Công thức Số cây lây bệnh Số cây nhiễm bệnh TLB % Ngày lây bệnh Ngày phát bệnh Thời kỳ tiềm dục ĐHH % Từ kết quả bảng 9 cho thấy nấm đối kháng Trichoderma viride có hiệu quả phòng trừ k
Trang 1ở công thức 2 xử lý Trichoderma viride (1g/1000g phân chuồng) trước khi gieo có tỷ lệ bệnh là 22.00% Khi tăng liều lượng Trichoderma viride lên
(5g/1000g phân chuồng) trước khi gieo ở công thức 4, tỷ lệ bệnh giảm chỉ
còn 13.66% Như vậy liều lượng của chế phẩm Trichoderma viride càng cao,
khả năng làm giảm sự phát triển của bệnh héo vàng trên đồng ruộng càng mạnh Tuy nhiên cần phải nghiên cứu sâu hơn nữa về chế phẩm nấm đối
kháng Trichoderma viride để đưa vào sản xuất phòng chống bệnh có hiệu
quả mà không làm ô nhiễm môi trường
8 Thí nghiệm trong nhà lưới
8.1 Thử hiệu lực đối kháng của nấm Trichodermavirride xử lý đất phòng
chống bệnh héo vàng
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên giống đậu tương DT 84 đang được trồng ngoài sản xuất Kết quả được trình bày ở bảng 8
Bảng 8: Tỷ lệ nảy mầm (%) và tỷ lệ bệnh (%) sau khi xử lý đất bằng
nấm đối kháng Trichoderma viride
Công thức Tổng số hạt
gieo
Tổng số hạt mọc
Tỷ lệ mọc mầm (%) TLB (%)
Ghi chú: Ngày gieo hạt : 10/8/2007
Ngày mọc mầm : 14/8/2007
Ngày điều tra: 22/8/2007
CT1: Đối chứng xử lý nấm bệnh Fusarium oxysporum
CT2: Xử lý nấm Trichoderma viride vào đất rồi gieo hạt ngay
Trang 2CT3: Xử lý nấm Trichoderma viride vào đất sau 3 ngày rồi gieo hạt CT4: Xử lý nấm Trichoderma viride vào đất sau 5 ngày rồi gieo hạt CT5: Xử lý nấm Trichoderma viride vào đất sau 10 ngày rồi gieo hạt
Mỗi công thức với 3 lần nhắc lại, mỗi chậu gieo 10 hạt
Nhận xét: Qua kết quả bảng 8 cho thấy tỷ lệ mọc mầm ở các công thức
có xử lý Trichoderma viride rất cao, và tỷ lệ bệnh giảm khác nhau ở các công thức thí nghiệm Khi xử lý nấm Trichoderma viride vào đất sau 5 ngày
và 10 ngày rồi gieo hạt có tỷ lệ mọc mầm đạt 90.00% và 96.70%, và 100% hạt không bị nhiễm bệnh Trong khi đó ở công thức đối chứng chỉ xử lý nấm
bệnh Fusarium oxysporum tỷ lệ mọc mầm rất thấp chỉ có 60.00% nhưng tỷ
lệ bệnh lại rất cao đạt 88.90% Như vậy hiệu lực đối kháng của nấm
Trichoderma viride đạt rất cao nếu được xử lý vào đất sớm 5 – 10 ngày
trước khi gieo, tỷ lệ nảy mầm của hạt cũng rất cao
8.2 Hiệu quả phòng trừ bệnh héo vàng cà chua của nấm đối kháng
Trichoderma viride trong điều kiện nhà lưới
Để đánh giá mức độ gây hại của nấm Fusarium oxysporum chúng tôi
tiến hành lây bệnh nhân tạo trên giống cà chua Mỹ VL2200 theo phương
pháp trồng trong chậu vại, khi cấy cà chua trồng được 4 tuần tuổi
Thí nghiệm được tiến hành với 6 công thức:
CT 1: Đối chứng không xử lý nấm bệnh
CT 2: Xử lý Fusarium oxysporum
CT 3: Xử lý Trichoderma viride
CT 4: Xử lý Fusarium oxysporum trước 24h, sau đó xử lý nấm Trichoderma viride
CT 5: Xử lý Trichoderma viride trước 24h, sau đó xử lý Fusarium oxysporum
