Năm 2006 đối với Việt Nam là năm hội tụ nhiều sự kiện lịch sửđánhdấu những điểm mốc quan trọng về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế , lànăm chúng ta phải hoàn thành việc cắt giảm thuế
Trang 25 Những quan điểm chỉđạo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tếở nước
ta
Trang 3
Năm 2006 đối với Việt Nam là năm hội tụ nhiều sự kiện lịch sửđánhdấu những điểm mốc quan trọng về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế , lànăm chúng ta phải hoàn thành việc cắt giảm thuế quan để thực hiện khu vứcmậu dịch của ASEAN , năm đăng cai diễn đàn tổ chức APEC 14 với tiêu đèhướng tới một cộng đồng năng động với sự phát triển và thịnh vượng Nămnước ta được gia nhập vào tổ chúc thương mại thế giới ,hoàn thành một sốcam kết trong hiệp định thương mại song phương Viêt Nam – Hoa Kỳ,thúcđẩy mạnh mẽ các hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN vói các đối tácTrung Quốc,Nhật Bản,Hàn Quốc,ấn độ,úc và New_Zealand,đặc biệt hiệp địnhCA-FTA
Từ nhũng năm đầu của thập kỷ 90, Việt Nam đã nhận thức và chủđộngtựđổi mới nền kinh tế và bắt đầu chuyển hướng tư duy sang hội nhập kinh tếkhu vực và quốc tế Hành động đầu tiên đó là Việt Nam ký hiệp định với liênminh châu âu (EU) vào năm 1992.Điểm mốc hội nhập khu vực cóý nghĩa lớn
đó là tham gia vào hiệp hội các quốc gia Đông nam á và thực hiện khu vựcmậu dịch tự do AFTA của khu vực năm 1996.Tiếp đến trở thành viên của khốihợp tác kinh tế Châu á-Thái bình dương APEC năm 1998.Đến năm 2000 ViệtNam đã ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ Với việc gia nhậpPECC (01/1995), ASEAN (07/1995), ký kết hiệp định chung về hợp tác kinh
tế với EU (7/1995), tham gia APEC (11/1998), vàđang chuẩn bị tích cực chocác cuộc đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việt Namtừng bước vững chắc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trịđã ra Nghị Quyết về hội nhập kinh tế quốc tếnhằm cụ thể hoá một chủ trương lớn được nêu ra tại Đại hội lần thứ IX của
Trang 4Đảng là: “Chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần pháthuy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủvàđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc vănhoá dân tộc, bảo vệ môi trường”.
Trong 5 năm lại đây ASEAN trong đó có Việt Nam đã thúc đẩy đàmphán ký kết các hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện với năm đối táclớn là Nhật Bản,Trung Quốc,Hàn Quốc,úc,ấn Độ Việt Nam cũng đã làm đơnxin gia nhập WTO từ năm 1995, vàđã trải qua nhiều phương đàm phán songphương với các đối tác thương mại vàđàm phán đa phương , làm việc với đoàncông tác về Việt Nam gia nhập WTO.Đến ngày 7/11/2206 đánh dấu mốc lịch
sử là Việt Nam đã chính thúc gia nhập WTO
Trước bối cảnh toàn cầu như vậy, công cuộc phát triển kinh tế của nước
ta không thểđứng ngoài xu thế toàn cầu hoá Nhận thấy được tình hình kinh tếcủa đất nước đang gặp khó khăn, tháng 12/1986 Đảng và Nhà nước quyết địnhchuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong chiến lược phát triển kinh tế, vấn đềhội nhập nền kinh tế thế giới, tăng cường hợp tác kinh tế các nước và các tổchức quốc tếđang là vấn đềđược quan tâm Với phương châm “đa dạng hoá,
đa phương hoá quan hệ” và “là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thếgiới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Việt Nam đã thiết lập quan
hệ ngoại giao với hơn 160 nước và hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vựcquan trọng Những vấn đề nêu trên là những vấn đề mà em rất tâm huyết, rất
quan tâm vàđó cũng là lí do, là sự thôi thúc em chọn đề tài: “Mâu thuẩn biện chứng với việc tìm hiểu những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO”.
