệu quảtrên cơ sởđiều tra để nắm bắt được quy luật phát sinh và gây bệnh của dịchhại cây trồng

Để phòng trừ dịch bệnh và sâu hại một cách có hiệu quả người ta đãáp dụngmột số biện pháp triển vọng như:

+ Hạn chế sử dụng hoặc sử dụng một cách có chọn lọc các loại thuốc hoáhọc cóđộ phân huỷ nhanh vàít cóđộc hại để phòng trừ

+ Dùng các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn, virus,nấm, như thuốc trừ sâu Bt được sản xuất từ chủng vi khuẩn Bt (Baccillusthuringensis), thuốc trừ sâu vi nấm Bb được sản xuất từ chủng nấm Bb(Beauveria bassiana)

+ Sử dụng và bảo vệ các loài thiên địch của sâu hại

Ưu điểm của biện pháp sinh học là hạn chế sựô nhiễm môi trường , khônglàm mất đi nguồn tài nguyên sinh vật cóích tạo sự cân bằng sinh thái, làmgiảm mức kháng thuốc của sâu hại, đảm bảo chất lượng nông sản, đất trồng

và bảo vệ sức khoẻ cho con người

Nhược điểm của biện pháp này là tác dụng chậm, việc sản xuất các chếphẩm sinh học còn làm ở quy mô nhỏ, còn ở mức phòng thí nghiệm , giáthành cao, nên chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của bà con và việcsửdụng các loại thuốc hoá học còn tuỳ tiện và lạm dụng do nhận thức của dâncòn thấp vì chỉ thấy lợi trước mắt là thuốc hoá học tác dụng nhanh mà không

Trang 18

thấy được nóđãđể lại một dư lượng chất độc lớn trong nông sản thực phẩmgây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người Do đó cần khuyến cáo cho mọi ngườidân hiểu được điều này.

2.2.2 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ các loài sâu hại trên cây vải thiều của các tác giả trong và ngoài nước.

Theo Hồ Khắc Tín, năm 1979, thì bọ xít nhãn vải không những bị hai loài

ong Anastatus sp vàOoencytus sp Ký sinh trên trứng mà còn bị loài nấm tím hồng xám Penicillium lilacimum ký sinh gây bệnh trên trưởng thành làm chết

6,9-12,9% (Côn trùng nông nghiệp NXB Nông nghiệp Hà Nội)

Trần Huy Thọ, Đào Đăng Tựu và Trương Văn Hàm, trong năm 1995,cũng đãđiều tra và phát hiện tại Hà Nội, Hải Hưng, Nam Hà, Yên Bái được 19loài côn trùng hại và 4 loài nhện hại như: bọ xít nhãn vải; rệp gây hại vào thời

kỳ cây ra hoa; sâu tiện vỏ làm cho cây bị khô héo và chết rất nhanh ; sâu đụccành phá hoại cành quả; sâu đục thân làm cho cây phát triển còi cọc có thểlàm chết cây; ruồi đục quả làm quả bị thối nhũn và chảy nước; rệp sáp vải làm

lá bị còi cọc nhỏ lại dẫn đến cây bị rụng lá; rệp sáp đỏ hại trên mầm non ,cuống hoa, mặt trên quả làm cho quả bị chậm phát triển, teo dần, và dễ rụng;rệp sáp đen mềm hại búp, cành, quả non, cuống lá, cuống hoa quả gây nên sự

biến dạng cho lá, mầm hoa; nhện vải (Eriophyes litchi) tấn công lá non, quả,

mầm, cuống hoa, chồi nụ hoa làm lá uốn cong, khô và rụng, cây bị còi cọckhông phát triển; ve sầu bướm gây hại vào thời kỳ ra hoa, chúng chích hútlàm rụng hoa và không có khả năng kết quả hoặc làm rụng quả (Một số kếtquảđiều tra nghiên cứu về sâu hại chủ yếu trên một số cây ăn quảở miền Bắcnước ta)[64 – 66]

Năm 1998, Nguyễn Xuân Hồng đã xác định được 15 loài sâu hại vải,trong đó có 14 loài thuộc 5 bộ của lớp côn trùng và một loài nhện, ngoái racòn có một sốđối tượng hại như dơi, chuột ,chim Xác định dược 17 loại bệnhại vải, trong đó bệnh chết héo cây và bệnh lông nhung ở cành lộc non, chùmhoa, cành quả non, là những loại bệnh nặng và cần quan tâm để phòng bệnh

Trang 19

kịp thời , hiệu quả (Kết quảđiều tra bước đầu thành phần sâu bệnh hại vải ởLục Ngạn, Bắc Giang và Chương Mỹ, Hà Tây).[103 – 105].

