1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: Thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay, các giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá potx

25 728 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay, các giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 58,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính phủ đã đề ra chính sách thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nướcđược 15 năm , tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm chạp đến nay gây cản trở khôngnhỏ tới việc phát triển nền kin

Trang 1

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Đề tài

Thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay, các giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I Tính cấp thiết của đề tài : 1

II Mục đích ý nghĩa của việc chọn đề tài : 1

PHẦN NỘI DUNG 2

I THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HIỆN NAY 2

a Điều kiện cổ phần hoá 4

b Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật chung của các nước 4

Thứ hai, bộc lộ một số “vấn đề” ở một số doanh nghiệp hậu cổ phần hoá 8

II GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT HẠN CHẾ VÀ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ 10

1 Nguyên nhân còn tồn tại những hạn chế 10

2 Giải pháp 14

Để nâng cao hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 14

III PHƯƠNG HƯỚNG , NHIỆM VỤ ĐẾN NĂM 2010 15

a) Tiếp tục cổ phần hóa các công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, địa phương: 15

b) Đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước: 16

c) Cổ phần hoá các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm: 16

Phần ba 18

PHẦN KẾT 18

Triển vọng cổ phần hóa ở Việt Nam 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài :

Tháng 11-2006 vừa qua đã đánh dấu một bước ngoặt lớn của nền kinh tế ViệtNam.Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO Là thành viên của tồchức,Việt Nam có được những thuận lợi cơ hội để phát triển nền kinh tế của mình,song nó cũng là những thức thách cực kì lớn đối với một đất nước có nền kinh tế đangphát triển như Việt nam

Gia nhập WTO Việt Nam cần có cái nhìn sâu hơn rộng hơn về kinh tế trong nước

và quốc tế , đặc bịêt là các vấn đề còn tồn tại cần được giải quyết một cách triệt để ,giúp Việt Nam tự tin hơn trên trường quốc tế Việt Nam đã đổi mới cơ chế từ năm

1996 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thành tựu quan trọng : trong thời kìthực hiện chiến lược 10 năm 1991 đến 2000, nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng ;trong thời kỳ 5 năm đầu tiên thực thực hiện chiến lược 10 năm 2001_2010 , nền kinh

tế dường như “ không chệch hướng “ khỏi quỷ đạo đạt tốc độ tăng trưởng hằng nămtương đối cao Ngoài ra còn thành tích khá ấn tượng về ổn định kinh tế vĩ mô , về tốc

độ tăng giá trị xuất khẩu hằng năm, về xoá đói giảm nghèo … chính những thành tíchđạt được và vượt kế hoạch ấy đôi khi đã làm dịu đi nỗi băn khoăn về một số chỉ tiêu kháccủa đổi mới kế hoạch ,một trong nhưỡng chỉ tiêu đó là cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước

Chính phủ đã đề ra chính sách thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nướcđược 15 năm , tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm chạp đến nay gây cản trở khôngnhỏ tới việc phát triển nền kinh tế , tăng thêm thử thách cho Việt Nam khi là thànhviên WTO bởi vì số lượng các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là khá lớn mànhững doanh nghiệp này hiện đang kinh doanh kết quả không mấy lợi nhuận ,chưa kểđến các doanh nghiệp bị thua lỗ nặng nề ,nhà nước đã phải bù lỗ với lượng tiền khôngnhỏ làm cho nền kinh tế không những không phát triển được mà còn bị trì trệ ,là mối

lo ngại lớn của Việt Nam khi đứng trước một thị trường “mở" như hiện nay

II Mục đích ý nghĩa của việc chọn đề tài :

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và NhàNước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước đây là một vấn

đề đang được đẩy mạnh ở nước ta , đặc biệt khi mà Việt Nam đã gia nhập WTO thìviệc nghiên cứu nó lại có ý nghĩa to lớn hơn

Nghiên cứu vấn đề nóng này để có được sự hiểu biết cần thiết về nó, để đưa ra

lí luận thực sự đúng đắn, góp phần nhỏ kiến thức của bãn thân vào việc làm sáng tỏvấn đè thực trạng và giải pháp Góp thêm một tiếng nói, một sự nhận định ,giúp tuyêntruyền phần nào mọi người thấy được lợi ích của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước, để đồng lòng chung sức, ủng hộ chính sách của đảng và nhà nước

Sau khi trình bày về tính cấp thiết, mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề

tài: “Thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay, các

giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá” làm đề tài đề án kinh tế chính trị.