Trang 3Kết quả được trình bày ở bảng 9
Bảng 9: Hiệu quả phòng trừ bệnh héo vàng cà chua của nấm đối
kháng Trichoderma viride trong điều kiện nhà lưới
Công
thức
Số cây
lây bệnh
Số cây nhiễm bệnh
TLB (%)
Ngày lây bệnh
Ngày phát bệnh
Thời kỳ tiềm dục
ĐHH (%)
Từ kết quả bảng 9 cho thấy nấm đối kháng Trichoderma viride có hiệu quả phòng trừ khá cao đối với nấm Fusarium oxysporum gây bệnh héo vàng
Đặc biệt là đối với những nấm có chu kỳ phát triển chậm, thời kỳ tiềm dục
dài như nấm Fusarium oxysporum biểu hiện đối với công thức chỉ xử lý nấm Fusarium oxysporum kéo dài tới 10 ngày, còn đối với công thức xử lý Fusarium oxysporum trước 24h thì thời kỳ tiềm dục kéo dài tới 11 ngày, hiệu lực phòng trừ có thể lên tới 100% ở công thức xử lý Trichoderma viride đồng thời và trước 24 giờ đối với nấm gây bệnh Còn khi xử lý Trichoderma viride
sau 24 giờ thì hiệu quả chỉ đạt 62.50% Như vậy, khi sử dụng nấm đối kháng
Trichoderma viride ở ngoài thực tế sản xuất, nên áp dụng xử lý chế phẩm
này trước khi gieo trồng (khi làm đất) hoặc xử lý hạt giống vào thời điểm trước khi nấm bệnh xuất hiện để tăng hiệu quả phòng trừ
Trang 4ii Kết quả nghiên cứu đối với nấm gây bệnh héo vàng trong phòng thí nghiệm
1 ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự sinh trưởng của sợi nấm Fusarium oxysporum trên môi trường PGA
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm ở các ngưỡng nhiệt độ khác nhau trong
phòng thí nghiệm để nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển
của sợi nấm Fusarium oxysporum gây bệnh héo vàng Kết quả được trình
bày ở bảng 10
Bảng 10: ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự sinh trưởng của nấm
Fusarium oxysporum trên môi trường PGA
Ngưỡng nhiệt độ
(0C)
Đường kính trung bình tản nấm (mm)
Ghi chú: Đường kính hộp lồng petri = 90 mm
Qua kết quả bảng 10 cho thấy nấm Fusarium oxysporum sinh trưởng
tốt nhất ở 250C và 300C, Nấm sinh trưởng kém nhất ở nhiệt độ 150C và350C Sau 72 giờ nuôi cấy đường kính trung bình tản nấm ở ngưỡng nhiệt độ 300C
là cao nhất đạt 68.20 mm, ở ngưỡng nhiệt độ 350C tản nấm phát triển kém nhất chỉ đạt 15.00 mm, và ở ngưỡng nhiệt độ 150C đạt 16.00 mm Như vậy
tản nấm Fusarium oxysporum có khả năng sinh trưởng ở phạm vi nhiệt độ
tương đối rộng và thuận lợi ở ngưỡng nhiệt độ ấm áp
Trang 5Biểu đồ 7: ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự sinh trưởng của nấm Fusarium oxysporum trên môi trường PGA sau 72 giờ
ảnh 4: Tản nấm Fusarium
ở các nhiệt độ 20;25;30;35 o C
2 ảnh hưởng của pH môi trường đến sự sinh trưởng của nấm Fusarium oxysporum trên môi trường PGA
Để xác định ảnh hưởng của pH môi trường đến sự sinh trưởng của nấm
Fusarium oxysporum, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm ở các ngưỡng pH 4,
Trang 65, 6, 7, 8 trên môi trường PGA Kết quả được trình bày ở bảng 11
Bảng 11: ảnh hưởng của pH đến sự sinh trưởng của sợi nấm