Theo Nguyễn Xuân Thành, năm 1999, thuốc trừ sâu vi sinh Bt có hiệu quảphun trừ tốt đối với sâu thuộc bộ cánh vảy (Sâu nhớt, sâu đo, sâu cuốn lá,…).Tuy so với thuốc hoá học có hiệu quả thấp hơn đôi chút nhưng nó rất tốt chomôi trường và sức khoẻ con người, bảo vệđược các loài côn trùng cóích và táitạo lại sự cân bằng sinh thái trên sinh quần.(Thử nghiệm một số chế phẩmthiên nông trên cây vải thiều Kỷ yếu hội nghị khoa học công nghệ và môitrường các tỉnh miền núi phía Bắc lần thứ 7 – Hà Giang tháng 11/1999 ) Việc nghiên cứu sử dụng các nguồn vi sinh vật cóích là một vấn đề quantrọng và cần thiết trong chiến lược phòng trừ tổng hợp sâu hại cây trồng hiệnnay Năm 2000, Hoàng Thị Việt, Nguyễn Văn Cảm, Trần Quang Tấn và ctv

đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm NPV (Nuclear polyhedrosis virus) và khả

năng sử dụng trong phòng trừ sâu hại cây trồng NPV cóảnh hưởng tới sựphát triển của sâu ở cả giai đoạn sâu non, nhộng và bướm Hạn chếđược khảnăng vũ hoá vàđẻ trứng của bướm Chế phẩm NPVcó khả năng bảo quảnđược 12 tháng trong điều kiện tự nhiên của phòng thí nghiệm Đây là biệnpháp cần thiết trong hệ thống phòng trừ tổng hợp cây trồng đặc biệt đối vớinhững vùng sâu đang chống thuốc hoá học (Một số kết quả nghiên cứu về

NPV(Nuclear Polyhedrosis Virus) và khả năng sử dụng trong phòng trừ sâu

hại cây trồng)[113 – 130]

Qua thời gian điều tra các tháng trong năm 1999-2000, Dương Tiến Viện

đã thu thập thành phần sâu hại vải ở Mê Linh- Vĩnh Phúc và xác định được 19loài côn trùng và 2 loài nhện hại, trong đó có 6 loài sâu và nhện gây hại phổbiến và cóý nghĩa về mặt kinh tế Việc sử dụng thuốc trừ sâu của các hộ nôngdân vẫn còn dùng các loại thuốc nằm trong danh mục thuốc hạn chế và cấm

sử dụng như Monitor và Bi58 Dưong Tiến Viện đã thí nghiệm với 3 loạithuốc Dipterex 90WP, Ofatox 400EC, Supracid 40EC đều có hiệu lực trừ bọxít hại vải cao (Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại vải và biện pháp

Trang 20

phòng trừ tại Mê Linh -Vĩnh Phúc.Một số loài sâu bệnh gây hại cây trồngđáng chúý trong những năm gần đây) [54_57].

Từ kết quảđiều tra nghiên cứu cho thấy mức độ gây hại của các loài côntrùng là rất lớn cần có biện pháp phòng trừ sâu bệnh để mang lại hiệu quảkinh tế Phòng trừ sâu hại phải được thực hiện theo một quy trình tổng hợp đểbảo vệ cây trồng, bảo vệ mối cân bằng sinh học và bảo vệ môi trường sống.Năm 2003, theo Trần Thế Tục thì phải áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp,vừa sử dụng biện pháp hoá học, vừa sử dụng biện pháp canh tác, cơ giới, vật

lý, sinh học thì mới có hiệu quả Muốn áp dụng biện pháp hoá học có hiệuquả thì phải sử dụng đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng kỹ thuật vàđúng thờiđiểm Lịch dùng thuốc trong năm được tác giảđưa ra là tháng 2 – 3 trừ nhện,tháng 3-4 trừ bọ xít , tháng 5-7 trừ sâu đục thân Đối với bọ xít nhãn vải phảikết hợp cả biện pháp cơ giới , hoá học, sinh học Tháng 1 – 2 bọ xít trúđôngnên rung cây, rung cành làm cho bọ xít rơi xuống bắt diệt Tháng 4 – 5 trởđihoa vải nơ xong phun thuốc Sherpa nồng độ 0,1 - 0,2% có thể tiêu diệt được

bọ xít trưởng thành và bọ xít non (100 câu hỏi về cây vải NXB Nông nghiệp2003)