Trang 5Và em hi vọng đề tài này sẽ giải đáp được phần nào thắc mắc về vấn đềhội nhập và toàn cầu hoáở nước ta hiện nay
Trang 6sở của các mối liên hệđó
Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù cóđa dạng, phong phú, cókhác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của mộtthế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó,chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác độngqua lại, chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơsởđó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, mối liên hệ là phạm trùtriết học dùng để chỉ sự quy định, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật,hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thếgiới Do đó mọi mối liên hệđều mang tính khách quan, là vốn có của mọi sựvật, hiện tượng
Mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan, mà còn mang tính phổbiến Bởi lẽ, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượngkhác Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Trong thời đạingày nay không một quốc gia nào không có quan hệ, không có liên hệ với cácquốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì thế mà hiện nay trênthế giới đã vàđang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt củađời sống xã hội Nhiều vấn đềđã vàđang trở thành vấn đề toàn cầu như : đóinghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh thái, dân số và kế hoạch hoá giađình, chiến tranh và hoà bình…Ngoài ra, mối liên hệđược biểu hiện dưới
Trang 7những hình thức riêng biệt, cụ thể theo điều kiện nhất định Song, dù dưới hìnhthức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chungnhất.
Mặt khác, mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sựtác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữacác mặt của sự vật hiện tượng, mà sự vật hiện tượng luôn tồn tại và vận độngkhông ngừng theo nhiều cách thức khác nhau Do đó mà mối liên hệ còn mangtính đa dạng Và trong mỗi sự vật hiện tượng có thể bao gồm rất nhiều loạimối liên hệ, chứ không phải chỉ có một cặp mối liên hệ xác định
2 Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan của các nước trong giai đoạn hiện nay
“Toàn cầu hoá” là một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại,
mà trước hết là tiến trình hội nhập kinh tế quốc tếđang diễn ra sôi động Cáchđây hơn 150 năm, Các Mác đã dự báo xu hướng này và ngày nay đã trở thànhhiện thực Theo ông, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế mới của quá trình pháttriển kinh tế thị trường, phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sảnxuất xã hội màởđó, phân công lao động quốc tế và quốc tế hoá sản xuất trởthành phổ biến
Trong lịch sử, trước khi phương thức sản xuất TBCN ra đời, do trình độlực lượng sản xuất thấp kém, giao thông chưa phát triển, việc sản xuất và traođổi hàng hoá còn bị giới hạn trong các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, năng suấtthấp nên chưa có thị trường thế giới theo nghĩa hiện đại Từ khi phương thứcsản xuất TBCN ra đời, đặc biệt là từ khi diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp,đời sống kinh tế các nước có sự thay đổi căn bản Tình trạng tự cấp, tự túc và
bế quan toả cảng của các địa phương, các dân tộc trước kia được thay thế bằng
sự sản xuất và tiêu dùng mang tính quốc tế Tuy nhiên, cho đến trước Thếchiến thứ 2, hình thức quốc tế hóa chủ yếu vẫn là phân công áp đặt trực tiếp,
Trang 8tức là các nước phát triển áp dụng chiến tranh xâm lược và bạo lực để thốngtrị các nước lạc hậu, bóc lột, vơ vét tài nguyên và tiêu thụ hàng hoá Trong đó,mỗi nước đế quốc có một hệ thống thuộc địa riêng, phân công lao động vàquốc tế hoá còn mang tính chất cát cứ, làm cho các nước lạc hậu không thoátkhỏi tình trạng khó khăn trì trệ.