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

1 Bản chất kinh tế của hình thái cổ phần

So với các hình thái sở hữu khác trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, hìnhthái cổ phần ra đời muộn hơn cả Điều đó tự nó hàm nghĩa rằng, sự ra đời của hình thái

cổ phần phải dựa trên những tiền đề vật chất và thiết chế kinh tế nhất định Đó là sựphát triển ở mức độ cao của sức sản xuất xã hội cũng như mức độ hoàn thiện của cơchế của các quan hệ hàng hóa - tiền tệ tương ứng với nó Về mặt lô-gíc, có thể tóm tắtcác bước phát triển của các hình thái sở hữu tiến đến hình thái cổ phần đại thể là: từhình thái kinh doanh một chủ, phát triển lên hình thái kinh doanh chung vốn (hình tháikinh doanh hợp tác xã của những người sản xuất hàng hóa nhỏ và hình thái công tychung vốn của các nhà tư bản), và cuối cùng là hình thái công ty cổ phần Các bướcphát triển trên cũng diễn ra một cách tuần tự về phương diện lịch sử, tuy rằng giữa cácbước chuyển tiếp của các giai đoạn không hề có một ranh giới rạch ròi nào cả Và do

sự phát triển không đều giữa các nền kinh tế cũng như giữa các lĩnh vực khác nhau củamỗi nền kinh tế, ngày nay ở bất cứ quốc gia nào cũng có một kết cấu đa sở hữu với sự

có mặt của tất cả mọi loại hình thức sở hữu nói trên Song điều đặc biệt đáng chú ý là,càng ở những nền kinh tế có trình độ phát triển cao thì vai trò của hình thái cổ phầncàng lớn Ở những nền kinh tế này, tuy số lượng những công ty cổ phần nhỏ hơn rấtnhiều so với các loại hình công ty khác, nhưng nó lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổngnguồn vốn đầu tư và quy mô kinh tế mà nó chi phối trong toàn bộ nền kinh tế

Ngay từ thế kỷ trước, Ph.Ăng-ghen (năm 1895) - trong phần bổ sung cho tập III

bộ Tư bản của C.Mác - đã đánh giá về vai trò và triển vọng của hình thái cổ phần như

sau: “Hãng cá thể thông thường ngày càng chỉ là một giai đoạn chuẩn bị nhằm đưa xínghiệp tới một trình độ đủ lớn để trên cơ sở xí nghiệp đó mà “thành lập” công ty cổphần Hơn nữa, điều đó không chỉ đúng với các ngành công nghiệp mà còn diễn ra ởkhắp mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế: thương nghiệp, ngân hàng và các cơ quan tíndụng, nông nghiệp và “hết thảy mọi khoản đầu tư tư bản ra nước ngoài đều tiến hànhdưới hình thức cổ phần”

Mức độ phổ biến của hình thái cổ phần trong điều kiện của nền kinh tế thịtrường không phải chỉ là do nó có ưu thế tuyệt đối trong việc tập trung vốn của xã hộicho những mục tiêu kinh doanh, mà còn bao hàm trong đó những điểm nổi bật sau:

- Dưới hình thức cổ phần những người đồng sở hữu công ty (những cổ đông)chỉ được hưởng lợi và chỉ phải chịu trách nhiệm có giới hạn ở khuôn khổ số tiền mà họ

đã bỏ ra để mua cổ phiếu của công ty Như vậy, một mặt về pháp lý, họ chỉ có quyềnnhân danh cá nhân mình chịu trách nhiệm về phần tài sản của mình đã góp vào công tytheo luật định Mặt khác, qua thị trường chứng khoán, sự di chuyển của các cổ phiếuvới tư cách là hàng hóa vốn đầu tư, công chúng (các cổ đông) đã “bỏ phiếu tín nhiệm”

có sự bảo đảm “bằng vàng” của mình cho những ngành, những lĩnh vực, những công

ty mà họ cho là có triển vọng nhất Đồng thời, cơ chế này còn giúp mỗi người đầu tưphân tán được nguồn vốn có hạn của mình vào nhiều lĩnh vực để tránh những rủi rokhó tránh trong kinh doanh Vậy là sự tham gia có tính chất xã hội của công chúng vàocác quan hệ sở hữu và quá trình quản lý, lựa chọn cơ cấu ngành đã trở thành những

Trang 6

gợi ý thực tiễn thiết thực đối với những nhà hoạch định chính sách kinh tế ở tầm vĩmô.

- Hình thái cổ phần đã thực hiện việc tách quyền sở hữu với quyền quản lý và

sử dụng vốn kinh doanh nên đã tận dụng được một cách tốt nhất nguồn tài nguyênkinh doanh khan hiếm của xã hội thông qua chế độ “thuê” các nhà quản trị doanhnghiệp chuyên nghiệp, do các cổ đông, tức các chủ nhân thật sự của vốn đầu tư tiếnhành lựa chọn Do vậy, tính chất vô danh hay nặc danh của hình thái cổ phần hoàntoàn khác với tính chất vô chủ ở một trong những điểm quan trọng là nó gắn với cơchế sử dụng được triệt để nguồn tài nguyên kinh doanh của xã hội thay vì để lãng phíchúng, và do đó mà đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn

- Việc đầu tư tư bản ra nước ngoài dưới hình thái cổ phần đã trực tiếp mở rộngtính chất xã hội hóa của nền sản xuất xã hội vượt ra khỏi phạm vi mỗi quốc gia, khiếncho xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế mở rộng ngay từ trong bản thân quá trìnhsản xuất

Như vậy, trong mối tương quan với các hình thức kinh tế khác trong khuôn khổcủa kinh tế thị trường, hoàn toàn có thể coi hình thái cổ phần là loại hình tổ chức đạttrình độ xã hội hóa cao nhất, thích ứng với trình độ phát triển rất cao của sức sản xuất

xã hội Về điều này, C.Mác đã từng nhận xét rằng, với việc thành lập những công ty cổphần “có những xí nghiệp trước kia là của chính phủ, nay trở thành những xí nghiệp xãhội” và các công ty cổ phần “trực tiếp mang hình thái tư bản xã hội (tư bản của những

cá nhân trực tiếp liên hiệp lại với nhau) đối lập với tư bản tư nhân; còn những xínghiệp của nó biểu hiện ra là những xí nghiệp xã hội đối lập với những xí nghiệp tưnhân” Thêm nữa, đây “là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại trở thành sở hữu củanhững người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của nhữngngười sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách của những người sản xuất liên hiệp, thành

sở hữu xã hội trực tiếp Mặt khác, các công ty cổ phần cũng là điểm quá độ để biến tất

cả những chức năng trong quá trình tái sản xuất cho đến nay còn gắn liền với quyền sởhữu tư bản, đơn thuần thành những chức năng của những người sản xuất xã hội” Điềunày có nghĩa là, theo cách tiếp cận của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủnghĩa Mác thì “chế độ cổ phần là sự thủ tiêu công nghiệp tư nhân trên cơ sở chínhngay bản thân chế độ tư bản chủ nghĩa; nó càng lan rộng ra và càng bao trùm nhữngngành sản xuất mới, thì càng thủ tiêu công nghiệp tư nhân” Nhân khi biên tập để xuất

bản bản thảo tập thứ III bộ Tư bản của C.Mác, đến vấn đề này, ngay từ năm 1894,

Ph.Ăng-ghen đã viết thêm vào: “Từ khi Mác viết những dòng này cho đến nay, người

ta đều biết rằng nhiều hình thái mới về xí nghiệp công nghiệp đã phát triển, đấy làcông ty cổ phần ở bậc 2 và bậc 3 Tốc độ mỗi ngày một lớn mà ngày nay, người ta cóthể đẩy nhanh sản xuất ở trong tất cả các ngành của nền đại công nghiệp ”

Với lô-gíc ấy, thật không khó khăn gì khi thấy rằng, trong các sách báo kinh tếhiện đại, nhiều khi người ta bắt gặp các phân tích, đánh giá về một thứ “chủ nghĩa tưbản nhân dân” như là một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế thị trường hiện đại Vìnhiều lý do, không nhất thiết phải sẻ chia với uyển ngữ này, nhưng lại không phải vìthế mà phủ nhận được một thực tế là, việc đầu tư ở quy mô quảng đại công chúng

Trang 7

thông qua thể thức của loại hình “công ty vô danh có cổ phần” là rất có ý nghĩa đối vớithu nhập và cuộc sống của bản thân những người tham gia đầu tư vào công ty này.

Tóm lại, trong khuôn khổ của cơ chế kinh tế thị trường, hình thái cổ phần mang

trong mình nó tính chất xã hội hóa sản xuất sâu sắc, là kiểu tổ chức sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển rất cao của lực lượng sản xuất và chiếm vị trí ưu thế, phổ biếntrong các nền kinh tế thị trường hiện đại Theo nghĩa này, bất kỳ kiểu tổ chức nào nhândanh sự xã hội hóa của lực lượng sản xuất, đều cần phải xem hình thái cổ phần nhưmột trong những hình thái tổ chức sản xuất quan trọng chủ yếu của chế độ kinh doanh

2 Những vấn đề của cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước

a Điều kiện cổ phần hoá

- Đối tượng cổ phần hóa Nói đến đối tượng cổ phần hóa là nói đến việc lựa chọn

doanh nghiệp nhà nước nào để thực hiện cổ phần hóa So với quy định ban đầu, chúng

ta đã bổ sung đối tượng cổ phần hóa là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các tổng công

ty nhà nước Tuy vậy cho đến nay, 77% số doanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ có quy

mô vốn dưới 10 tỉ đồng Riêng đối với loại doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nướckhông giữ tỷ lệ nào trong vốn điều lệ thì đều là doanh nghiệp nhỏ có vốn nhà nướcdưới 1 tỉ đồng và kinh doanh kém hiệu quả Loại doanh nghiệp nhỏ này chiếm gần30% số doanh nghiệp mà Nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Sự lựa chọn các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa như vậy đã làm chậm tiến độthực hiện chủ trương cổ phần hóa; các doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được rõnhững ưu thế của doanh nghiệp đã cổ phần hóa với những doanh nghiệp chưa cổ phầnhóa, chưa thực hiện được các mục tiêu cổ phần hóa đề ra

- Cơ cấu vôn điều lệ Tỷ lệ cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh nghiệp đã cổ

phần hóa như sau: nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp; dưới

50% số vốn ở 37% số doanh nghiệp và không giữ lại tỷ lệ % vốn nào ở gần 30% sốdoanh nghiệp

Xem xét cụ thể hơn có thể thấy: số vốn nhà nước đã được cổ phần hóa chỉ mớichiếm 12%, và ngay trong số vốn này, Nhà nước vẫn nắm khoảng 40%, vì thế số vốn

mà Nhà nước cổ phần hóa được bán ra ngoài mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng3,6%)

Với cơ cấu vốn nhà nước đã cổ phần hóa như trên có thể thấy bức tranh cổ phầnhóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay và hiểu rõ hơn khái niệm cổ phần “chiphối” của nhà nước

- Cơ cấu cổ đông Cổ đông trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa là cán bộ, công

nhân viên nắm 29,6% cổ phần; cổ đông là người ngoài doanh nghiệp nắm 24,1% cổphần; cổ đông là Nhà nước nắm 46,3% cổ phần

Nét đáng chú ý về cơ cấu cổ đông là các nhà đầu tư chiến lược trong nước khó muađược lượng cổ phần đủ lớn để có thể tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, cònnhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng về vốn, công nghệ, có năng lực quản lý kinhdoanh cũng chỉ được mua số lượng cổ phần hạn chế Điều này làm cho các doanhnghiệp đã cổ phần hóa rất khó hoạt động có hiệu quả, nhất là trước sức ép cạnh tranh ởcấp độ quốc tế, khi nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO)

b Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật chung của các nước

Trang 8

- Các doanh nghiệp mà Việt Nam thực hiện cổ phần hóa được hình thành trong quátrình thực hiện công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây Điều này khác với cácdoanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước phát triển: là kết quả của quá trìnhphát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mởrộng quan hệ sở hữu

- Các doanh nghiệp mà nước ta thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâu năm trong cơchế bao cấp và kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơ chế thị trường, khácvới các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là đã tồn tại và phát triển trong

cơ chế thị trường, cạnh tranh

- Các doanh nghiệp mà nước ta tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổ chức vàhoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các doanh nghiệp thựchiện cổ phần hóa ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợi nhuận tối đa của bản thân

và tuân theo quy luật thị trường

- Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa ở nước ta là các doanh nghiệp nhà nướchoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với lý

do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn

tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để

nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh

3 Thành tựu đạt được

Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên thực tế được triển khai trênnhiều bình độ, trong đó nổi lên một xu hướng được coi là chủ lưu: đổi mới, sắp xếp lạicác doanh nghiệp nhà nước Trong chương trình “đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệpnhà nước" thì ai cũng biết, cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dung được coi làchủ yếu Chương trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được khởi động từ đầunhững năm 1990 đến nay đã làm được nhiều việc; trong đó ấn tượng nhất là số lượngdoanh nghiệp nhà nước từ hơn 12 nghìn năm 1992 đã giảm xuống còn gần 2.200 (9-2006); trong đó, hơn 1.500 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355 doanhnghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, số cònlại là các nông, lâm trường quốc doanh, với tổng số vốn nhà nước gần 260 nghìn tỷđồng Một phần trong số này nằm trong 105 tập đoàn và tổng công ty (trong đó 7 tậpđoàn, 13 tổng công ty 91; 83 tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổngcông ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam)

Đóng góp vào mức giảm số lượng gần 10 nghìn doanh nghiệp nhà nước từ năm

1992 đến nay, hình thức cổ phần hóa chỉ chiếm 1/4 (3.060 doanh nghiệp), còn 6.740doanh nghiệp (3/4 số doanh nghiệp) giảm đi qua các hình thức chuyển đổi, sáp nhập vàmột phần không đáng kể bị giải thể

Theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, nhìn chungcác doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều nâng cao được hiệu quả sản xuất, kinh doanhvới các mức độ khác nhau Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về kết quảhoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên 1 năm cho thấy, vốnđiều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện bìnhquân tăng 139,76% Đặc biệt, có tới trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạtđộng kinh doanh có lãi, nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%, thu nhập bình quân củangười lao động tăng 12%, số lao động tăng bình quân 6,6%, cổ tức bình quân đạt17,11%

Trang 9

Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại phiên họpthứ 43 của ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 21-9-2006) nhận định:

"Qua hơn 15 năm triển khai, chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đãđạt được những hiệu quả về kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, tạo sự rõ ràng về quyềnlợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng thành phần sở hữu, từng cổ đông; xoá bỏ cơ chếphân phối bình quân; hình thành phương thức phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn,giảm được sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của các cấp chính quyền, các

cơ quan quản lý nhà nước; tạo cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm thúcđẩy doanh nghiệp năng động hơn; tạo cơ sở pháp lý và vật chất để người lao động xáclập và nâng cao vai trò làm chủ, gắn bó máu thịt với doanh nghiệp Kết quả nổi bật của

cổ phần hoá là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước được nâng lênđáng kể Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinh doanh, chủ động đổi mới công nghệ,tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu Cổ phần hoá cũng đã huy động thêmvốn của xã hội đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội việc làm chongười lao động Dưới góc độ phân công lao động trong xã hội, cổ phần hoá đã thật sựgiải phóng sức lao động từ chỗ đông mà không mạnh, ỷ lại, dựa dẫm, thụ động chuyểnsang chủ động, tích cực hơn trong nền kinh tế nhiều thành phần với thái độ đầy đủhơn, trách nhiệm hơn, góp phần tăng thu nhập cho xã hội, cho Nhà nước và cho ngườilao động"

Và cũng theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, sauquá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm nhưng vẫn tiếp tụcgiữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt Khu vực doanh nghiệp nhà nướcvẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách nhà nước

Đặc biệt, Quá trình cổ phần hoá 2005 có những chuyển biến rõ rệt Số lượngdoanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hoá tăng không nhiều nhưng phần đôngtrong số đó là các doanh nghiệp làm ăn khá, có quy mô vốn lớn, hấp dẫn công chúngđầu tư Trong năm qua, khá nhiều doanh nghiệp “có tên tuổi” hoặc đã lên sàn (chứngkhoán) hoặc đã bước đầu phát hành cổ phiếu: Về điện lực có Thuỷ điện Vĩnh Sơn(Sông Hinh), Điện lực Khánh Hoà Về công nghệ thực phẩm có Vinamilk, Kinh Đô Một số Công ty cổ phần cũng đã phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng qua thịtrường chứng khoán như:  Sacombank, Exibank, Bảo hiểm Dầu khí Nhiều “đại gia”khác như: Vina Phone, Mobi Fone, Thuỷ điện Thác Bà cũng đang rục rịch chuẩn bịphát hành cổ phiếu Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, sau nhiều năm thai nghén,cũng đã được khai trường Tất cả những động thái trên đã tạo nên không khí sôi độngcho thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm, chỉ số Vietnam Index được duy trì

ổn định ở mức cao, thị trường OTC có bước khởi phát

Trong một diễn biến mới nhất, cuối tháng 11 vừa qua, Ngân hàng Ngoại thươngViệt Nam - ngân hàng được đánh giá là lớn nhất Việt Nam đã tổ chức họp báo giớithiệu về đề án phát hành trái phiếu tăng vốn Đề án này đã được phê duyệt ngày16/11/2005 bằng Quyết định số 1652/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhànước Théo đó, vào trung tuần tháng 12, ngân hàng này sẽ tổ chức đấu thầu lãi suất đểphát hành 1.200 tỷ đồng trái phiếu Trái phiếu được phát hành là trái phiếu ghi sổ, chiphát hành cho tổ chức và cá nhân Việt Nam, có mệnh giá (bằng VND), có lãi suất cốđịnh với thời hạn 7 năm Người nắm giữ trái phiếu có quyền sử dụng toàn bộ giá trịtrái phiếu để mua cổ phiếu khi Ngân hàng Ngoại thương tiến hành cổ phần hoá Tráiphiếu lần này dự kiến sẽ được đưa vào giao dịch trên thị trường chứng khoán vào quý

Trang 10

I/2006 Như vậy, bằng sự kiện này, công cuộc cổ phần hoá Vietcombank đã chính thứcđược khởi động Sự kiện này chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm lớn của các nhà đầu tưtrong cũng như ngoài nước Cùng với Vietcombank, các ngân hàng thương mại lớnkhác như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng pháttriển nhà Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang ráo riết xúc tiến các công việc chuẩn

bị để tiến hành cổ phần hoá trong một tương lai gần

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, hầu hết các doanh nghiệp nhà nướcsau cổ phần hoá đều làm ăn khấm khá hơn (hơn 90% kinh doanh có lãi) Hiệu quảquản lý và năng lực kinh doanh được cải thiện rõ rệt Thu nhập và đời sống cán bộcông nhân viên từng bước được tăng lên Đó là những dấu hiệu đáng mừng

Về phía nhà nước, trong năm 2005, Chính phủ, Bộ Tài chính liên tiếp có nhữngquyết định, công văn chỉ đạo “sát sạt” nhằm thúc đẩy cổ phần hoá nhanh, mạnh hơnnữa Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản về cổ phần hoá cũng dần được bổ sung, hoànthiện Đáng đề cập nhất là các văn bản hướng dẫn về xử lý tài chính, xác định giá trịdoanh nghiệp cổ phần hoá (Nghị định 187 và Thông tư 126) Lãnh đạo một số bộ,ngành cũng đã thể hiện quyết tâm và vạch ra một lộ trình tương đối rõ ràng cho quátrình cổ phần hoá của ngành mình Có thể nhắc đến Tổng Công ty Điện lực, VNPT như những ví dụ

- Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sát thực

tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa Bình quân thời gian đểthực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày, tổng công ty mất 554 ngày.Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động như cũ; quản lý nhà nướcvẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trong các doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới30% vốn điều lệ doanh nghiệp; bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫnchiếm giữ đến 80%

Thực tiễn 15 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở nước ta cho thấy: chúng

ta còn chậm trễ trong việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế khi chuyển sang kinh tế thị

trường và trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng

Như vậy, doanh nghiệp nhà nước do chế độ công hữu hóa xã hội chủ nghĩatrước đây để lại đang là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường.Những vấn đề này đang trở thành một thách thức đối với công tác lý luận, đổi mới tưduy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân

Sau hơn 10 năm, chúng ta mới cổ phần hoá được khoảng 10% vốn nhà nước tạicác doanh nghiệp nhà nước Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoátrong thời gian qua là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong số gần 3.000 doanh nghiệp

đã được cổ phần hoá chỉ có khoảng 30% là có quy mô vốn trên 5 tỷ đồng Như vậy rõràng là tình trạng độc quyền của nhà nước trong quản trị doanh nghiệp về cơ bản vẫnchưa được xoá bỏ Đây là nguyên nhân chính tiếp tục kìm hãm sức phát triển của nềnkinh tế, làm giảm hiệu quả đầu tư như chúng ta đã nhiều lần đề cập

Trang 11

Tiến trình cổ phần hoá ở hầu hết các lĩnh vực then chốt, những Tổng Công ty

“đỉnh” vẫn khá ì ạch Cổ phần hoá Vietcombank - ngân hàng thương mại lớn nhất,mạnh nhất Việt Nam luôn được nhắc đến như một “bước đột phá” nhưng tiếc thay vẫnchưa bước ra khỏi giai đoạn chuẩn bị Kế hoạch cổ phần hoá của nhiều Công ty, TổngCông ty lớn cũng đang trong tình trạng tương tự, nghĩa là liên tiếp bị trì hoãn từ nămnày qua năm khác với nhiều lý do khác nhau Bên cạnh đó, nếu chịu khó quan sát mộtchút sẽ thấy cổ phần hoá các Công ty “màu mỡ” hầu như vẫn là cuộc “độc diễn” củacác đại gia, chưa có “đất” cho các nhà đầu tư đại chúng Hay nói cách khác đi là cótình trạng cổ phần hoá “khép kín” ở một số đơn vị mà báo giới đã không ít lần phảnảnh như nhan đề của một bài viết đăng trên website của Đảng (ngày 21-9-2006) Bảnbáo cáo nêu rõ: những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001, số lượng doanh nghiệp nhànước được cổ phần hóa tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việc triển khai còn chậm Sốdoanh nghiệp được cố phần hóa tăng nhiều, nhưng số vốn mới chiếm 12% tổng số vốntrong các doanh nghiệp nhà nước; nếu trừ đi phần vốn nhà nước còn giữ lại gần 50%trong các doanh nghiệp cố phần hóa, thì thực chất tỷ lệ trên chỉ chiếm khoảng 6% Sovới mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX thì còn chậm, nhất là các doanhnghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng Tiến độ

cổ phần hóa không đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương; một số bộ, ngành chưahoàn thành theo đề án đã được phê duyệt

Như vậy, tuy số lượng doanh nghiệp có thể nhiều, nhưng xét về chỉ tiêu vốn đãđược cổ phần hóa thì coi như không đáng kể, thậm chí chưa xứng với một chươngtrình lớn ở tầm quốc gia, bởi vì cổ phần hóa dường như ít ảnh hưởng tới nguyên tắc thịtrường của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn bộ cơ chế vận hành của nềnkinh tế nói chung Điều này cũng có nghĩa là, mục tiêu chính của sắp xếp lại các doanhnghiệp nhà nước là góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế,làm cho nguyên tắc thị trường thay thế nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung, vẫn chưađạt được như mong đợi

Thứ hai, bộc lộ một số “vấn đề” ở một số doanh nghiệp hậu cổ phần hoá

Một số doanh nghiệp sau cổ phần hoá vẫn nằm trong tình trạng “bình thì mớinhưng rượu vẫn cũ”, nghĩa là ít có sự thay đổi về cơ cấu và cơ chế quản lý, năng lựcđiều hành đó là : “Sau khi cổ phần hóa, khoảng 81,5% giám đốc, 78% chức danhphó giám đốc và kế toán trưởng không có sự thay đổi Điều này cho thấy trên thực tế

là nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn hoạt động như trước cả về tổ chức, tư duy,công nghệ, quản lý và triết lý kinh doanh vẫn mang dáng dấp của doanh nghiệp nhànước Nếu có thay đổi chỉ là giám đốc doanh nghiệp nhà nước cũ trở thành lãnh đạomới của công ty cổ phần, chưa có doanh nghiệp nào sử dụng cơ chế thuê giám đốcđiều hành”và tất nhiên là hiệu quả kinh doanh cũng không được cải thiện Vẫn có tớigần 10% doanh nghiệp hậu cổ phần hoá tiếp tục nằm trong tình trạng thua lỗ Khá hàihước nhưng không ngạc nhiên khi có Công ty cổ phần quyết định chia cổ tức bằngchè, bằng nông sản