Theo Đường Hồng Dật, năm 2003, thì nên kiểm tra bắt giết bọ xít từtháng 1 – 2 Theo tác giả thì thời gian này bọ xít ít hoạt động, lợi dụng tínhgiả chết của bọ xít , trải nilon trên mặt đất ở gốc cây rồi rung cây cho bọ xítrơi xuống để bắt Phun thuốc phòng trừ bọ xít non vào đầu tháng 4, bọ xíttrưởng thành vào tháng 8 – 9 Dùng Basudin pha với nồng độ 0,2% để phunphòng trừ, thuốc có thể làm cho trứng ung không nởđược, nên phun trước khithu hoạch quả từ 15 – 20 ngày.(Hỏi đáp về nhãn, vải NXB Nông nghiệp)

Nhóm tác giả Trung Quốc đã sử dụng loài ong nhỏ bằng bụng Anastatus

hoặc các loài ong cánh nhỏ khác cho ký sinh trứng bọ xít vải do đó làm giảmđược số lượng sâu non bọ xít xuống thấp Những loài ong này được nuôitrong phòng, khi có những ổ trứng bọ xít xuất hiện trên cây thì mới mang ongthả trên cây Thông thường mỗi cây thả 600 – 800 con ong cái, chia làm 3 đợt

Trang 21

mỗi đợt cách nhau 6 – 10 ngày, lượng ong các đợt tỷ lệ 2:1:1.(ChuNghiêu(1960) Côn trùng học đại cương Diệp Chấn Khánh dịch NXB Giáodục cao đẳng Thượng Hải.).

Sử dụng các loài thiên địch trong phòng trừ sâu hại đang được các nhàkhoa học nghiên cứu trong khoảng vài chục năm gần đây Qua những kếtquảđiều tra, nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài vềđặcđiểm hình thái, sinh học, sinh thái, đưa các loài thiên địch (ký sinh, ăn thịt haygây bệnh ) vào các quần thể sâu hại làm giảm số lượng của những loài sâu hạiđến mức không còn gây hại hoặc thiệt hại do nó gây ra không cóý nghĩa vềmặt kinh tế Hiện nay có hai nhóm được dùng phổ biến là nhóm côn trùng kýsinh và nhóm bắt mồi ăn thịt

+ Nhóm côn trùng ký sinh sâu hại phổ biến thuộc bộ cánh màng và bộ haicánh như ruồi ký sinh, ong mắt đỏ Nhóm côn trùng này sống ký sinh trongtrong ký chủ, pha trưởng thành sống tự do, chúng sử dụng hết hoàn toàn các

mô của vật chủ sau khi chúng hoàn toàn phát dục

+ Nhóm bắt mồi ăn thịt sâu hại: Đây là quy luật của tự nhiên côn trùngcóích ăn thịt côn trùng gây hại Điều này có tầm quan trọng trong việc kìmchế sự sinh sản phát triển của sâu hại

Theo những kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành cho thấy cầnnghiên cứu: Mối tương quan giữa các loài côn trùng “ký chủ<—>ký sinh”,

“vật mồi<—> vật bắt mồi” Thành phần loài và sự phân bố của chúng dướitác dộng của các yếu tố sinh thái đến vùng địa lý , những đặc điểm sinh họcsinh thái của những loài sâu hại và thiên địch chính Từ những kết quả nghiêncứu mới có những kháng cáo thích đáng và hữu ích giúp cho nghành nôngnghiệp phát triển bền vững

Trang 23

CHƯƠNG 3: ĐỊAĐIỂM, VẬTLIỆUVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU

3.1 ĐỊAĐIỂM, THỜIGIANVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU.

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu

+ Địa diểm thu mẫu bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata tại xã Hiền

Ninh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội

+ Địa điểm điều tra thành phần sâu hại: các vườn trồng vải của xã HiềnNinh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội và các vùng lân cận

3.1.2 Thời gian nghiên cứu.

Từ 20/10/2005 đến ngày 30/4/2006

3.2 ĐỐITƯỢNGVÀVẬTLIỆUNGHIÊNCỨU.

