gieo trong môi trường có kích thích tố, có màu xanh đậm hơn, hạt phình to hơn nhưng trên môi trường MS có nồng độ khoáng cao hơn, thì hạt lan nẩy mầm nhanh hơn so với môi trường Knudson’
Trang 1II Thí nghiệm 2:
Các quả lan sau khi được khử trùng sẽ được gieo vào 4 loại môi trường khác nhau, được theo dõi sau 4 tuần nuôi cấy:
Môi trường Ký hiệu Nồng độ
BA (ppm)
Số mẫu hóa nâu (1 tuần)
%
Số mẫu nảy mầm (2 tuần)
%
Số mẫu hóa xanh (4 tuần)
%
MS
M 1 1 100 90 100
KC
Bảng 3: Sự nảy mầm của hạt lan trên môi trường Knudson’C và MS bổ sung 1
ppm BA
- Một tuần sau khi gieo vào môi trường, tất cả mẫu hạt lan đều hóa nâu vàng
- Sau 2 tuần, mẫu bắt đầu có hiện tượng nẩy mầm và có sự khác biệt rõ rệt giữa các loại môi trường khác nhau
- Sau 4 tuần, những hạt có màu hơi vàng, dần chuyển sang xanh
do có sự tiếp xúc với ánh sáng, tạo được diệp lục tố
Dựa vào bảng kết quả, chúng tôi nhận thấy:
- Hạt gieo trong môi trường MS có tỷ lệ nẩy mầm rất cao (80-90%), hầu như tất cả các mẫu hạt đều có hiện tượng phình lên và chuyển sang vàng Trong khi đó, mẫu hạt gieo trong môi trường Knudson’C, tỷ lệ nẩy mầm rất thấp (40-50%) Trong thời điểm này hầu như không có sự khác biệt giữa loại môi trường có và không có kích thích tố Có thể trong thời điểm này, kích thích tố không có ảnh hưởng gì mấy đối với khả năng nẩy mầm của hạt
- Sau 4 tuần, hạt lan hóa xanh Trong môi trường MS có bổ sung
BA 1ppm, tất cả mẫu hạt đều hóa xanh nếu không có kích thích tố tỷ lệ này là 93,33% Trong môi trường KC, tỷ lệ mẫu hóa xanh thấp hơn, ở đây có sự khác biệt rõ rệt giữa môi trường có và không có kích thích tố Môi trường KC có BA tỷ lệ nẩy mầm cao hơn (80%) so với không có BA (63,33%) Trong giai đoạn
Trang 2gieo trong môi trường có kích thích tố, có màu xanh đậm hơn, hạt phình to hơn
nhưng trên môi trường MS có nồng độ khoáng cao hơn, thì hạt lan nẩy
mầm nhanh hơn so với môi trường Knudson’C
Vậy, môi trường MS có 1 ppm BA cho sự nẩy mầm của hạt lan Dendrobium tốt
hơn so với môi trường Knudson’C
Trang 3III Thí nghiệm 3:
Các mẫu hạt lan sau khi đã hóa xanh, được cấy chuyền qua các môi trường khác nhau để tạo protocorm, được theo dõi sau 4 tuần nuôi cấy:
Tình trạng tạo protocorm Môi trường Ký hiệu Nồng độ BA
(ppm) Sau 2 tuần Sau 4 tuần
MS
KC
K 2 2 ++ +++
Bảng 4: Kết quả tạo protocorm trên môi trường Knudson’C và MS bổ sung 2
ppm BA
Với
+++ : tạo thành protocorm rất nhiều
- Tuần đầu tiên trên cả 4 môi trường đều không tạo protocorm
- Sau 2 tuần, hạt gieo bắt đầu biến đổi tạo thành một đám tế bào có màu xanh
- Số lượng protocorm ngày càng tăng nhanh sau 3-4 tuần, phình
to lên, và có lá mầm
Dựa vào bảng kết quả chúng tôi nhận thấy:
- Hai tuần sau khi cấy, môi trường MS, hạt lan không có sự biến đổi rõ rệt, tạo thành rất ít protocorm Sau bốn tuần, số lượng protocorm tạo thành nhiều, đường kính nhỏ, màu xanh hơi trắng, lá mầm dài khoảng 3-4 mm và rất ít
- Trong khi đó ở môi trường Knudson’C, sau hai tuần tất cả các hạt lan đều biến đổi rõ rệt, đường kính protocorm khoảng 2mm, trên protocorm có lông hút Sau 4 tuần, số lượng protocorm trong môi trường Knudson’C phát triển nhanh, màu xanh, lá mầm dài khoảng 5-7 mm
Trang 4- Trong mođi tröôøng Knudson’C coù chöùa BA, maịc duø soẫ löôïng protocorm táo ra töông ñöông vôùi mođi tröôøng khođng chöùa BA Nhöng protocorm phaùt trieơn töông ñoâi nhanh hôn, söï taíng tröôûng cụa protocorm ñoăng ñeău vôùi nhau, coù nhieău laù maăm khoûe, maøu xanh töôi Trong mođi tröôøng coù chöùa kích thích toâ BA, laø moôt cytokinin coù khạ naíng kích thích vaø ñieău chưnh söï phađn baøo, taíng söï chuyeơn hoùa chaât dinh döôõng [10]
Toùm lái:
