Cơ sở thực tiễn...7 Phần II: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ; xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả...9 I.. to lớn, có ý ng
Trang 15 Nguyễn Văn Hòa
6 Nguyễn Văn Hưng
7 Nguyễn Tấn Luân
8 Nguyễn Đình Mùi
9 Lê Thị Ngọc Quý
10.Đinh Vũ Thiên Thanh
11.Huỳnh Minh Việt
XNK 13M
1 Lê Thị Thoại My
2 Nguyễn Phú Nam
Trang 2PHỤ LỤC
Trang
Phần mở đầu 4
Phần I: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước 5
1 Cơ sở lý luận 5
2 Cơ sở thực tiễn 7
Phần II: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ; xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả 9
I Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ
9
1 Xây dựng một Nhà nước hợp hiến, hợp pháp 10
2 Quản lý Nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào trong cuộc sống 13
3 Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước đủ đức, đủ tài
15
II Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả 17
1 Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước
17
2 Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng 19
Trang 3Phần III: Ý nghĩa, vận dụng 21
1 Ý nghĩa 21
2 Vận dụng 21
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 4
Phần mở đầu
Trong lịch sử của các dân tộc thường có các vĩ nhân mà cuộc đời và sự nghiệp,
tư tưởng và hành động gắn liền với cả một giai đoạn lịch sử đầy sôi động, đầy biến
cố của dân tộc và thời đại mình: phản ánh ý chí, nguyện vọng của các dân tộcthông qua các hoạt động của mình đã góp phần to lớn vào sự phát triển của thời đạinhư Mác, Ănghen, V.I.Lênin…và Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những conngười như vậy
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn nửa thế kỷ
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, là sự kết tinhtrí tuệ của dân tộc và thời đại, là sự vận dụng sáng tạo và bước phát triển của chủnghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh
là linh hồn, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và đang ngày một vươn lênsánh vai cùng các cường quốc năm châu, đang dần khẳng định vị thế của mình trêntrường quốc tế về một Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ
Để đạt được thành quả trên là cả một quá trình đấu tranh gian khổ với những
hy sinh mất mát không thể bù đắp được của bao thế hệ cha ông ta Và để có đượcnền độc lập, dân chủ của nước nhà thì ngoài sự cống hiến, hy sinh của cả dân tộc,còn có những con người kiệt xuất với phẩm chất anh dũng, kiên cường, không sợkhó, sợ khổ, sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc Con người kiệt xuất ấy mang tênNguyễn Tất Thành đã một mình bôn ba khắp năm châu, bốn bể để tim ra conđường mang lại độc lập tự do cho tổ quốc mình Nhắc tới Người là nhắc tới một vịanh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa của nhân loại, một vị lãnh tụ tài ba vàđặc biệt là người cha già kính yêu của dân tộc Cả cuộc đời Người đã cống hiến sựnghiệp giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho đất nước Tư tưởng củaNgười đã đưa dân tộc ta vượt qua muôn trùng khó khăn để đi đến những thắng lợi
Trang 5to lớn, có ý nghĩa lịch sử vĩ đại, là kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi hoạtđộng của Đảng và của nhân dân ta.
Một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nhànước kiểu mới – nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Đây là tư tưởngxuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng và Bác Hồ, đã được minhchứng và kiểm nghiệm trong lịch sử đấu tranh giành chính quyền và xây dựngchính quyền nhà nước dân chủ nhân dân Theo Hồ Chủ Tịch, nhà nước kiểu mới –nhà nước pháp quyền phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đó là ý tưởng, ýchí nhất quán trong tư tưởng của Người về nhà nước pháp quyền
Thật may mắn cho chung ta vì đã được sinh ra, lớn lên và hưởng trọn nhữngthành quả mà cả đời Người đã cống hiến Qua thời gian học tập, nghiên cứu, tìmtòi trên sách vở, báo chí, đặc biệt là sự chỉ dạy tận tình của Thầy cô giúp chúng tađược tiếp cận với hệ thống tư tưởng của Người, cho chúng ta hiểu được tầm quantrọng của hệ thống tư tưởng này trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.Chính vì tầm quan trọng này và mong muốn được tìm hiểu, học hỏi cũng như chia
sẻ những hiểu biết của mình mà chúng em quyết định chọn đề tài “Tư tưởng HồChí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ và xâydựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả.”