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu.

+ Điều tra các loài côn trùng hại và bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata

3.2.2 Dụng cụ nghiên cứu.

+ Panh (cứng và mềm), kéo, dao, bút, máy tính, cặp, sổđiều tra, sổ nhật kínuôi sâu, vợt côn trùng, lọ nuôi sâu các loại có kích cỡ từ 0,2 – 10 lít phù hợpcho bướm giao phối được để xác định thành phần loài côn trùng trên vải, ốngtuyb, kính lúp, bút lông, mật ong 10%, bông thấm nước cồn 70°, hộp vàlọđựng mẫu

+ Lọ nhựa nuôi bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata có kích

thước từ 0,2 – 10 lít tuỳ theo tuổi của bọ rùa

Trang 24

+ Ghi chép số liệu về hiện tượng thời tiết ( nhiệt độ, độẩm, nắng, mưa, )vào phiếu điều tra, nhật kýđiều tra.

+ Chọn địa điểm điều tra: chọn ngẫu nhiên 20 cây theo 5 điểm chéo góc,mỗi điểm điều tra 4 cây theo 4 hướng ( Đông, Tây, Nam, Bắc) Điều tra thumẫu từ trên cây xuống bằng tay hoặc bằng vợt côn trùng nhằm xác định thànhphần, sự phân bố và quy luật biến động

+ Thu các loài côn trùng (thiên địch và sâu hại ) có mặt trên cây vải, đưa

về nuôi lấy trưởng thành để xác định tên khoa học của loài Đối với các loài

đã biết ngâm trong cồn 70° hoặc phơi khôđể giữ mẫu

b Điều tra bổ xung.

Điều tra ngoài khu vực điều tra định kỳ nhằm thu thập bổ xung thành phầnloài và sự phân bố theo vùng địa lý hoặc sinh cảnh

3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài bọ rùa

18 chấm Harmonia sedecimnotata.

Thu mẫu bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata trưởng thành ở các

vườn vải Sóc Sơn, Hà Nội về nuôi trong lồng để chúng giao phối với nhau(bên trong lồng có trồng cây vải) Hoặc nuôi trong các lọ lớn hàng ngày phải

thay lá vải Thức ăn của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata là rệp và

trứng ngày gạo

Hàng ngày theo dõi, quan sát thấy chúng giao phối với nhau tach riêng racho vào một lọ riêng có ghi ký hiệu và thứ tự trên lọ nuôi Theo dõi khả năng

đẻ trứng, nhịp điệu đẻ trứng đo kích thước của mỗi tuổi và trưởng thành của

bọ rùa và thời gian sống của bọ rùa trưởng thành

Trang 25

Trong quá trình nghiên cứu mô tả hình thái từng pha phát triển của bọ rùa

18 chấm Harmonia sedecimnotata ( mô tả hình dáng, màu sắc, đo kích thước,

đặc điểm của trứng, ấu trùng và trưởng thành) Theo dõi khả năng tiêu thụmồi trong từng ngày của mỗi con , mỗi pha phát triển bằng cách cho số lượngcác con rệp vào trong lọ nuôi, sau một ngày đếm số rệp còn lại

3.3.3 Phương pháp tính toán.

3.3.3.1 Các công thức tính toán về sinh học.

Tổng số con thu được

N

Trong đó: - X = Kích thước trung bình

- Xi = giá trị kích thước của cá thể thứ i

Trang 26

*Toàn bộ số liệu được sử lý theo thống kê thông thường

Trang 28

CHƯƠNG 4 : KẾTQUẢNGHIÊNCỨU

4.1.

KẾTQUẢNGHIÊNCỨUTHÀNHPHẦNSÂUHẠIVÀTHIÊNĐỊCHTRÊNC ÂYVẢITHIỀUTẠIXÃ HIỀN NINH, SÓC SƠN, HÀ NỘI.