- Töø nhöõng keât quạ ghi nhaôn ñöôïc veă thôøi gian vaø soâ löôïng protocorm táo thaønh ta coù theơ keât luaôn raỉng: söï táo protocorm trong mođi tröôøng Knudson’C coù boơ sung kích thích toâ BA laø toât nhaât
- Do söï táo thaønh protocorm trong mođi tröôøng Knudson’C toât hôn, neđn taât cạ caùc thí nghieôm veă sau, chuùng tođi chư thöïc hieôn tređn mođi tröôøng Knudson’C
Trang 6IV Thí nghiệm 4:
Các protocorm được tạo thành từ hạt có chất lượng như nhau được đưa vào các thí nghiệm nhân protocorm, sau 4 tuần theo dõi kết quả ghi nhận được như sau:
Kích
thích tố
Nồng độ
(ppm)
Ký hiệu
Số lượng chồi mới
Chiều cao chồi (cm)
Chiều dài lá (cm)
Ghi chú
nhưng ít
xanh, có lông hút
BA
nhưng nhỏ
có lông hút, nhưng ít
0,5 K 5 5-7 3-4 2-3 Protocorm xanh,
nhưng ít
2ppm
BA +
IBA
vàng, ít
Bảng 5: Kết quả nhân protocorm trên môi trường Knudson’C với kích thích tố
khác nhau
- Sau 2 tuần, bắt đầu xuất hiện protocorm mới, có lông hút Số lượng và kích thước thay đổi tuỳ theo môi trường
- Sau 3 tuần, có một số protocorm bật chồi mới
- Sau 4 tuần các chồi mới phát triển mạnh, tuỳ theo môi trường mà số lượng và chiều cao chồi mới khác nhau
Dựa vào bảng kết quả chúng tôi nhận thấy:
protocorm mới Sang đến tuần thứ 3, mới xuất hiện protocorm mới Số lượng protocorm mới tạo thành rất ít, có màu xanh Một số protocorm bật chồi vào giữa tuần thứ 4, nhưng số lượng này rất ít, chỉ khoảng 1-2 chồi
Sau 2 tuần, đã xuất hiện nhiều protocorm mới Sau 4 tuần, số lượng protocorm mới tạo thành rất nhiều, các protocorm này
Trang 7tuần thứ 3, có một số protocorm mới bật chồi, tuy số lượng chồi nhiều, nhưng chiều cao chồi rất thấp
tuần, đã xuất hiện những protocorm mới Sang đến tuần 4, số lượng protocorm đã rất nhiều, tuy nhiên các protocorm này nhỏ, có một số protocorm có màu trắng Hầu hết các protocorm mới đều không bật chồi
¾ Trong các môi trường K1, K2, K3, dưới tác dụng của kích thích tố BA, các mẫu cấy đều tạo thành protocorm mới Các protocorm tạo thành càng nhiều khi nồng độ kích thích tố tăng lên, nhưng chất lượng protocorm thì ngược lại (protocorm nhỏ và trắng) Như vậy, với nồng độ kích thích tố thích hợp sẽ tác động tốt đến sự phân chia tế bào, nhưng khi nồng độ khá cao, thì cũng có thể gây độc
- Sau 2 tuần, trong các môi trường K4, K5, K6, đã thấy xuất hiện protocorm mới Tuy nhiên, sau 4 tuần, số lượng protocorm này
có màu xanh mướt, to, có lông hút Số lượng protocorm trong
- Sang đến tuần thứ 3, các protocorm bật chồi, sang đến tuần thứ
4 các protocorm phát triển mạnh, giai đoạn này hầu hết các mẫu hạn chế tạo protocorm mà chỉ chủ yếu tạo chồi So sánh giữa
các chồi mới có màu xanh mướt, và khi bật chồi thì chồi xanh tốt và đồng loạt hơn hai môi trường còn lại, có một số chồi có rễ nhỏ, màu trắng, dài từ 0,1-0,3 cm
¾ Có sự khác biệt rõ rệt về số lượng chồi mới, chiều cao chồi và chiều dài lá giữa các môi trường chỉ có kích thích tố BA, và các môi trường có BA và IAA Ơû các môi trường chỉ có BA, sang đến tuần thứ 4, các protocorm mới bật chồi, nhưng số lượng rất ít, chồi phát triển chậm, và thấp Các môi trường này chỉ chủ yếu tạo thêm protocorm mới, ít tạo chồi Trong khi đó, các môi trường có BA và IAA, các mẫu cấy chủ yếu tạo chồi, hạn chế việc tạo thành protocorm Như vậy, chúng tôi nhận thấy, sự kết hợp giữa BA và IAA thì có lợi hơn cho viêc tạo chồi mới, phát triển cây con để sử dụng cho các thí nghiệm về sau
Tóm lại:
thành nhiều chồi mới hơn, có chiều cao, và thích hợp cho thí nghiệm ra rễ sau đó
Trang 8Cụm chồi ban đầu được tách làm 3, cấy chuyền sang môi
3-4 cm Như vậy về mặt lý thuyết, ta tính được hệ số nhân
chồi là 3x4 12 chồi/năm
Sau 6 tuần, các cây con có chiều cao 3-4 cm và có 2-3 lá được tách ra để đưa vào thí nghiệm tạo rễ Các chồi thấp cũng được tách ra, tiếp tục đưa vào môi
đưa vào môi trường K2