Như vậy, toàn cầu hóa kinh tế là kết quả tất yếu của quá trình xã hội hoásản xuất, của tốc độ phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, bắt nguồn từ sựthúc đẩy của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nó là kết quả tất yếucủa sự phát triển sâu rộng nền kinh tế thị trường trên phạm vi toàn thế giới, sựgia tăng phân công lao động quốc tế, sự mở rộng hơn nữa trong không gian vàthời gian các mối quan hệ giao lưu phổ biến của loài người và sự hiện diệnnóng bỏng của những vấn đề toàn cầu cấp bách Nói cách khác, nó là kết quảcủa các quá trình tích luỹ về số lượng đã tạo ra một khối lượng tới hạn để sốlượng biến thành chất mới; xu hướng quốc tế hóa, khu vực hoáđã chuyển thành
xu hướng toàn cầu hoá trong thời đại ngày nay Nó là một trong những xu thếlịch sử tất yếu do quy luật phát triển của lực lượng sản xuất chi phối
Và trong đóđặc trưng nổi bật của toàn cầu hoá kinh tế là nền kinh tế thếgiới tồn tại và phát triển như một chỉnh thế, trong đó mỗi quốc gia là một bộphận, có quan hệ tương tác lẫn nhau, phát triển với nhiều hình thức phongphú Tham gia toàn cầu hoá kinh tế, các quốc gia vẫn hoàn toàn độc lập vềchính trị, xã hội, vẫn là các chủ thế tự quyết định ý thức hệ, vận mệnh và conđường phát triển của mình Toàn cầu hoá kinh tế làm cho các quốc gia ngàycàng phụ thuộc vào nhau về vốn, kỹ thuật, công nghệ, nguyên liệu và thịtrường Đến nay toàn cầu hoá kinh tếđã cuốn hút nhiều quốc gia ở khắp cácchâu lục, đã có 27 tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu ra đời và hoạt động[ Thẩm Kỳ Như – Trung Quốc không làm bất tiên sinh…Viện TTKH, Họcviện CTQG HCM, H1999, tr358-359 ] Đây là sự phát triển mới chưa từng có
Trang 9Lịch sửđã chứng tỏ không một quốc gia nào, dù lớn và giàu đến đâu, cũngkhông thể sản xuất được tất cả các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế Chúng takhông quên 100 năm về trước Trung Quốc đóng cửa nền kinh tếđể rồi phảichịu sự thụt lùi về mọi mặt Thành tựu cóđược như ngày nay là nhờ vào mởcửa kinh tế.Như vậy rõ ràng xu thế này là xu thế phát triển tất yếu của thời đạikhông thể khác được Chỉ có những quốc gia nào nắm bắt nhịp xu thế này, biếttận dụng cơ hội, vượt qua thách thức mới đứng vững và phát triển Cự tuyệthay khước từ toàn cầu hoá kinh tế tức là tự gạt mình ra ngoài lề của sự pháttriển.
II. CHƯƠNG II: CƠSỞTHỰCTẾ :
1 Tình hình quốc tế và khu vực làm nảy sinh và phát triển quá trình hội
nhập.
Đại hội VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ “mở rộng quan hệ kinhtếđối ngoại, chủđộng tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố vànâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế” Đại hội lần thứ IX khẳng địnhchủ trương “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài
và chủđộng hội nhập kinh tế quốc tếđể phát triển nhanh, có hiệu quả và bềnvững”.[Trích văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX – trang 89] Chủtrương hội nhập kinh tế quốc tếđược đề ra trong bối cảnh tình hình thế giới vàkhu vực diễn ra nhanh chóng, phức tạp, khó lường trước được, với những đặcđiểm sau:
Trong hơn thập kỉ qua, kinh tế thế giới nhìn chung phát triển khôngđồng đều Trên thế giới đã xảy ra mấy cuộc khủng hoảng lớn, sâu rộng hơn cả
là cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính nổ ra năm 1997 Vị thế các nước vàcác khu vực thay đổi theo hướng: kinh tế Mỹ phát triển nhanh vàổn định liêntục trong nhiều năm vàđến 2002 bắt đầu suy giảm; kinh tế Tây Âu hiện không
Trang 10còn phát triển nhanh như các thập kỉ trước; kinh tế Nhật suy thoái chưa có lốira; các nước thuộc Liên Xô trước đây và nước Đông Âu rơi vào tình trạng suythoái kéo dài, vài năm gần đây tăng trưởng tương đối khá; kinh tế Trung Quốcphát triển ngoạn mục; Đông Nam á vàĐông á phát triển nhanh vào bậc nhấtthế giới trong những thập kỷ trước, tuy nhiên vừa qua đã rơi và suy thoái vànay đang hồi phục; Nam Á và Châu Phi vẫn chưa thoát khỏi tình trạng trì trệkéo dài; kinh tế Mỹ latinh có khá hơn song cũng không ổn định.
