Bảng 6: Kết quả thí nghiệm tạo rễ trên môi trường Knudson’C, bổ sung NAA, IAA, IBA với các nồng độ khác nhau sau 4 tuần.. - Hai tuần sau khi cấy vào môi trường ra rễ, cây bắt đầu tăng ch
Trang 1Khóa luận tốt nghiệp – 2005 Kết quả – Thảo luận
SVTH: Nguyễn Vũ thị Hoàng Uyên Trang 42
Những cây con trong thí nghiệm 4 có chiều cao từ 3-4 cm, có từ 2-3 lá được cấy vào môi trường ra rễ, sau 4 tuần theo dõi kết quả ghi nhận được như sau:
Kích thích
tố
Nồng độ
(ppm)
Ký hiệu Số lượng rễ Chiều dài rễ
(cm)
Tỷ lệ cây
ra rễ(%)
Ghi chú
cao
triển không đều
0,5 KN 2 4-6 2-4 94,44 Lá dài, xanh, phát
triển tốt và đồng đều
NAA
dài
ngắn
nhưng không đều, thân thấp, rễ dài IAA
dài
không đều
triển tốt, đồng đều
IBA
ngắn, rễ dài Bảng 6: Kết quả thí nghiệm tạo rễ trên môi trường Knudson’C, bổ sung NAA,
IAA, IBA với các nồng độ khác nhau (sau 4 tuần)
- Hai tuần sau khi cấy vào môi trường ra rễ, cây bắt đầu tăng chiều cao và rễ xuất hiện
- Sau 4 tuần, rễ phát triển mạnh, nhưng tùy theo từng loại môi trường mà rễ, lá và phát triển khác nhau
Trang 2Khóa luận tốt nghiệp – 2005 Kết quả – Thảo luận
SVTH: Nguyễn Vũ thị Hoàng Uyên Trang 43
Dựa vào bảng kết quả chúng tôi nhận thấy:
có 1-3 rễ và chiều dài từ 0,3-0,7 cm
Trong môi trường có bổ sung kích thích tố, kích thước cây và rễ có sự biến đổi rõ rệt tùy theo tùy loại kích thích tố và nồng độ
- Trong môi trường bổ sung kích thích tố IAA, hầu như không có sự chênh lệch tỷ lệ cây ra rễ, tỷ lệ thấp chỉ trên 60% Số lượng rễ khoảng 1-3, nhưng mập và dài Cây con thấp, số lượng lá ít, 2-3 lá, lá có màu xanh đậm
- Các môi trường KB1, KB2, KB3, tỷ lệ cây ra rễ khá cao, và có sự
cây con có nhiều lá, lá dài, có màu xanh mướt Cây con cao, khoẻ có nhiều rễ, và dài Trong môi trường KN2, tỷ lệ cây ra rễ cao nhất (94,44%), rễ dài, mập, có màu xanh Cây con có nhiều lá, khoẻ mạnh sẽ phát triển rất tốt khi chuyển sang giai đoạn chuyển tiếp trước khi ra vườn ươm
các auxin, sẽ gây ra sự giảm độ pH trong thành tế bào nên hoạt hoá các enzym phân huỷ các polysaccharide là pectinmetylesteraza liên kết giữa các sợi cellulose làm chúng lỏng lẻo Vách tế bào mềm ra, trở nên lỏng lẻo hơn làm tế bào kéo dài ra Do đó với hàm lượng auxin tăng dần thì số lượng và chiều dài rễ cũng tăng theo Trong các auxin thì NAA, IBA được sử dụng nhiều hơn trong môi trường nuôi cấy mô IAA ít được sử dụng vì ít bền khi hấp khử trùng môi trường [10]
Knudson’C bổ sung 0,5ppm NAA Trong môi trường này cây có thể gia tăng chiều cao, số lượng rễ và cứng cáp hơn sau khi cây tạo được bộ rễ cứng cáp, cây khoẻ mạnh thì có thể đưa cây vào giai đoạn chuyển tiếp trước khi đem ra trồng ngoài vườn
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp – 2005 Kết quả – Thảo luận
SVTH: Nguyễn Vũ thị Hoàng Uyên Trang 44
Hình 4.5: Cây ra rễ trên môi trường Knudson’C với các nồng độ và kích tố khác
nhau, sau 4 tuần
Trang 4Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Kết luận – Đề nghị
SVTH: Nguyễn Vũ thị Hoàng Uyên Trang 36
PHẦN V: KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ
I Kết luận
Từ những kết quả đạt được, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:
trong, nên nếu tiến hành rửa mẫu kỹ và đốt bằng cồn 1 lần thì có thể loại bỏ hoàn toàn các tác nhân gây nhiễm Hạt không bị ảnh hưởng và khi gieo vào môi trường sẽ phục hồi rất nhanh
hơn so với môi trường Knudson’C
là tốt nhất
2ppm BA và 0,5 ppm IAA, thì sẽ tạo thành nhiều chồi mới hơn, có chiều
chồi/năm
bổ sung 0,5ppm NAA
Từ kết quả nghiên cứu trên chúng tôi đưa ra quy trình nhân giống lan
Dendrobium bằng phương pháp gieo hạt in-vitro như sau:
Trang 5Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Kết luận – Đề nghị
SVTH: Nguyễn Vũ thị Hoàng Uyên Trang 37
Hình 5.1: Quy trình nhân giống lan Dendrobium bằng phương pháp gieo hạt in-vitro
Trang 6Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Kết luận – Đề nghị
SVTH: Nguyễn Vũ thị Hoàng Uyên Trang 38
II Đề nghị:
Do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên chúng tôi chỉ mới hoàn thành được giai
đoạn gieo hạt và nhân giống in-vitro Trong thời gian tới, nếu có điều kiện chúng
tôi sẽ tiến hành giai đoạn đưa cây con ra vườn ươm và tiếp tục nghiên cứu các thí nghiệm khác như:
lan Dendrobium khác
mới