Fusarium oxysporum trên môi trường PGA
Ngưỡng
pH
Đường kính trung bình tản nấm (mm) Sau 24h Sau 48h Sau 72h Sau 96h Sau 120h
Ghi chú: Đường kính hộp lồng petri 90 mm
Biểu đồ 7: Sự sinh trưởng của sợi nấm Fusarium oxysporum trên môi trường PGA ở các ngưỡng pH khác nhau
Qua kết quả bảng 11 cho thấy sau 5 ngày nuôi cấy ở các ngưỡng pH khác nhau có đường kính tản nấm khác nhau ở ngưỡng pH 7 sau 120 giờ
Trang 7nuôi cấy đường kính tản nấm phát triển kém nhất chỉ đạt 48.13 mm, ở ngưỡng pH 6 đường kính trung bình tản nấm đạt 61.02 mm Như vậy ở pH 7
sợi nấm Fusarium oxysporum sinh trưởng phát triển là tốt nhất, tiếp đó là
pH 6 sợi nấm cũng phát triển tốt Còn ở môi trường quá chua như pH 4, pH 5 không những không thích hợp mà còn kìm hãm sự phát triển của nấm
Fusarium oxysporum, chứng tỏ nấm này có phạm vi pH khá rộng và nấm
sinh trưởng thích hợp ở môi trường trung tính
ảnh 5 ảnh hưởng của pH môi trường
đối với nấm Fusarium oxysporum
3 ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học đến sự sinh trưởng của nấm
Fusarium oxysporum trên môi trường PGA
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm khảo sát một loại thuốc hoá học nhằm
tìm ra loại thuốc có nồng độ thích hợp để phòng chống nấm Fusarium oxysporum gây bệnh héo vàng Kết quả thu được trình bày ở bảng 12
Trang 8Bảng 12: ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học đến sự sinh trưởng
của nấm Fusarium oxysporum trên môi trường PGA
STT Loại thuốc – nồng
độ (%)
Đường kính trung bình tản nấm (mm) Sau 24h Sau 48h Sau 72h
1
Daconil 72WP
0,1 0,2
0,3
0
0
0
2.50 2.02 1.73
3.38 3.06 2.48
2
Zineb 80WP 0,1 0,2
0,3
3.70 3.06 2.00
14.06 10.60 4.43
24.10 15.70 6.20
3
Topsin M75WP
0,1 0,2
0,3
1.03
0
0
3.13
0
0
4.20
0
0
4
Ricide 72WP
0,1 0,2
0,3
0
0
0
0
0
0
0
0
0
5 Đối chứng
(không xử lý thuốc) 6.50 29.03 59.45
Biều đồ 8: So sánh hiệu lực của một số thuốc hoá học đối với nấm
Trang 9Qua kết quả thu được ở bảng 12 chúng tôi thấy sau 72 giờ nuôi cấy trên môi trường PGA có xử lý thuốc Daconil 72WP, Zineb 80WP ở các nồng độ 0.1%, 0.2%, 0.3% nấm vẫn mọc được nhưng tản nấm phát triển kém hơn nhiều so với công thức đối chứng, còn môi trường xử lý thuốc Ricide 72WP nấm hoàn toàn không mọc được, thuốc Topsin M75WP nuôi cấy tại nồng độ 0.2% và 0.3% nấm cũng hoàn toàn không mọc được Như vậy thuốc Ricide
72WP có khả năng ức chế hoàn toàn đến sự phát triển của sợi nấm Fusarium oxysporum, thuốc Topsin M75WP ở nồng độ 0.2% và 0.3% cũng có khả năng ức chế hoàn toàn sự phát triển của sợi nấm Fusarium oxysporum Hai
loại thuốc này cần được nghiên cứu đưa vào sản xuất để phòng trừ bệnh héo
vàng do nấm Fusarium oxysporum gây ra
ảnh 6: Hiệu lực của thuốc Daconil 72WP đối với nấm
Fusarium oxysporum trên môi trường PGA
Trang 10ảnh 7: Hiệu lực của thuốc Ricide 72WP đối với nấm
Fusarium oxysporum trên môi trường PGA
ảnh 8: Hiệu lực của thuốc Topsin M 75WP đối với nấm