Xu thế toàn cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến cuộc sốngcủa tất cả các dân tộc trên thế giới Ngày nay các nền kinh tế của các quốc giagắn bó hữu cơ và tuỳ thuộc vào nhau Tính thẩm thấu lẫn nhau của các nềnkinh tế gia tăng Nền sản xuất thế giới mang tính toàn cầu Phân công lao độngquốc tếđạt tới trình độ ngày càng cao Phương châm kinh doanh lấy thế giớilàm nhà máy của mình, lấy các nước làm phân xưởng của mình, qua đó phâncông lao động quốc tế có thể lợi dụng ưu thế kỹ thuật, tiền vốn, sức lao động
và thị trường của các nước, thúc đẩy quá trình quốc tế hoá sản xuất phát triểnnhanh chóng Trong quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá, nổi lên xu hướngliên kết kinh tế dẫn tới sự ra đời, rồi hợp nhất của nhiều tổ chức kinh tế vàthương mại, tài chính quốc tế và khu vực, như Tổ chức thương mại thế giới(WTO), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên minhChâu âu (EU), khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (AFTA)…
Hiện nay, các nước lớn, nhỏđều giành ưu tiên cho phát triển kinh tế,theo đuổi chính sách kinh tế mở Nay những nước có tiềm năng và thị trườnglớn như Trung Quốc, Nga, ấn Độ, Mỹ…và cả một số nước vốn khép kín, theo
mô hình tự cung tự cấp cũng dần dần mở cửa, từng bước hội nhập vào nềnkinh tế khu vực và thế giới
Mặt khác cộng đồng thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu
mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp
Trang 11tác đa phương như: bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số, đẩy lùidịch bệnh hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế…
Tuy nhiên trong xu thếđó, các nước công nghiệp phát triển, đứng đầu là
Mỹ, do cóưu thế về thị trường, nắm được tiến bộ khoa học- công nghệ, có nềnkinh tế phát triển cao, đã ra sức thao túng, chi phối thị trường thế giới, áp đặtđiều kiện với những nước chậm phát triển hơn, thậm chí dùng nhiều biện phápthô bạo như bao vây cấm vận, trừng phạt, làm thiệt hại lợi ích của các nướcđang phát triển và chậm phát triển Trước tình hình đó các nước đang pháttriển đã từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chính sách tăng cườngquyền áp đặt của Mỹđể bảo vệ lợi ích của mình vì một trật tự kinh tế bìnhđẳng, công bằng
ở khu vực Đông Namáđã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc Mặc dù trải quacuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính trầm trọng trong thời gian 1997 -1998,song vẫn là khu vực có nhiều tiềm năng do vị tríđịa lý chính trị vàđịa lý kinh
tế của mình, dung lượng thị trường lớn, tài nguyên phong phú, lao động dồidào, được đào tạo tốt, có quan hệ quốc tế rộng rãi
Toàn bộ tình hình trên đem lại nhiều thuận lợi to lớn, đồng thời cũngđặt ra nhiều thách thức gay gắt đối với nước ta trong quá trình phát triển đấtnước nói chung và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng
2 Hội nhập kinh tế với các nước đang phát triển
Thế giới ở vào thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷđang chứng kiếnnhững đổi thay sâu sắc trên tất cả mọi lĩnh vực, từ sản xuất vật chất đến đờisống tinh thần xã hội Toàn cầu hoá nổi lên như một trong những xu hướngchủđạo chi phối hệ thống quan hệ quốc tế hiện đại Xét trên phương diện sảnxuất vật chất xã hội, một giai đoạn mới của lịch sử nhân loại đang từng bướcquáđộ từ xẫ hội gắn với nền văn minh công nghiệp lên nấc thang phát triển
Trang 12cao hơn Nấc thang phát triển này được đặc trưng bởi công nghệ và cơ cấukinh tế mới – kinh tế tri thức, trên cơ sởáp dụng rộng rãi các thành tựu khoahọc – công nghệ tiên tiến, các phương tiện truyền tin hiện đại và máy tính.
