Năm 1976, đất nước đượcđược thống nhất về mặt nhà nước, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội,trên cơ sở thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp như miền bắc 20 năm tr
Trang 1BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Sản xuất hàng hoá thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, nhiều, tốt, rẻ (không kể mặt tiêu cực) Dùng lý luận kinh tế để giải thích.Lấy thực tế
Việt Nam minh chứng
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
1.1.1 Phân công lao động xã hội 5
1.1.2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất 5
1.2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá 6
1.3 Lượng giá trị hàng hoá Nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá 7 1.3.1 Thời gian lao động xã hội cần thiết 7
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá 7
Mô hình trang trại chăn nuôi tập trung 10
Quy mô lớn, hiện đại 11
Kết hợp chế biến 12
KẾT LUẬN 18
Tài liệu tham khảo 21
Tạp chí cộng sản điện tử 21
Thời báo kinh tế Việt Nam 21
MOF WEBSITE 21
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Với thắng lợi to lớn của chiến dịch HỒ CHÍ MINH lịch sử, ngày 30-4năm 1975 miền nam hoàn toàn được giải phóng Năm 1976, đất nước đượcđược thống nhất về mặt nhà nước, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội,trên
cơ sở thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp như miền bắc
20 năm trước.Trong thời kỳ này nền kinh tế của chúng ta đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng, đồng thời cũng có nhiều khó khăn thách thức Do vậytrong thời kỳ này đảng và nhà nước ta đã đề ra đường lối xây dựng kinh tếnhư sau : “đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa,xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏlên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng mộtcách hợp lý,trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ,kết hợp xâydựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công nôngnghiệp, vừa xây dựng kinh tế trung ương, vừa phát triển kinh tế địa phươngtrong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất;kết hợp phát triển lực lượng sảnxuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốcphòng”.Nhưng sau những nỗ lực phát triển kinh tế theo đường lói trên, nềnkinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm chạp, thậm chí đến cuối những năm 70 đãbước vào khủng hoảng,sãn xuất trì trệ, giá cả tăng nhanh.Trong khi đó nguồnviện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô và Đông Âu) không còn nữa,đồng thời do khó khăn về kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa nên nguồn vốnvay của các nước này (chủ yếu từ liên xô) ngày càng giảm sút Trong khi đó
Mỹ tiếp tục bao vây, cấm vận kinh tế, ngăn cản Việt Nam bình thường háovới các nước và tổ chức quốc tế.Những yếu tố này gây ra nhiều khó khăn chonền kinh tế và đời sống nhân dân ta.Trước tình hình đó,nhiều cán bộ lãnh đạocủa đảng và nhà nước ở một số địa phương đã tìm kiếm giải pháp,thực hiệncải tiến từ cơ sở Từ thực tiễn đó năm 1979 Đảng và nhà nước ta bắt đầu có
Trang 4một số chủ trương và đến đại hội VI (tháng 12/1986) thì đảng, nhà nước ta đã
có những đổi mới thực sự quan trọng trong con đường đổi mới toàn diện vàsâu sắc ở nước ta, trong đó có đổi mới kinh tế nhằm cởi trói cho nền kinh tế
để tạo điều kiện cho sản xuất “bung ra”,thực hiện cơ cấu nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, Đây là một mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi mới
ở nước ta.Và sau hơn 16 năm thực hiện công cuộc đổi mới với nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần này chúng ta đã đạt được nhiều tiến bộ về kinh tếcũng như các mặt khác,phần nào xoá bỏ được khoảng cách giữa ta và cácnước khác trên thế giới Trong giai đoạn hiện nay ,việc Việt Nam gia nhập tổchức kinh tế thế giới có lẽ cũng là dấu mốc lịch sử quan trọng của nước ta,vànền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có vai trò gì với chúng ta hiện nay?Đây là một câu hỏi không mới song cũng không dễ trả lời và những tài liệunghiên cứu về vấn đê này có lẽ là rất quan trọng đối với chúng ta hiện nay
2.Mục đích nghiên cứu và lý do lựa chọn đề tài
Vào đại hội 6 năm 1986, sau khi phân tích những sai lầm trước đó, đảng
ta đã quyết định chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần xã hội chủ nghĩa và thực tế là chúng đã có được sựtiến bộ vượt bậc sau 20 năm đổi mới, chúng ta có được sự tiến bộ này phầnlớn nhờ nền sản xuất hàng hoá.Nhưng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển mộtcách bền vững ở giai đoạn tiếp theo, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi ViệtNam vừa gia nhập WTO nền kinh tế chắc chắn sẽ có sự biến đổi lớn Vì vậychúng ta cần có những tài liệu, những công trình nghiên cứu về vấn đề này,nhằm giúp ta hiểu rõ được ưu điểm và hạn chế của nền sản xuất hàng hoá để
có cách thức, biện pháp phát triển hợp lý nền sản xuất hàng hoá để đưa kinh
tế Việt Nam phát triển
Về phía bản thân mình, tuy rằng là một sinh viên của một trường đại họckhốii kinh tế và trong quá trình học đã được bổ sung một số kiến thức về kinh
tế song những kiến thức về thực tế của em rất hạn hẹp Do đòi hỏi của thực tế,
Trang 5sau một thờii gian nghiên cứu em đã quyết định chọn đề tài “Sản xuất hàng
hoá thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, nhiều, tốt, rẻ (không kể mặt tiêu cực) Dùng lý luận kinh tế để giải thích.Lấy thực tế Việt Nam minh chứng” vì