Về cơ bản đề tài đã hoàn thành nhưng do kiến thức còn hạn hẹp và thời giantiếp xúc với thực tế còn ít nên nội dung bài viết còn nhiều thiếu xót và khuyếtđiểm Rất mong nhận được những ý kiến đánh giá, nhận xét của cô để bài tiểu luậncủa chúng em được hoàn chỉnh hơn
Phần I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
1 Cơ sở lý luận:
Trang 6a) Khái niệm nhà nước: Nhà nước là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực
chính trị, được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị củamình
Nhà nước pháp quyền: Nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó
nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật, mọi quyền và nghĩa vụ của tất cả, củamỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ
Nguồn gốc ra đời của nhà nước:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Nhà nước là một phạm trù lịch sử,nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội
và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa”
Cụ thể, nhà nước ra đời có nguồn gốc sau:
“Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn tới chế độ tư hữu tư liệu sản xuất và từ đó
xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, với những mâu thuẫn giai cấp khôngthể điều hòa được Điều đó dẫn tới nguy cơ các giai cấp sẽ tiêu diệt lẫn nhau, và đểtránh nguy cơ bị diệt vong và điều tiết các mâu thuẫn giai cấp thì nhà nước đã rađời Như vậy, nguyên nhân trực tiếp của sự ra đời của nhà nước là mâu thuẫn giaicấp không thể điều hòa được
b) Cơ sở lý luận
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tích lũyđược biết bao kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước, được phản ánh trongcác bộ sử lớn của dân tộc như “Đại việt sử ký toàn thư”, “Lịch triều hiến chươngloạn chí”… Kinh nghiệm trị nước cũng ghi lại trong các bộ luận nổi tiếng như
“Hình thư (đời Lý), Quốc triều hình luật (đời Trần), bộ luật Hồng Đức (đời Lê)…”Những yếu tố tích cực của nhà nước thân nhân thời kỳ phong kiến hưng thịnhtrong lịch sử dân tộc: “ nước lấy dân làm gốc”, tiếp thu nho giáo… là những hànhtrang đầu tiên Hồ Chí Minh mang theo trên con đường cứu nước và tìm kiếm một
mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành độc lập
Trang 7Trong Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin coi nhà nước là một trong những vấn
đề phức tạp nhất, khó khăn nhất, nhưng lại là vấn đề rất cơ bản và rất mấu chốttrong toàn bộ chính trị mà giai cấp vô sản không thể không giải quyết trong cuộcđấu tranh cách mạng nhằm thiết lập một chế độ xã hội mới về chất
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người yêu nước, thương dân nồng nàn thathiết Người đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng niềm tin mãnh liệt: “Bây giờ họcthuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất là chủ nghĩa Lê-nin” và con đường duy nhất mang lại độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào làcon đường cách mạng vô sản, dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền về taynhân dân Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng như V.I.Lê-nin
đã chỉ rõ: “Cùng với việc tổ chức xây dựng Đảng cách mạng thì trong cuộc đấutranh này, trước hết phải có Đảng cách mệnh”, “Đảng có vững cách mệnh mớithành công” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nền tảng tư tưởng cho đường lốichiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng Trong đó tư tưởng của Người vềvấn đề chính quyền nhà nước hình thành khá sớm và rõ nét
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhànước; đồng thời, kế thừa và phát huy những giá trị nhân loại và truyền thống dântộc về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những tư tưởng sâu sắc về xâydựng nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong xây dựng nhà nước kiểu mới, trướchết bắt nguồn từ đường lối cách mạng của Đảng Một mặt, Người khẳng định bảnchất giai cấp công nhân của nhà nước, mặt khác Người cũng khẳng định sự thốngnhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính chất nhân dân và dân tộc của nhà nướcpháp quyền vì nó là đại diện cho toàn thể nhân dân và toàn dân tộc
2 Cơ sở thực tiễn
Với “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng cuộcđấu tranh vì độc lập tự do cho dân tộc mình và các dân tộc thuộc địa bằng việc vạch
Trang 8trần bản chất vô nhân đạo, phản tiến hóa mà thực dân , đế quốc thi hành ở các xứ
Trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã khảo sát mô hình Nhà nước tư sản
Mỹ, Pháp Người phát hiện ra đằng sau những lời hoa mỹ về “ quyền bình đẳng,quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của tuyên ngôn độc lập 1776
đó là sự bất bình đẳng, nghèo đói, nạn phân biệt chủng tộc và biết bao tàn bạo, bấtcông khác Người coi đó là “những cuộc cách mạng không đến nơi” vì ở đó chínhquyền vẫn ở trong tay một số ít người, và vì cách mệnh đã thành công hơn 150năm, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần hai
Sau khi đến Liên Xô, Người đã tìm thấy mô hình nhà nước kiểu mới: “… phátruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,… ra sức tổ chức kinh tế mới,
để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng” đã gợi ý cho Người về một kiểu nhànước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai mà Người đã nêu ra trong
Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930.
Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghịlần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (5-1941), hoàn chỉnh sự chỉ đạo chuyểnhướng chiến lược, đề ra Chương trình Việt Minh Hội nghị chủ trương “không nênnói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô-viết mà phải nói toàn thể nhân dânliên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa” Chương trình Việt Minh cũng ghi rõ:
Trang 9“Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dâncủa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra”.
Từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà nước đại biểucho khối đại đoàn kết của toàn thể quốc dân là một bước chuyển sáng suốt của HồChí Minh, phản ánh được nét đặc thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp với sự chuyểnhướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam
Sang năm 1945, Hồ Chí Minh chỉ đạo thành lập Khu giải phóng, các Ủy bannhân dân cách mạng vừa lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tập khởi nghĩa, vừa tập chonhân dân cầm chính quyền Hội nghị toàn quốc tại Tân Trào đã đi đến quyết địnhlịch sử: phát động tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng tại ViệtNam, ra mắt Quốc dân đại hội, làm chức năng của Chính phủ lâm thời ngay sauCách mạng tháng tám thành công
Trong gần ¼ thế kỷ, trên cương vị là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam mới,Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có côngđầu trong việc đặt nền móng xây dựng một nhà nước kiểu mới: của dân, do dân và
vì dân
Tất cả những nghiên cứu, khảo sát cùng thực tiễn tổ chức hoạt động của Hồ ChíMinh được đề cập ở trên là cơ sở hình thành nên tư tưởng của Người về nhà nước
Di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước phong phú và hiện đại, từ đó chúng
ta sẽ nghiên cứu và tìm hiểu nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về mộtNhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ và tư tưởng Hồ Chí Minh vềxây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả
Phần II: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CÓ HIỆU LỰC PHÁP LÝ MẠNH MẼ; XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ
I Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ
Trang 10Hồ Chí Minh đã sớm thấy được tầm quan trọng của pháp luật trong quản lý xãhội Điều này thể hiện ngay trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam do Người kýtên Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây (Pháp) năm 1919 Sau này khi trởthành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Người càng quan tâm sâu sắc hơnviệc xây dựng và điều hành nhà nước một cách có hiệu quả bằng pháp quyền Mộtnhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ được Hồ Chí Minh chú ý xây dựng thể hiệntrên những điểm sau đây:
1 Xây dựng một Nhà nước hợp hiến,hợp pháp:
Sau khi nhận được tin báo ngày 19-08-1945, Tổng khởi nghĩa thành công tại HàNội và ngày 23-08-1945 thành công tại Huế, Đảng bộ miền Nam quyết định ngày25-08-1945 tiến hành tổng khởi nghĩa tại Sài Gòn và các tỉnh còn lại Giành lạichính quyền từ tay phát xít Nhật Đập tan ách thống trị của thực dân Pháp, sau 87năm đô hộ dưới danh nghĩa “bảo hộ”, “khai hóa” Việt Nam, 2 lần bán nước tacho Nhật
Chiều 30-08-1945 trước cửa Ngọ Môn, trước cuộc mít tinh hàng vạn ngườitham gia, vua Bảo Đại đọc lời thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng Đại diệnchính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa tuyên bố xóa bỏ chế độ quân chủtại Việt Nam
Ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyênngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Nhà nước Dân chủCộng hòa đầu tiên ở châu Á
Bản Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh đọc ngày 02-09-1945 đã nêu rõ:”Pháp
chạy , Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần
100 năm, gây dựng Việt Nam Độc Lập Dân ta lại đánh đổ Chế độ Quân chủ mấymươi thế kỷ lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa“ Hồ Chí Minh lại khẳng định
“chúng tôi lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn bộ nhân