Nhìn một cách tổng quát, toàn cầu hoá kinh tế là quá trình phổ biến theohướng nhất thể hoá trên phạm vi toàn cầu những giá trị, tri thức, những hoạtđộng, những mô hình – cấu trúc trong lĩnh vực kinh tế và cả khoa học, kỹthuật Trong đó các nước đang phát triển tham gia với động lực cơ bản lànhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo mối liên kết thương mại giữa cácquốc gia, các khu vực với nhiều hình thức phong phú, hoạt động có hiệu quả
Và cho đến nay, một số các quốc gia đang phát triển đãđạt được những tiến bộvượt bậc ví như : ở khu vực Đông Namá có Thái Lan, Malayxia, Singapo đãchuyển mạnh sang kinh tế hướng về xuất khẩu và thu được những thành quảtốt
Xét về việc mở rộng vàđa dạng các mối liên kết thương mại thì chínhsách tỷ giá, chính sách giảm thuế xuất nhập khẩu, bãi bỏ hàng rào thuế quan,phi thuế quan đã làm cho hoạt động thương mại tại các nước mở rộng thịtrường và tăng khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu
Hơn nữa, trong quá trình hội nhập kinh tế,điều chúng ta thấy rõ là thịtrường vốn có mối liên kết chặt chẽ hơn nhiều Các nước đang phát triển có cơhội hội nhập với thị trường tài chính toàn cầu Nhờ vậy mà loại bỏ việc kiểmsoát đối với đồng vốn chảy vào, đồng thời cũng bãi bỏ dần những hạn chếtrong thanh toán và giao dịch thông qua tài khoản Hiện nay, nhiều nước đãchấp nhận thả nổi đồng tiền, đã làm cho đồng vốn đổ vào các nước này tăngnhanh
Mặt khác, hội nhập kinh tế trong thời gian qua có tác động tích cực đếnviệc ổn định kinh tế vĩ mô Nhiều quốc gia đang phát triển đã mở cửa thịtrường thu hút vốn, một mặt thúc đẩy công nghiệp hoá, một mặt tăng tích
Trang 13luỹtừđó cải thiện mức thâm hụt ngân sách Chính sựổn định kinh tế vĩ mô này
đã tạo niềm tin cho các chương trình phát triển hỗ trợ cho những quốc giathành công trong cải cách kinh tế và mở cửa
Ngoài ra, hội nhập kinh tế tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và nâng caomức thu nhập tương đối của các tầng lớp dân cư
Chính những mặt thuận lợi này mà hội nhập kinh tế quốc tế có sứcmạnh to lớn Nó kéo tất cả các quốc gia dù lớn, dù nhỏ, dù giàu hay nghèo đều
bị cuốn vào Tuy nhiên điều đáng nói ởđây là chủ nghĩa tư bản hiện đại với ưuthế về vốn và công nghệđang ráo riết thực hiện ýđồ chiến lược biến quá trìnhtoàn cầu hoá nói chung và toàn cầu hoá kinh tế nói riêng thành quá trình tự dohoá kinh tế vàáp đặt chính trị theo quỹđạo tư bản chủ nghĩa Bởi vậy, tất cảcác nước, nhất là các nước đang phát triển, đều phải tìm kiếm các đối sách đểthích ứng với quá trình toàn cầu hoáđa bình diện vàđầy nghịch lý