Sóc Sơn là một huyện miền núi thuộc ngoại thành Hà Nội, điều kiện đấtđai cũng như khí hậu ởđây rất thuận lợi cho cây vải phát triển

Cùng với các xã Minh Trí, Minh Phú,…Hiền Ninh cũng là một xã có diệntích trồng vải lớn của Sóc Sơn Diện tích trồng vải trung bình khoảng 1,1ha/hộ Khi đến thời vụ thu hoạch, các chủ buôn đến tận vườn thu mua rồichởđi tiêu thụ, ngoài ra còn bán cho khách du lịch vìđây là nơi lý tưởng đểnghỉ cuối tuần của người thành phố Hàng năm sản lượng vải của xã HiềnNinh khoảng 30% số cây vải cho năng suất 10 – 30 kg/cây, 40% chonăng suất 30 – 50 kg/cây, còn lại là> 50kg/cây Thu nhập bình quânkhoảng 5 – 7 triệu đồng/năm

Mỗi năm các hộ nông dân phải bỏ ra khá nhiều tiền chi phí về phân bón,thuốc trừ sâu, bơm tưới nước,…Tuy nhiên trong mấy năm gần đây giá vảixuống rất nhiều, nguyên nhân là do diện tích trồng vải tăng nhanh Bên cạnh

đó chúng ta còn kém về kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và chế biến khiến chấtlượng và mẫu mã quả vải thấp không đủ cạnh tranh với các nước trong khuvực Người dân nơi đây vẫn quen sử dụng thuốc hoá học bừa bãi như Regent,Sherpa, Fastac, …các thuốc vi sinh ít được sử dụng Do đó cần khuyến cáocho người dân hiểu rõ tác hại của thuốc trừ sâu hoá học và kỹ thuật trồng trọt

để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm quả vải

Trang 29

Hình 1: Điều tra côn trùng tại vườn vải vùng Sóc Sơn, Hà Nội

Trong khoảng thời gian từ 27/10/2005  25/4/2006, chúng tôi đã tiến hànhđiều tra, xác định thành phần sâu hại trên cây vải tại các vườn vải của các hộdân ở xã Hiền Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội Số lượng loài thu được kháđa dạng vàphong phú Tuỳ thuộc vào từng thời gian phát triển của cây vải mà có các loàisâu hại cũng như thiên địch khác nhau

Bảng 1 : Thành phần sâu hại trên cây vải

gây hại

Mứcđộ

Bộ cánh vẩy(Lepidoptera)

1 Sâu cuốn láđầu

đen

Olethreutes leucaspisMeyric

k

Tortricidae Lộc non,

chồi, lá

+++

Trang 30

2 Sâu đo xanh Geometridae Chồi, lộc

Guenee

Geometridae Chồi, lộc

non

+++

4 Sâu đo khoang

rắn cạp nia Scopula sp. Geometridae

Hoa, lộcnon

-

5 Sâu đo hoa

6 Sâu đục gân lá Conopomorpha

sinensis Bradley

Lá non,hoa vải +

7 Sâu kèn xám

trắng

Chalioides kondonis

+

11 Sâu róm chỉđỏ

sọc vàng lưng

Porthesia scintillans Limantridae

Hoa, lộc

Parasa pseudorapanda

Trang 31

vàng ánh kim spuamosus Fabr. e lộc non

Bộ cánh nửa(Hemiptera)

16 Bọ xít nhãn

vải

Tessaratoma papillosa Drury Pentatomidae

Lá, chồi

17 Bọ xít dài hôi Leptocosisa

acuta Thunberg Coreidae

Lá, chồi

18 Bọ xít xanh Nezara viridula

Linnaeus Pentatomidae Chồi non +

Bộ cánh đều (Homoptera)

