Sau đó các tế bào di chuyển ra phía ngoài tào thành một lớp tế bào gọi là đĩa phôi Blactoderm Tiếp theo một phần của đĩa phôi dày lên hình thành nên giải phôi, hai phía đầu của giải
Trang 1 Đẻ riêng lẻ nhằm giảm bớt sự cạnh tranh, Bướm phượng.
Đẻ thành đám: Bọ ngựa, bọ xít, sâu róm, Châu chấu.
Đẻ trần: trứng được để trần, đính trên mặt lá bằng chất nhờn do tuyến sinh dục phụ tiết ra: Sâu róm thông, bọ xít, bướm phượng.
Đẻ kín: Bọc hoặc cho vào chỗ kín.
Trong kẽ nứt (mọt cây, xén tóc).
Trong mô thực vật (xén tóc).
Trong đất (bổ củi, bọ hung, châu chấu).
Trong lá cuốn lại (vòi voi, cuốn lá).
Bao bằng tuyến nhầy do tuyến sinh dục phụ tiết ra (bọ ngựa, gián).
Bao phủ trứng bằng lông (sâu đo ăn lá lim, bướm đuôi vàng, )
Bôi phân lên trứng (bọ lá).
Thải sáp, che phủ trứng (rệp sáp).
Đẻ vào trong cơ thể ký chủ.
Kiểu đẻ trứng
Trang 2• Tùy thuộc vào cấu tạo cơ thể (cơ quan đẻ trứng) vào nguồn thức ăn.
• Thả rơi: ruồi thả bom, chuồn chuồn.
• Thả trôi: muỗi sốt rét.
• Đính vào giá thể: bọ xít, ký sinh, ngài.
• Cho rơi vào khoang rỗng tự nhiên hoặc tự đào ra (ong, châu chấu, bọ hung).
• Dùng cơ quan đẻ trứng gắn, hoặc chọc vào vật thể (ong ký sinh, ong đục thân, ).
• Số lượng trứng:
– Rệp nho mùa đông: 1; Rệp nho mùa khác:1000
– Ruồi: 600-2000; Phù du: 8000 – Ong nhảy: 15000
Cách thức đẻ trứng
Trang 3 Khi trứng đã được thụ tinh thì nhân bắt đầu phân chia Đầu tiên nhân phân đôi rồi mỗi phần lại phân thành 2 và cứ thế tạo thành nhiều tế bào phân bố trong lòng đỏ.
Lòng đỏ không tham gia vào quá trình phân chia mà chỉ là chất dinh dưỡng nuôi phôi thai.
Sau đó các tế bào di chuyển ra phía ngoài tào thành một lớp tế bào gọi là đĩa phôi (Blactoderm)
Tiếp theo một phần của đĩa phôi dày lên hình thành nên giải phôi, hai phía đầu của giải phôi gọi
là khu ngoaih phôi.
2 Giai đoạn hình thành màng phôi
Giải phôi di chuyển dầ vào giữa trứng và phát triển rộng ra Trong khi đó khu ngoại phôI xuất hiện hai nếp gấp và hai nếp gấp này dần dần kéo dàI ra nối với nahu tạo thành 2 lớp: lớp ngoàI gọi là màng phôI ngoàI (Serosa), lớp trong gọi màng phôI trong (Amnion).
Màng phôI ngoàI thường có sắc tố nên làm cho màu sắc của vỏ trứng thay đổi.
Khi phôI thai đã phát triển đến một mức nhất định thì màng phôI ngoàI cùng với lòng đỏ tiêu biến.
Trang 4 Cùng với việc hình thành các màng phôi, giải phôi cũng bắt đầu phân hoá.
Khi số lượng các tế bào của giải phôi tăng nhiều thì giải phôi lõm vào ở khoảng giữa.
Hai đầu giải phôi lại hình thành hai nếp gấp và sâu đó hai nếp gấp cũng nối liền với
nhau tạo nên hai lớp tế bào: Lớp ngoài gọi là tàng phôi ngoài, lớp trong gọi là tầng phôi trong.
Về sau tầng phôi trong phân chia hình thành tầng phôi giữa.
3 Giai đoạn hình thành tầng phôi.
Trang 5 Sau khi hình thành màng phôi ngoài, giải phôi cũng phát triển dài ra, hình thành các ngấn lõm chia giải phôi ra 18-20 đốt và hình thành các mần chi.
Qua trình này trải qua 3 thời kỳ liên tiếp:
Thời kì chi nguyên thuỷ (Protopod phase): phôi thai chỉ có một số đốt phía đầu và một số mầm chi.
Thời kỳ nhiều chi (Polypod phase): Phôi thai có đầy đủ các đốt của thân thể và mỗi đốt đều
có một đôi mầm chi.