Các nước này tuy đã giành được độc lập, đó là một thành quả vô cùngquan trọng, song các nước này hầu hết lại là các nước nghèo, còn lạc hậu Chonên, họ vẫn bị phụ thuộc vào hệ thống kinh tế của chủ nghĩa tư bản : từ khaithác – sử dụng tài nguyên, quy trình sản xuất, vốn, kỹ thuật – công nghệđếnthị trường tiêu thụ cũng như phân công lao động quốc tế… Các nước đangphát triển đang phải đối diện trước thách thức của nguy cơ tụt hậu ngày càng
xa về kinh tế Bởi một cơ cấu kinh tế còn nhiều bất hợp lý, trong đó tỷ trọngcông nghiệp nhỏ bé trong tổng giá trị thu nhập quốc dân, cộng thêm với trình
độ thấp kém về năng suất lao động, cho nên tốc độ phát triển kinh tế của đa sốcác nước đang phát triển thấp và bấp bênh Trong thập niên 60, các nước đangphát triển đạt mức tăng trưởng 5,7%, thập niên 70 đạt 5,3% thìđến thập niên
80 là 2% và những năm vừa qua của thập niên 90 tuy tình hình cóđược cảithiện, song cũng chỉđạt mức trên 4% trong khi tỉ lệ tăng dân số vẫn còn ở mứctrên 2%/năm
Trang 14Không những thế vấn đề nợ nước ngoài cũng trở thành gánh nặng đốivới các nước đang phát triển Số liệu thống kê của Liên hợp quốc cho thấy, nợnước ngoài của các nước này đã tăng hơn 300 lần trong 4 thập niên qua : từ 6
tỉ năm 1995 lên trên 2000 tỉđầu năm 2000 Trong đó, có những nước mà tổng
số nợđã vượt xa so với tổng thu nhập quốc dân Những bi kịch về nợ nướcngoài của các nước đang phát triển không chỉđược biểu hiện ở tổng số nợkhổng lồ mà còn là tình trạng nhiều nước không có khả năng thanh toán dù chỉ
là lãi suất hằng năm, trong khi dó tốc độ của các khoản vay vẫn gia tăng vàkhông hề có dấu hiệu giảm bớt
Cùng với nợ nần là tình trạng bất bình đẳng trong trao đổi mậu dịch –thương mại giữa các nước đang phát triển và phát triển Chỉ tính riêng qua traođổi không ngang giá, các nước phát triển mỗi năm thu về món lợi hàng chục tỉUSD
Mặt khác, vẫn tiếp tục diễn ra sự phân biệt đối xử với hàng hóa – sảnphẩm của các nước đang phát triển khi thâm nhập thị trường các nước pháttriển Qua con đường đầu tư, chuyển giao kỹ thuật – công nghệ, các cườngquốc tư bản không chỉ thu lợi do bán các thiết bị công nghệ lạc hậu và gây ônhiễm mà còn khống chế nhiều huyết mạch kinh tế quan trọng của các nướcđang phát triển Còn các nước đang phát triển, do áp lực bức bách của nhu cầucải thiện đời sống kinh tế, đã dễ dàng chấp nhận “chào đón” bất kỳ sự cải tiến
kỹ thuật – công nghệ nào, bất kỳ nguồn vốn tư bản nào Sựđơn giản dễ dãinày, mặc dù trước mắt có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song rất có thể phảitrả giáđắt bởi các hậu quả kinh tế xã hội khó lường Do vậy, lựa chọn kỹ thuật– công nghệ, cơ cấu kinh tế, mô hình kinh tế – xã hội đang đặt ra những tiêuchuẩn phức tạp hơn để có thể tận dụng mọi cơ hội phát triển cho cả ngày mai,không chỉ vì những cái lợi tức thời trước mắt