ruben Maskell Diaspididae

Lộc, lá,chồi non +++

20 Rệp sáp trắng

mai rùa

Ceroplastes floridensis

22 Rệp sáp đen Ddensaissetia

nigra Niether Diaspididae

Lộc, lá,chồi non ++

23 Rệp sáp xám Coccus longulus Diaspididae Lộc , lá,

Ghi chú: (+) ít phổ biến

(++) phổ biến

(+++) rất phổ biến

(–) rất ít phổ biến

Ngày đăng: 18/03/2013, 10:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Thành (1994). Bọ xít ăn thịt Cantheconidea furcellata Walker vai trò của chúng trong việc điều hoà chủng quần sâu hại. Tạp chí Bảo vệ thực vật Số 2/1994,3 trang (4 – 7 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cantheconidea furcellata
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Năm: 1994
4. Nguyễn Xuân Thành (2000). Những đặc điểm sinh học, sinh thái của 2 loài bọ mắt vàng Chrysopa sp. VàAnkylopteryx sp. Thuộc họ Chrysopidae trên cây vải thiều Đông Triều Quảng Ninh. Tạp chí sinh học,1 (22) Tr (44 – 47 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chrysopa" sp. Và"Ankylopteryx
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2000
8. Phạm Quỳnh Mai, Nguyễn Xuân Thành, (2003) . Thành phần biến động số lượng loài bọ rùa phổ biến Harmonia sedecimnotata Fabr. Trên cây vải tại vùng Sóc Sơn Hà Nội. Hội nghị toàn quốc lần hai nghiên cứu cơbản trong sinh học, nông nghiệp , y học Huế 25 - 26/7/2003.Nxb khoa học và kỹ thuật Hà Nội 2003, Tr (681 - 684 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Harmonia sedecimnotata
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật Hà Nội 2003
10.Phạm Quỳnh Mai, Nguyễn Xuân Thành, (2004) .Những đặc điểm phát triển của bọ rùa 18 chấm ( Harmonia sedecimnotata Fabr.). Hội nghị toàn quốc 2004 nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống. Định hướng nông lâm nghiệp miền núi. Thái Nguyên 23/9/2004. Nxb Khoc học và kỹ thuật Hà Nội 2004, Tr (508 – 512 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Harmonia sedecimnotata
Nhà XB: Nxb Khoc học và kỹ thuật Hà Nội 2004
12. Nguyễn Xuân Thành ,Phạm Quỳnh Mai (2004) . Đặc điểm sinh học sinh thái cuảOxyodes scrobiculata Fabr. (Noctuidae, Lepidotera). Tạp chí bảo vệ thực vật số 5/2004, Tr (9 – 15 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxyodes scrobiculata
13. Nguyễn Xuân Thành ,HồThu Giang (2005) Thành phần sâu cuốn lá vải (Tortricidae, Lepidoptera) ở miền Bắc Việt Nam vàđặc điểm sinh học, sinh thái của Archips eucroca Diakonoff. Hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 5 Hà Nội 3/2005 ,Tr (219 – 224 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Archips eucroca
14. Nguyễn Xuân Thành , Kiều Thu Thuỷ (2005). Đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ xít bắt mồi Sycanus bifidus Fabr. (Reduviidae - Hemiptera).Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống. Báo cáo khoa học hội nghị khoa học toàn quốc 2005. Nxb Khoa học và kỹ thuật 2005 , Tr (1067 – 1070 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sycanus bifidus
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành , Kiều Thu Thuỷ
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật 2005
Năm: 2005
2. Nguyễn Xuân Thành ( 1999). Côn trùng và vi sinh vật trên cây vải thiều tại Quảng Ninh và Thanh Hoá. Biện pháp lợi dụng vàđiều khiển chúng . Kỷ yếu hội nghị khoa học, công nghệ và môi trường các tỉnh miền núi phía Bắc lần thứ 7.Tr ( 207 – 209 ) Khác
3. Nguyễn Xuân Thành (1999).Thử nghiệm một số chế phẩm thiên nông trên cây vải thiều. Kỷ yếu hội nghị khoa học Côn nghệ và Môi trường các tỉnh miền núi phía Bắc lần thứ 7 – Hà Giang tháng 11/1999 Khác
6. Nguyễn Xuân Thành (2003). Kết quả bước đầu nghiên cứu thành phần các loài côn trùng và nhện trên cây vải tại Hà Nội và vùng phụ cận. Hội thảo quốc gia về khoa học và Bảo vệ thực vật. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 2003, Tr (274 – 278 ) Khác
7. Nguyễn Xuân Thành , Phạm Quỳnh Mai, (2003) .Ong ký sinh trứng bọ xít nhãn vải vàảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến chúng. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống. Hội nghị toàn quốc Khác
9. Nguyễn Xuân Thành, (2003) . Thành phần côn trùng hại nhãn vải và thiên địch của chúng ở miền Bắc Việt Nam. Hội thảo khoa học quốc gia Bảo vệ thực vật Nxb Nông nghiệp Hà nội 2003,Tr (274 – 278 ) Khác