Trang 11dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước
mà Pháp đã kí về Việt Nam, xóa bỏ tất cả các đặc quyền của Pháp trên Việt Nam”
Bản Tuyên ngôn không chỉ tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới về sự
khai sinh của Nhà nước Việt Nam , qua đó biểu dương lực lượng và ý chí của toànthể dân tộc Việt Nam Đây còn là cơ sở vững chắc để chính phủ lâm thời do cuộccách mạng của nhân dân lập nên có được địa vị hợp pháp
Để đánh giá một quốc gia, người ta thường nhìn vào bản Hiến pháp bởi vì nó làmột hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục,quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền Bởi vậy, tất cả các quốc gia đượccoi là hợp hiến đều rất cần có bản Hiến pháp dân chủ thể hiện nhà nước phápquyền
Hiến pháp là một văn kiện thiêng liêng của mỗi quốc gia, là văn bản tối cao củapháp luật quy định những vấn đề cơ bản nhất của nhà nước đó Bản chất của Hiếnpháp là những quy định pháp luật mà văn bản pháp luật là những điều quy tắc ứng
xử , bắt buộc đối với mọi đối tượng sống trên lãnh thổ nhà nước cho nên khi sửaphải rất thận trọng, bài bản, khoa học và thực tế Hiến pháp của một quốc gia làtiếng nói của nhân dân, của dân tộc làm chủ quốc gia đó Người đứng ra nói trongHiến pháp là dân tộc, từng câu, từng chữ, từng lời trong Hiến pháp là câu, là chữ, làlời của dân tộc, biểu thị sự lựa chọn và quyết định của dân tộc, ý chí và tâm nguyệncủa dân tộc
Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ 3/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề nghịtổng tuyển cử càng sớm càng tốt để lập Quốc hội rồi từ đó lập ra Chính phủ và các
cơ quan, bộ máy chính thức khác của Nhà nước mới Và Người đã có chỉ thị nhiệm
vụ cấp bách phải xây dựng bản Hiến pháp để nhân dân được hưởng quyền tự dodân chủ Theo sắc lệnh số 34 ngày 20/9/1945 của Hồ Chủ Tịch Ban soạn thảo Hiếnpháp 1946 của Chính phủ lâm thời do 7 người chủ trì: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy(Bảo Đại), Đặng Thái Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng,
Trang 12Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) Tháng 11-1945, bản Dự án Hiến pháp của nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa đã được Chính phủ soạn thảo và được công bố để lấy ýkiến các chính giới Uỷ ban kiến quốc của Chính phủ cũng đã tự nghiên cứu và đưa
ra một Dự thảo Hiến pháp
Ngày 06-01-1946, cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành thắng lợi với chế độ phổthông đầu phiếu và lần đầu tiên trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Namcũng như lần đầu tiên ở Đông Nam Á, tất cả mọi người dân từ 18 tuổi trở lên,không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, đảng phái, tôn giáo…đều đi bỏ phiếubầu những đại biểu của mình vào trong Quốc hội
Ngày 02-03-1946, Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên lập ra các tổ chức, bộmáy và các chức vụ chính thức của Nhà nước HCM được bầu làm Chủ tịch Chínhphủ liên hiệp đầu tiên Đây chính là Chính phủ có đầy đủ giá trị pháp lý để giảiquyết một các có hiệu quả những vấn đề đối nội và đội ngoại ở nước ta Đồng thời,Quốc hội đã bầu Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 người: Trần Duy Hưng, TônQuang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, TrầnTấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ, Nguyễn Thị ThụcViên Đây là các trí thức tiêu biểu có người chưa phải là đảng viên Căn cứ vào bản
Dự án của Chính phủ và đối chiếu với bản Dự thảo của Uỷ ban kiến quốc, tập hợpnhững kiến nghị phong phú của toàn dân và tham khảo kinh nghiệm soạn Hiếnpháp của các nước, Ban Dự thảo Hiến pháp của Quốc hội đã soạn thảo một Dự ánHiến pháp để trình Quốc hội Trong phiên họp ngày 29-10-1946, Ban Dự thảo Hiếnpháp của Quốc hội được mở rộng thêm 10 vị đại biểu cho các nhóm, đại biểu trunglập, đại biểu Nam Bộ, đại biểu đồng bào dân tộc thiểu số để tham gia tu bổ thêmbản Dự án
Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, từ ngày 28-10 đến ngày 9-11-1946, saunhiều buổi thảo luận và tranh luận sôi nổi, sửa đổi, bổ sung cho từng điều cụ thể,ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam