Kết luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay... Khái luận chung về toàn cầu hoá Toàn cầu hoá là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong
Trang 1BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
“Toàn cầu hoá và vấn đề hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam”
1
Trang 2MỤC LỤC
I Toàn cầu hoá 3
1 Khái luận chung về toàn cầu hoá 3
2 Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế và quá trình phát triển của nó.3 a Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế 3
b Quá trình diễn ra toàn cầu hoá kinh tế 4
3 Những mặt tích cực tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế 5
a Tích cực 5
b Tiêu cực hay là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá kinh tế 7
4 Kết luận chung về toàn cầu hoá 8
II Hội nhập kinh tế quốc tế 9
a Đối với bên ngoài 11
b Đối với trong nước 12
a Thành tựu 12
b Hạn chế 14
Trang 3A Lời mở đầu
Trong xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, hộinhập vào nền kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế khách quan với hầuhết tất cả các quốc gia trên thế giới Việt Nam cũng đang từng bước tham giahội nhập cùng với nền kinh tế quốc tế mà mở đầu rõ nhất bằng sự kiệnchúng ta đã gia nhập vào WTO tháng 11/2007 Đây cũng là thời cơ nhưngcũng là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoáhiện nay Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, em xin mạnh dạn chọn đề tài:
“Toàn cầu hoá và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” để monggóp một phần nhỏ vào những cố gắng chung trong việc xây dựng hệ thống lýluận kinh tế Việt Nam trong thời đại ngày nay
3
Trang 4B Nội dung
I Toàn cầu hoá
1 Khái luận chung về toàn cầu hoá
2 Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế vàquá trình phát triển của nó
3 Những mặt tích cực và tiêu cực của quá trình toàn cầuhoá kinh tế
a Tích cực
b Tiêu cực hay là mặt trái của toàn cầu hoá
4 Kết luận chung về toàn cầu hoá
II Hội nhập kinh tế quốc tế
1 Khái luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế
2 Tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ởViệt Nam
3 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ đổimới đến nay
4 Thành tựu và hạn chế
5 Giải pháp đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
ở Việt Nam
C Kết luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay
Trang 6I Toàn cầu hoá
1 Khái luận chung về toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội vàtrong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càngtăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá kinh
tế v.v trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoáhầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự dohoá thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế,người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo cácdòng chảy thương mại kĩ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá
2 Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế và quá trình phát triển của nó
a Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế
Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất; quá trình chuyên môn hóa,
hợp tác hóa sản xuất và phân công lao động đã vượt khỏi tầm tay của từngnước
Hai là, sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, nhất là sự
phát triển nhảy vọt về thông tin liên lạc, giao thông, đặc biệt là sự ra đờicủa công nghệ thông tin
Ba là, nhu cầu mở mang thị trường, xuất khẩu tư bản, sự di cư ồ ạt về
lao động
Bốn là, sự hòa hợp và tham gia rộng rãi vào các hoạt động quốc tế của
các quốc gia, đặc biệt là các nước thứ ba
Năm là, sự phát triển và phổ cập của kinh tế thị trường và cơ chế thị
trường
Trang 7Sáu là, Sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức quốc
tế về thương mại và tài chính, sự hình thành các hệ thống tài chính, ngânhàng quốc tế, tạo ra khối lượng giao dịch tiền tệ, hàng hóa khổng lồ
b Quá trình diễn ra toàn cầu hoá kinh tế
Toàn cầu hóa kinh tế nảy sinh rất sớm và dần dần phát triển, để rồi tạo
ra những bước phát triển nhảy vọt như hôm nay Ngay từ đầu thế kỷ XVI XVII – XVIII với sự giao thương giữa các quốc gia, đã hình thành dần cácnhân tố quốc tế hóa kinh tế Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã khẳngđịnh: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới Thay cho tình trạng
-cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấyphát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dântộc”
Toàn cầu hóa kinh tế khởi nguồn từ trao đổi thương mại, dần dần pháttriển sang nhiều lĩnh vực khác như sản xuất, dịch vụ, đầu tư, môi trường,
xã hội Nó thu hút tất cả các nền kinh tế của các quốc gia, không phân biệtgiàu, nghèo, phát triển hay chưa phát triển, quốc gia lớn và cả quốc gia bé,các nước có chế độ chính trị khác nhau
Toàn cầu hóa kinh tế làm cho các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc giagắn bó với nhau, phụ thuộc vào nhau, tác động lẫn nhau Thông qua toàncầu hóa mà nền kinh tế các nước tạo ra những lợi thế mới để thúc đẩy lựclượng sản xuất, kỹ thuật công nghệ phát triển từ đó làm cho nền kinh tếcủa từng nước có thể vượt qua các thế yếu của mình mà tạo ra lợi thế mới
và thế mạnh mới Nhưng ngược lại toàn cầu hóa cũng có thể làm cho nềnkinh tế của từng nước, từ chỗ có lợi thế so sánh, từ chỗ có thế mạnh lại trởthành nền kinh tế yếu kém, không có lợi thế, nếu bỏ lỡ thời cơ
7
Trang 8Toàn cầu hóa kinh tế cũng dẫn đến xu thế khu vực hóa kinh tế Khu vựchóa kinh tế thực chất là sự tập hợp lực lượng của các nền kinh tế khu vực
để hỗ trợ nhau tạo ra sức mạnh của từng khu vực kinh tế thích ứng với toàncầu hóa kinh tế Hiện tượng này chính là sự thể hiện sinh động, đa dạng màthống nhất của toàn cầu hóa Chúng ta có thể kể ra đây rất nhiều khu vựckinh tế như : ASEAN, Đại Tây Dương, EU, Bắc Phi, APEC, FTAA, Ấn
Độ Dương
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế được thể chế hóa thành nhiều văn bản mangtính quốc tế như các công ước, hiệp định quốc tế và được tổ chức thànhcác tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính - tiền tệ Đây là một quá trìnhđấu tranh gay gắt kéo dài của các nền kinh tế của các quốc gia, giữa nướcnghèo và nước giàu nhằm vừa bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia mình vừahòa thuận để cùng phát triển, cạnh tranh và sinh tồn
3 Những mặt tích cực tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế
a Tích cực
Một là, toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy tự do hoá mậu dịch phát triển Nhìn
lại tình hình buôn bán của các nước trên thế giới hiện nay, hầu như khôngcòn tồn tại tình trạng thị trường đơn nhất ngay cả ở cường quốc kinh tế pháttriển Giờ đây, hầu như thị trường nội địa của các nước đều gắn với thịtrường thế giới, là bộ phận của thị trường thế giới Sự phụ thuộc lẫn nhaugiữa các nước cũng như ngành ngoại thương đóng vai trò rất lớn đối vớităng trưởng tổng sản lượng quốc nội (GDP) Năm 2004, mức độ phụ thuộccủa GDP Mỹ vào ngành ngoại thương tới 25,9%, năm 2005, mức độ phụthuộc của GDP Trung Quốc với ngành ngoại thương và buôn bán đối ngoạitới 61% Do tính phụ thuộc vào ngành ngoại thương ngày càng cao, nên mức
độ tự do hoá mậu dịch của các nước trong khu vực Đông Nam Á cao hơn
Trang 9của các nước ở Mỹ Latinh Bởi vì, tới nay sự phát triển kinh tế của các nước
Mỹ Latinh chủ yếu dựa vào nội thu, trong khi nhân tố nhu cầu nước ngoàithấp hơn nhiều so với các nước Đông Á
Hai là, toàn cầu hoá kinh tế đã đẩy mạnh tiến trình quốc tế hoá lưu
chuyển vốn, có lợi cho tự do hoá đầu tư Từ năm 2001 tới 2003, mặc dù đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm sút rất lớn, nhưng bắt đầu từ năm 2004
đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại Theo “Báo cáo đầu tư năm 2005” do Hộinghị phát triển mậu dịch Liên hợp quốc công bố, tổng số FDI trên toàn thếgiới đã lên tới 648 tỷ USD, tăng 2% so với năm 2003 Điều này cho thấy xuthế đầu tư quốc tế giảm sút từ năm 2001 tới 2003 đã được ngăn chặn và bắtđầu gia tăng trở lại trên thế giới
Năm 2004, các nước Phương Tây đã tiếp nhận FDI trị giá khoảng 380
tỷ USD, giảm 14% so với năm 2003 Trong khi đó, FDI ở các nước đangphát triển tăng 40%, với tổng giá trị 233 tỷ USD Rõ ràng nếu không có toàncầu hoá kinh tế thì không thể quốc tế hoá vốn và di chuyển dễ dàng từ nướcnày qua nước khác
Toàn cầu hoá kinh tế chẳng những thúc đẩy FDI tăng lên mà ở mức
độ lớn đã thúc đầy tự do hoá đầu tư Mấy năm qua, do môi trường đầu tưđược cải thiện, xu thế lưu thông tự do đầu tư đã tăng lên rõ rệt “Báo cáo củaHội nghị mậu dịch Liên Hợp quốc” năm 2004 cho biết hai nước có FDI đổvào nhiều nhất là Mỹ và Anh, trong đó Mỹ tiếp nhận tới 96 tỷ USD và nướcAnh tới 78 tỷ USD Mặc dù các nước đang phát triển đã ra sức mở cửa thịtrường vốn của mình và đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với đầu tư nướcngoài, nhưng do cơ chế và thị trường còn nhiều khâu yếu kém, nên trình độ
tự do hoá tiền vốn của các nước đang phát triển kém hơn nhiều so với cácnước phát triển Đây chính là vấn đề mà các nước đang phát triển cần nghiên
9
Trang 10cứu và hoàn thiện để tận dụng được cơ hội tốt của toàn cầu hoá.
Ba là, toàn cầu hoá kinh tế đã “bật đèn xanh” cho tự do hoá lưu chuyển
tiền tệ Trong điều kiện ngày nay, mọi tổ chức ngân hàng, tài chính, tiền tệ
và thị trường chứng khoán của các nước đều phải phát triển theo xu thế toàncầu hoá Nếu ra đời xu thế này, thì không thể nói tới tự do hoá lưu chuyểntiền vốn
Ba thị trường chứng khoán nổi tiếng là New York, London và Tokyogiờ đây đã len lỏi tới khắp nơi trên thế giới đề thu hút tiền vốn Thông quaviệc không ngừng điều chỉnh tỷ giá hối đoái, những đồng tiền như USD,Euro và đồng Franc của Thuỵ Sĩ đều trở thành đồng tiền dự trữ và có thể tự
do lưu hành ở các nước Tóm lại, tiền tệ được tự do lưu hành như hiện nay
rõ ràng do tác động mạnh mẽ của tiến trình toàn cầu hoá
Bốn là, toàn cầu hoá đã thúc đẩy phát triển sản xuất xuyên quốc gia Mấy
năm qua, đặc điểm nổi bật nhất của sản xuất xuyên quốc gia là sản xuất củacác công ty xuyên quốc gia mở rộng mạnh mẽ ra các nước Đầu năm 1994,Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ vừa mới khởi động, các công ty xuyênquốc gia của Mỹ đã nhân cơ hội này thành lập một loạt công ty con ngay gầnbiên giới Mehico Những công ty này đã lợi dụng nguyên vật liệu, tài lực,vật lực của địa phương sản xuất hàng hoá giá rẻ đưa về thị trường nội địa
Mỹ Mấy năm qua, hầu hết các công ty xuyên quốc gia lớn của Mỹ và cácnước trên thế giới đều tới Trung Quốc lập văn phòng hoặc trụ sở công ty đểtiến hành sản xuất kinh doanh ngay tại Trung Quốc
b Tiêu cực hay là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá kinh tế
Một là, toàn cầu hóa kinh tế làm nảy sinh nhiều vấn đề cho xã hội con
Trang 11người Bên cạnh những mặt tốt, mặt tích cực, nó gây ra không biết bao nhiêuđiều tiêu cực, gây ra những hậu quả khôn lường cho từng quốc gia, dân tộc,thậm chí cho cả một khu vực.
11
Trang 12Hai là, toàn cầu hoá kinh tế sẽ tác động làm gia tăng thất nghiệp, sẽ dẫn
tới phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ở từng nước, và phân hóagiàu nghèo giữa các quốc gia
Ba là, toàn cầu hóa cũng là cơ hội, điều kiện để cho những nước giàu,
những tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia khống chế kinh tế các nước kémphát triển
Bốn là, toàn cầu hóa kinh tế cũng là cơ sở để nảy sinh các cuộc cạnh
tranh gay gắt các lĩnh vực kinh tế như “chiến tranh thương mại”, “chiếntranh tiền tệ” “chiến tranh thị trường” giữa các nước, từ đó gây nên sựbiến động kinh tế khu vực và thế giới Trong các cuộc cạnh tranh gay gắt
đó nước thua thiệt nhất vẫn là các nước kém phát triển
Năm là, toàn cầu hóa kinh tế còn dẫn đến nguy cơ phá vỡ các nền văn
hóa truyền thống của các dân tộc, nhất là các truyền thống văn hóa nhânvăn và nhạy cảm như: lối sống, đạo đức, nghệ thuật Bởi lẽ toàn cầu hóakinh tế là cơ sở, là điều kiện làm cho các dòng thác văn hóa, lối sống giữacác nước tràn ngập vào nhau một cách ồ ạt, bất khả kháng, nước chủ nhà
dù có muốn chặn lại cũng không thể chặn nổi
4 Kết luận chung về toàn cầu hoá
Nhận rõ mặt tích cực và mặt hạn chế của toàn cầu hóa kinh tế, tất cả cácquốc gia đều phải biết chủ động để bơi theo dòng chảy, nếu không sẽ bịvùi lấp và nhấn chìm Hiện nay các nước chậm phát triển đã và đang tậphợp để đấu tranh chống o ép, chống lại sự đè nén của các nước lớn, cốgắng bằng mọi cách giành lấy từng phần quyền lợi cho dân tộc, đất nướcmình Từ đó cho thấy sự đoàn kết đấu tranh quốc tế của những ngườinghèo, của các quốc gia nghèo trên thế giới cũng như từng khu vực hơn lúcnào hết, giờ đây được đặt ra một cách khẩn thiết
Trang 13Trình độ vận dụng, mức độ khai thác mặt tích cực của toàn cầu hóakinh tế, khả năng hạn chế mặt tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế ở từngnước rất khác nhau Tất cả đều phụ thuộc vào chính chủ quan của mỗinước, đó là bản lĩnh vững vàng của mỗi dân tộc Vai trò và khả năng củaĐảng cầm quyền và sự quản lý của nhà nước ở mỗi quốc gia Ở đây nổitrội lên là sự chủ động, sáng tạo trong đường lối, chính sách phát triển,chiến lược và chiến thuật dẫn dắt nền kinh tế của từng quốc gia.
II Hội nhập kinh tế quốc tế
1 Khái luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là tiến trình mà chủ thể là các quốc gia, cácdoanh nghiệp tham gia vào một môi trường kinh doanh mang tính chất toàncầu, khu vực với các quy luật chung và có yếu tố cạnh tranh
13
Trang 14Hội nhập kinh tế của các nền kinh tế chuyển đổi (trong đó có Việt Nam)
là quá trình thực hiện tự do hoá thương mại và thực hiện cải cách toàn diệntheo hướng mở cửa thị trường Từ đó đem lại nhiều cơ hội kinh tế như hànghoá xuất khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn, thu hút được nhiều vốn đầu
tư nước ngoài hơn và nhiều lợi ích gián tiếp khác đi liền với cạnh tranh quốc
tế gay gắt và tăng dần hiệu quả theo quy mô
2 Tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Trong khoảng hai thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế thếgiới có bước phát triển vượt bậc, với đặc điểm cơ bản là: Tốc độ tăng trưởngnhanh và khá ổn định; lạm phát được kiềm chế, tỷ lệ thất nghiệp giảm.Nhưng từ giữa những năm 70 đến đầu thập kỷ 80 (thế kỉ XX) “thế giới đangtrải qua một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sửcủa mình”
Từ thập kỷ 80, toàn cầu hoá là hiện tưởng nổi bật và là xu thế kháchquan của nền kinh tế thế giới Mỗi nước trong quá trình phát triển không thểtách rời sự tác động của thị trường khu vực và thế giới Liên kết kinh tế vàhội nhập trở thành một xu thế tất yếu của thời đại
Thực trạng nền kinh tế Việt Nam trước 86 là một nền kinh tế kém pháttriển Đặc biệt trong những năm 1976-1980, kinh tế tăng trưởng chậm chạp,thậm chí có năm giảm sút.Giai đoạn 1981-1985, nền kinh tế tăng trưởngnhanh hơn, nhưng tình hình kinh tế bất ổn do lạm phát nghiêm trọng Vì vậyđặt ra cho Việt Nam phải hội nhập kinh tế quốc tế để tranh thủ vốn côngnghệ để có thể đi tắt đón đầu vươn lên trở thành 1 nền kinh tế mạnh của khuvực
Trang 15Ngay khi bước vào công cuộc đổi mới, Đại hội VI của Đảng đã nhậnđịnh: “Trên thế giới đang hình thành một thị trường” (khác với trước đó tathường nhấn mạnh trên thế giới có hai thị trường vận hành theo các quy luậtriêng) Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội VII có đánh giárằng, “nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tếhóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống cácdân tộc” Đại hội IX lần đầu tiên đề cập khái niệm “toàn cầu hóa kinh tế”,coi đó là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia…
và Đại hội X khẳng định lại “Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triểnnhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thứclớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển." Là một bộ phận cấuthành của thế giới, nước ta không thể không tính đến và đứng ngoài xu thếđó
Trên thực tế nền kinh tế nước ta gắn kết khá chặt chẽ với kinh tế thếgiới cả ở “đầu vào” lẫn “đầu ra” Để duy trì tốc độ tăng trưởng tương đốicao, nước ta cần số vốn đầu tư không nhỏ song vốn trong nước lại có hạnnên riêng trong 5 năm qua đã phải huy động khoảng 30% nhu cầu vốn từbên ngoài (cả FDI lẫn ODA) và nhập khẩu một lượng đáng kể máy móc,thiết bị, nguyên nhiên vật liệu Do thu nhập của các tầng lớp dân cư còn thấp
và cần có ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất, nhiều hàng hóalàm ra phải tiêu thụ tại thị trường bên ngoài, do đó kim ngạch xuất khẩu củanước ta chiếm tới trên 60% giá trị GDP (nếu tính cả giá trị xuất nhập khẩuthì chúng chiếm trên 130% GDP, so với Trung Quốc tỷ lệ đó chỉ khoảng57%)
15