em thấy đề tài này có liên quan đến chưng trình học của mình và nó chứađựng nhiều kiến thức thực tế mà em muốn tìm hiểu và một lý do quan trọngnhất là dù sao em cũng muốn được góp một phần ý kiến nhỏ bé của mình vàocông cuộc xây dựng đất nước
Trang 6
NỘI DUNG
1.Dùng lý luận kinh tế để giải thích
Để dùng lý luận kinh tế giải thích cho đề tài này chúng ta cần tìm hiểu về
lý thuyết của sản xuất hàng hoá, điều kiện ra đời, đặc trưng ưu thế của sảnxuất hàng hoá so với sản xuất tự cấp tự túc, giá trị của hàng hoá và cuối cùng
là những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá
1.1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổchức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá
Sản xuất tự cấp tự túc là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao độngtạo ra nhằm thoả mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất
Trang 7Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sảnxuất ra để trao đổi hoặc bán trên thị trường
Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời, khi có đủ hai điều kiện sau đây:
1.1.1 Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội ra thành cácngành, nghề khác nhau của nền sản xuất xã hội
Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hoá lao động, do đó dẫnđến chuyên môn hoá sản xuất thành những ngành nghề khác nhau Do phâncông lao động xã hội nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loạisản phẩm nhất định Song, cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loạisản phẩm khác nhau Để thoả mãn nhu cầu đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụthuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau
Tuy nhiên, phân công lao động xã hội chỉ mới là điều kiện cần nhưngchưa đủ C Mác đã chứng minh rằng, trong công xã thị tộc ấn Độ thời cổ, đã
có sự phân công lao động khá chi tiết, nhưng sản phẩm lao động chưa trởthành hàng hoá Bởi vì tư liệu sản xuất là của chung nên sản phẩm và từngnhóm sản xuất chuyên môn hoá cũng là của chung; công xã phân phối trựctiếp cho từng thành viên để thoả mãn nhu cầu C Mác viết: "Chỉ có sản phẩmcủa những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đốidiện với nhau như là những hàng hoá" Vậy muốn sản xuất hàng hoá ra đời vàtồn tại phải có điều kiện thứ hai nữa
1.1.2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thuỷ là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu
tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động Như vậy, chính quan hệ
sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã
Trang 8hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng Trong điều kiện ấy người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua sự mua - bán hàng hoá, tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hoá
Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếuthiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hoá và sản phẩmlao động không mang hình thái hàng hoá
1.2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá
Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển
Sản xuất hàng hoá có đặc trưng và ưu thế như sau:
- Do mục đích của sản xuất hàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầucủa bản thân người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thoả mãn nhucầu của người khác, của thị trường Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thịtrường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển
- Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hoá phảinăng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật,hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản
Trang 9phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hoá và thu được lợi nhuận ngày càng nhiềuhơn Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ
- Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất "mở" của các quan hệhàng hoá tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các địa phương trongnước và quốc tế ngày càng phát triển Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng caođời sống vật chất và văn hoá của nhân dân
1.3 Lượng giá trị hàng hoá Nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá 1.3.1 Thời gian lao động xã hội cần thiết
Chất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Vậy lượng giá trị là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định Đo lượng lao động bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động, một ngày lao động Do đó, lượng giá trị của hàng hoácũng do thời gian lao động quyết định Trong thực tế, một loại hàng hoá đưa
ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá của họ khác nhau Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt hàng hoá của từng người sản xuất Nhưng lượng giá trị xã hội của hàng hoá không phải được tính bằng thời gian lao động cá biệt mà bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian lao động
xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định Thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá nào đó trên thị trường
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá
Trang 10Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị củahàng hoá cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi này tuỳ thuộc vàonăng suất lao động và mức độ phức tạp hay giản đơn của lao động
- Lượng giá trị hàng hoá thay đổi do tác động của năng suất lao động: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, nó được tínhbằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượngthời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động xãhội càng tăng, thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng giảm, lượnggiá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít Ngược lại, năng suất lao động xã hộicàng giảm, thì thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng tăng và lượnggiá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều Lượng giá trị của một đơn vịhàng hoá tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năngsuất lao động Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hoá xuống, thì
ta phải tăng năng suất lao động Đến lượt năng suất lao động lại tuỳ thuộc vàonhiều nhân tố: trình độ khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoahọc kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sự kết hợp xã hội của sảnxuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất,các điều kiện tự nhiên
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhauđối với lượng giá trị hàng hoá Cường độ lao động là mức độ khẩn trương,căng thẳng của lao động Khi cường độ lao động tăng, thì lượng lao động haophí trong cùng một đơn vị thời gian tăng và lượng sản phẩm được tạo ra tăngtương ứng còn lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm không đổi Tăng cường
độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động
- Lượng giá trị hàng hóa, phụ thuộc vào tính chất của lao động, đó là: laođộng giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là sự hao phí lao động một cách giản đơn mà bất kỳmột người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được
Trang 11Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo rađược nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Lao động phức tạp là laođộng giản đơn được nhân gấp bội lên Để cho các hàng hoá do lao động giảnđơn tạo ra có thể quan hệ bình đẳng với các hàng hoá do lao động phức tạptạo ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành laođộng giản đơn trung bình Như vậy, lượng giá trị của hàng hoá được đo bằngthời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình
Sau khi tìm hiểu về các yếu tố trên, chúng ta có thể giải thích được vấn đềnhư sau:
Với mục đích của sản xuất hàng hoá ta thấy rằng, sản xuất hàng hoá làkiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm được sản xuất ra nhằm để bán hoặc trao đổitrên thị trường, nói chung rằng mục đích của sản xuất hàng hoá là tạo ra sảnphẩm để phục vụ nhu cầu của người khác, của xã hội Mà nhu cầu của conngười là hầu như không có giới hạn, đặc biệt trong thời đại hiện nay, cuộcsống ngày càng no đủ nên nhu cầu của con người về hàng hoá phát sinh ngàycàng nhiều với sự đòi hỏi ngày càng khắt khe Cùng với đó là sự tăng lên rấtlớn của số lượng người sản xuất hàng hoá, do vậy cạnh tranh ngày càng gaygắt hơn Để tồn tại được thì người sản xuất hàng hoá Những yếu tố này đãthúc đẩy người sản xuất hàng hoá cải tiến công cụ sản xuất, hợp lý hoá sảnxuất với mục đích làm vừa lòng thượng đế để thu được nhiều lợi nhuận hơn.Những yếu tố này đã thúc đẩy người sản xuất hàng hoá cải tiến công cụ, hợp
lý hoá sản xuất, cải tạo cơ chế quản lý, kinh doanh Do vậy số lượng hàng hoángày càng tăng lên với chất lượng không ngừng được nâng cao, từ đó thúcđẩy kinh tế phát triển Mặt khác sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển thì xuthế hội nhập là không thể tránh khỏi, từ đây làm cho sự giao lưu kinh tế, vănhoá, khoa học-kĩ thuật giữa các nước tăng lên, tạo điều kiện để phát triển đờisống văn hoá của nhân dân các nước và đưa nền văn minh nhân loại lên một
Trang 12tầm cao mới
2.Lấy thực tế Việt Nam minh chứng
Sau 20 năm đổi mới, nước ta đã có sự biến đổi vượt bậc về mọi mặt trong
đó có kinh tế Sự thay đổi này diễn ra trong tất cả các mặt, các thành phần của
xã hội Sau đây ta sẽ lấy một số ví dụ cụ thể để minh chứng điều này
Đầu tiên chúng ta sẽ đi vào ngành nông nghiệp và xem xét các dự án thựchiện nông nghiệp hàng hoá ở một tỉnh của nước ta đó là Bình Dương
Đến với Bình Dương với dự án Phát triển chăn nuôi theo hướng bềnvững Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta phát triển nền nông nghiệp hànghóa tập trung sản phẩm đa dạng, hiệu quả cao, hướng đến một nền nôngnghiệp chất lượng cao, sạch, bảo đảm đáp ứng nhu cầu cho công nghiệp chếbiến, tiêu dùng và xuất khẩu
Mô hình trang trại chăn nuôi tập trung
Từ mục tiêu này, thời gian qua, ngành chăn nuôi cả nước đã có nhiềuchuyển biến rõ rệt: Người dân mạnh dạn hơn trong đầu tư chăn nuôi tập trung,thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia; đang từng bước xóa dần tậpquán chăn nuôi nhỏ lẻ; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, lai tạo và đưagiống mới vào sản xuất; bảo đảm an toàn dịch bệnh tạo ra được ngày càngnhiều hàng hóa phục vụ tốt phần nào nhu cầu sản xuất công nghiệp và tiêudùng trong nước
Bình Dương đến nay đã được nhiều người biết đến là tỉnh công nghiệpphát triển nhanh Dù tỷ trọng nông nghiệp chỉ còn 7% trong GDP và hàngnăm diện tích đất nông nghiệp chuyển sang công nghiệp dịch vụ và đô thị từ2.000-6.000 ha, nhưng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn tăng bìnhquân 6%/năm và diện tích đất nông nghiệp chiếm 70% diện tích đất tự nhiên