Một phần do nhận thức của các cổ đông nhỏ lẻ (cá nhân, cán bộ công nhânviên ) chưa cao nên có tình trạng là họ hầu như không có thực quyền nào trong việckiểm soát phần vốn của mình cũng như thực thi đầy đủ các quyền cơ bản của cổ đông

Do vậy, ở không ít Công ty cổ phần, thực quyền chi phối doanh nghiệp nằm trong taymột số ít người có trách nhiệm và nắm được thông tin Vì thế, hiện tượng lạm dụngquyền lực vì lợi ích cá nhân là không thể tránh khỏi Nhiều Công ty cổ phần nhiều năm

Trang 12

không tiến hành đại hội cổ đông, không công khai báo cáo tài chính Bi quan hơn, cómột số doanh nghiệp nhà nước loại “vừa vừa” sau khi được cổ phần hoá đang có nguy

cơ bị “tư hữu hoá”

Mặt khác, tại nhiều doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chiphối những vẫn giữ tới hơn 51% số cổ phần Vì vậy, sau khi cổ phần hoá, nhà nướcvẫn nắm giữ quyền quản lý doanh nghiệp và những “vết xe cũ” tiếp tục được lặp lại

Cổ phần hoá chỉ có ý nghĩa thay đổi một phần sở hữu vốn mà chưa tạo ra sự biến đổi

về chất trong quản trị, điều hành Việc khống chế vốn cổ phần của cổ đông là nhà đầu

tư nước ngoài trong các Công ty nhà nước được cổ phần hoá cũng là một hạn chế

Thứ ba, Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở nước ta, trên thực tế,vẫn dựatrên quy mô cũ

Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức quản lý sau khi

doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề Việc giải quyết vấn đề tài chính

trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn nhiều bất cập như:

Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất thoát và

lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa Việc xác định giá trịdoanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau Trong giai đoạn chưa có Nghị định187: việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hội đồng hoặc doanh nghiệp tự đảmnhận Điều đó dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp, do đó,phần lớn cổ phần rơi vào tay một nhóm người Trong giai đoạn sau khi có Nghị định187: sự thất thoát tài sản nhà nước đã được hạn chế, nhưng lại nảy sinh tình trạng liênkết, gian lận trong đấu thầu

Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gây nhiều khó khăn Tính đến ngày

31-12-2005, dư nợ cho vay đối với các công ty cổ phần vào khoảng 51.603 tỉ đồng Đặc biệt,việc xử lý nợ xấu đã mất rất nhiều thời gian do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộgiữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính

Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm

định giá trị có độ tin cậy thấp Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn

và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ, chưa gắn trách nhiệm của tổchức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần

Thứ tư, một thị trường chứng khoán chưa hoàn hảo

Chuyện rò rỉ thông tin từ chính các nhân vật có trách nhiệm của các Công ty sắpniêm yết đang trở thành một vấn nạn nhức nhối Hiện tượng “làm giá” đối với cácchứng khoán đang và sắp niêm yết cũng là một vấn đề Có bình thường không khi giácủa những Công ty sắp niêm yết trên thị trường OTC cao gấp 4-5 lần so với mệnhgiá ? Bên cạnh những yếu tố “ngầm” có lẽ còn do “hiệu ứng tâm lý” của các nhà đầu

tư nữa Nếu không có những liệu pháp thích hợp sẽ dễ dẫn tới hiện tượng “bong bóng

xà phòng” mà nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới (và ngày cả thị trường chứngkhoán Việt Nam nữa) đã từng mắc phải

Có một thực tế khác đang được mặc nhiên thừa nhận là hiện tượng các nhânviên của Công ty chứng khoán sử dụng thông tin của thị trường, của khách hàng đểkinh doanh cho chính mình thay vì cho Công ty Thực trạng đó đòi hỏi phải gióng lênmột hồi chuông về quy chuẩn đạo đức cho thị trường chứng khoán Việt Nam cũng nhưphải tiếp tục hoàn thiện các chế tài quản lý

Ngày đăng: 28/07/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w