15. Nguyễn Xuân Thành (2006). Kịch bản phim Sâu xanh hại cây trồng và biện pháp phòng trừ Khác
16. Bùi Lan Anh , Ngô Xuân Bình (2003). Một số kết quảđiều tra sâu bệnh hại nhãn vải tại Thái Nguyên năm 2002 – 2003. Tạp chí Bảo vệ thực vật số 6/2003 Khác
17. Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Giang (2004). Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại trên vải thiều. Tạp chí Bảo vệ thực vật, số 4/2004 Khác
18. Dương Tiến Viện - ĐHSP Hà Nội (2000). Một số kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại vải và biện pháp phòng trừ tại Mê Linh – Vĩnh Phúc. Một số loài sâu bệnh hại cây trồng đáng chúý trong những năm gần đây. Tr (54 – 57 ) Khác
19. Hoàng đức Nhuận (1982). Bọ rùa – Coccinellidae ở Việt Nam. NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội – 1982 Khác
20. Hoàng Thị Việt và ctv (2000). Một số kết quả nghiên cứu về NPV (Nuclear Polyhedrosis Virus) và khả năng sử dụng trong phòng trừ sâu hại cây trồng. Tr (113 – 130 ) Khác
23.Nguyễn Xuân Hồng (1998). Kết quảđiều tra bước đầu thành phần sâu bệnh hại vải ở Lục Ngạn – Bắc Giang và Chương Mỹ – Hà Tây. Tr (103 – 105 ) Khác
24. Phạm Đình Sắc (2003). Cấu trúc loài nhện bắt mồi và biến động số lượng của một số loài phổ biến trên cây vải vùng Sóc Sơn, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Điều tra côn trùng tại vườn vải vùng Sóc Sơn, Hà Nội. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Hình 1 Điều tra côn trùng tại vườn vải vùng Sóc Sơn, Hà Nội (Trang 29)
Bảng 2: Thành phần thiên địch trên cây vải - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 2 Thành phần thiên địch trên cây vải (Trang 33)
Bảng 3: Mật độ bọ rùa 18 chấm điều tra trên cây vải. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 3 Mật độ bọ rùa 18 chấm điều tra trên cây vải (Trang 36)
Hình 2: Biến động bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr. Trên cây  vải tại Sóc Sơn _ Hà Nội. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Hình 2 Biến động bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr. Trên cây vải tại Sóc Sơn _ Hà Nội (Trang 38)
Bảng 4: Kích thước của pha trứng, ấu trùng và trưởng thành của bọ rùa  18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 4 Kích thước của pha trứng, ấu trùng và trưởng thành của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr (Trang 41)
Hình 2: Ấu trùng tuổi 4 bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Hình 2 Ấu trùng tuổi 4 bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata (Trang 43)
Hình 3: Bọ rùa trưởng thành 18 chấm Harmonia sedecimnotata. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Hình 3 Bọ rùa trưởng thành 18 chấm Harmonia sedecimnotata (Trang 44)
Bảng 5: Thời gian phát dục và tỷ lệ nở của trứng - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 5 Thời gian phát dục và tỷ lệ nở của trứng (Trang 45)
Bảng 6: Thời gian phát dục và tỉ lệ sống sót của ấu trùng bọ rùa. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 6 Thời gian phát dục và tỉ lệ sống sót của ấu trùng bọ rùa (Trang 47)
Bảng 7: Thời gian phát dục và tỷ lệ sống sót của nhộng - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 7 Thời gian phát dục và tỷ lệ sống sót của nhộng (Trang 48)
Bảng 8: Thời gian sống của bọ rùa trưởng thành. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 8 Thời gian sống của bọ rùa trưởng thành (Trang 50)
Bảng 9: Thời gian từ nhộng vũ hoáđến khi đẻ trứng và số lượng trứng đẻ  của một con cái. - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 9 Thời gian từ nhộng vũ hoáđến khi đẻ trứng và số lượng trứng đẻ của một con cái (Trang 51)
Bảng 10: Khả năng tiêu thụ rệp của ấu trùng bọ rùa 18 chấm Harmonia - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 10 Khả năng tiêu thụ rệp của ấu trùng bọ rùa 18 chấm Harmonia (Trang 52)
Bảng 11: Khả năng tiêu thụ mồi của trưởng thành bọ rùa 18 chấm - Điều tra thành phần côn trùng trên cây vải thiều và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata Fabr
Bảng 11 Khả năng tiêu thụ mồi của trưởng thành bọ rùa 18 chấm (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w