Thời kỳ ít chi (Oligopod phase): Phôi thai chỉ có một đôi mầm chi râu đầu, một đôi mầm chi mắt kép, ba đôi mầm chi miệng, ba đôi mầm chi ngực, các chi ở bụng tiêu biến.
Sau đó phôi thai tiếp tục phát triển như cào cào, châu chấu…có từ 5-6 đốt phía trước hợp lại thành
đầu Các mầm chi hình thàh: RĐ, mắt kép, lỗ miệng, HT,HD,MD
Ba đốt tiếp theo tạo thành ngực, các mầm chi thành 3 đôi chân ngực.
Các đốt còn lại hình thành bụng và các mần chi của các đốt bụng phần lớn tiêu biến, các mầm chi
ở cuối hình thành lông đuôi và cơ quan sinh dục ngoài.
4 Giai đoạn hình thành các chi.
Trang 65 Giai ®o¹n h×nh thµnh c¸c c¬ quan bªn trong.
M¾t: TÇng ph«i ngoµi
ThÓ xoang: TÇng ph«i gi÷a
Ruét: TÇng ph«i ngoµi + tÇng ph«i trong
C¸c chi phô: TÇng ph«i ngoµi + tÇng ph«i gi÷a
C¸nh: Vá c¬ thÓ
M¹ch m¸u: tÇng ph«i gi÷a
C¬ quan sinh dôc: TÇng ph«i gi÷a+tÇng ph«i ngoµi
Da: TÇng ph«i ngoµi
¤ Malphi ghi: TÇng ph«i ngoµi; ThÓ mì: Ph«i gi÷a
HÖ c¬: TÇng ph«i gi÷a
KhÝ qu¶n, lç thë: TÇng ph«i ngoµi
HÖ thÇn kinh: TÇng ph«i ngoµi
Trang 7 Sự biến đổi về hình dạng , cấu trúc và chức năng ở côn trùng liên quan
tới sự sinh trưởng và lột xác được điều tiết bởi hoóc môn.
Quá trình biến thái tiến triển bởi vô số những biến đổi cho tới khi đạt
được giai đoạn trưởng thành
Biến thái là sự biến đổi có tính chất liên tục, sâu sắc cả về mặt hình thái
lẫn cấu trúc cơ thể từ sâu non đến sâu trưởng thành
Biến thái =????
Trang 8Trøng - s©u non – s©u TT
SN gÇn gièng STT
Tr¶i qua 3 thêi k× trong qu¸ tr×nh ph¸t
triÓn ph«i thai
Trøng- s©u non – nhéng – s©u TT
SN kh¸c STT
Tr¶i qua 1-2 thêi k× trong qu¸ tr×nh ph¸t triÓn ph«i thai
Trang 9 Sự biến thái và sự khác nhau giữa hai kiểu biến thái có liên quan đến lịch sử hình thành các
loài côn trùng và đặc biệt là sự phát triển phôi thai của nó.
Những loài côn trùng thuộc kiểu biến thái không hoàn toàn, phôi thai của chúng trải qua cả 3 thời kỳ phát triển trên ở trong trứng nên sâu non nở ra có hình thái tượng tự như sâu trưởng thành, chỉ cần biến đổi đôi chút qua vài lần lột xác để trở thành sâu trưởng thành.
Những loài côn trùng thuộc kiểu biến thái hoàn toàn phôi thai của chúng chỉ phát triển đến hết thời kỳ thứ nhất hoặc thời kỳ thứ hai sâu non đã nở ra, do đó sâu non khác hẳn với sâu trưởng thành.
Để trở thành sâu trưởng thành ngoài lột xác sâu non còn phải trải qua pha nhộng.
Nguyên nhân khác là để hoàn chỉnh những bộ phận và cơ quan còn thiếu trong quá trình phát triển phôi thai.
Tham gia vào quá trình biến thái của côn trùng còn có nhiều tuyến tiết: tuyến gần não tiết ra hoocmôn trẻ để kích thích quá trình lột xác, tuyến ngực trước tiết ra hoocmôn biến thái.
Nguyên nhân của sự biến thái
Trang 10 Cơ thể sâu non thường ở dạng nhuyễn trùng, sự phânhóa cơ
thể thành ba bộ phận cơ bản là đầu, ngực, bụng.
Cơ thể có thể có 13 đốt Các đốt ngực có thể có các chi phụ là
chân Các đôt bụng có thể có chân giả.
Lớp da phủ bụng và ngực thường mỏng, trên vỏ cơ thể có các
dạng cấu tạo khác nhau
Giai đoạn sâu non có các dạng khác nhau và các cơ quan sâu
non đặc trưng.