chúng tôi xây dựng được phương trình tương quan biểu diễn ảnh hưởng của nồng độ và thời gian tẩm thuốc PEG đến tỉ lệ co rút theo phương tiếp tuyến của gỗ Keo lá tràm.. - Khi thời gian ng
Trang 1Bảng 2.4 Co rút tiếp tuyến sau khi qua xử lý
Co rút tiếp tuyến của gỗ không qua xử lý thuốc PEG là: 4,87%
Từ kết quả thí nghiệm kết hợp với bảng 2.1 và bảng 2.4 chúng tôi xây dựng được phương trình tương quan biểu diễn ảnh hưởng của nồng độ và thời gian tẩm thuốc PEG đến tỉ lệ co rút theo phương tiếp tuyến của gỗ Keo lá tràm
- Phương trình dạng thực:
YTT = 6.138 + 0.129N + 0.006N2 + 0.41τ + 0.004 τN – 0.033τ2 (2.3) Qua kết quả thu được sau thí nghiệm, kết hợp với phương trình 2.3 ta vẽ
được đồ thị:
Hình 2.3 Quan hệ giữa nồng độ thuốc PEG và thời gian tẩm thuốc đến tỉ lệ
co rút tiếp tuyến
* Nhận xét:
Từ đồ thị ta thấy:
2
4
6
8
10
Nồng độ PEG(%)
8giờ
10giờ
6giờ
4 giờ
Trang 2- Khi nồng độ tăng từ 3 -5% thì tỷ lệ co rút của gỗ theo chiều tiếp tuyến tăng không đáng kể và tăng nhanh khi nồng độ tăng từ 5 - 11%
- Khi thời gian ngâm tăng thì tỉ lệ co rút của gỗ theo chiều tiếp tuyến
giảm
2.5.2 Giãn nở:
2.5.2.1 Giãn nở dọc thớ:
Từ kết qủa thu được ở bảng (2.1) về độ giãn nở dọc thớ gỗ, chúng tôi đi
xử lý và thu được số liệu ghi ở bảng sau:
Bảng (2.5) Giãn nở dọc thớ khi đã qua xử lý
Giãn nở dọc thớ không qua xử lý thuốc PEG là: 0.46%
Từ kết qủa thu được sau thí nghiệm, kết hợp với bảng 2.1 và 2.5 chúng tôi xây dựng được phương trình tương quan biểu diễn ảnh hưởng của N và τ tẩm thuốc PEG đến tỉ lệ giãn nở theo chiều dọc thớ của gỗ Keo lá tràm
- Phương trình dạng thực:
YDT = 0.866 – 0.211N + 0.014N2 + 0.068 +0.0008N - 0.0072 (2.4)
Qua kết qủa thu được sau thí nghiệm, kết hợp với phương trình 2.4 ta vẽ
được đồ thị:
0 0.1
0.2
0.3
0.4
0.5
0.6
Nồng độ PEG(%)
2giờ 4giờ
6 giờ
10 giờ
8 giờ
Trang 3Hình 2.4 quan hệ giữa nồng độ tẩm, thời gian tẩm và tỉ lệ giãn nở dọc thớ
Từ đồ thị ta thấy:
- Khi nồng độ tăng từ 3 - 8%, thời gian ngâm tăng thì tỉ lệ giãn nở của gỗ theo chiều dọc thớ của gỗ giảm dần
- - Khi nồng độ tăng từ 8 - 11%, tỉ lệ giãn nở của gỗ theo chiều dọc thớ
có xu hướng giảm Tuy nhiên với mức thời gian ngâm là 6giờ và 11 giờ thì tỉ
lệ giãn nở theo chiều dọc thớ giảm không đáng kể
2.5.2.2 Giãn nở xuyên tâm:
Từ kết qủa thu được ở bảng (3.1) về tỉ lệ giãn nở xuyên tâm, chúng tôi đi
xử lý và thu được số liệu ghi ở bảng sau:
Bảng 2.6 Giãn nở xuyên tâm sau khi đã qua xử lý
Giãn nở xuyên tâm không qua xử lý thuốc PEG là: 2.71%
Từ kết quả thu được sau thí nghiệm, kết hợp bảng(2.1) và (2.6) chúng tôi xác định được phương trình tương quan biểu diễn ảnh hưởng của N và tẩm thuốc PEG đến sự giãn nở theo phương xuyên tâm của gỗ Keo lá tràm
- Phương trình dạng thực:
YXT = - 2.226 + 0.707N - 0.065N2 + 1.042 +0.033N - 0.1082 (2.5)
Từ kết qủa thu được sau thí nghiệm, kết hợp với phương trình (2.5) ta
được đồ thị
1
1.5
2
2.5
3
3.5
2 giờ
4 giờ
6 giờ
10 giờ
Trang 4Hình 2.3 Quan hệ giữa nồng độ, thời gian tẩm và tỉ lệ giãn nở xuyên tâm
Từ đồ thị ta thấy: Khi nồng độ tăng từ 3 - 8%, thời gian ngâm tăng lên thì
tỉ lệ giãn nở của gỗ theo chiều xuyên tâm giảm dần
Khi nồng độ tăng từ 8 - 11%, tỉ lệ giãn nở của gỗ theo chiều xuyên tâm
có xu hướng giảm Tuy nhiên với mức thời gian ngâm là 6 giờ và 10 giờ thì tỉ
lệ giãn nở theo chiều xuyên tâm giảm không đáng kể
2.5.2.3 Giãn nở tiếp tuyến:
Từ kết quả thu được ở bảng (2.1) về tỉ lệ giãn nở tiếp tuyến, chúng tôi đi
xử lý và thu được số liệu ở bảng sau:
Bảng2.7: Giãn nở tiếp tuyến sau khi đã qua xử lý
Giãn nở tiếp tuyến không qua xử lý thuốc PEG là: 4,91%
Từ kết quả thu được sau thí nghiệm, kết hợp với bảng (2.1) và (2.7) chúng tôi xác định được phương trình tương quan biểu diễn được ảnh hưởng
Trang 5của N và tẩm thuốcPEG đến tỷ lệ giãn nở theo phương tiếp tuyến của gỗ Keo lá tràm
- Phương trình dạng thực:
YTT = -0.173 + 0.193N – 0.039N2 +1.976 + 0.017N – 0.1762 (2.6)
Từ kết quả thu được sau thí nghiệm, kết hợp phương trình (2.6) ta vẽ
được đồ thị:
*Nhận Xét:
Từ đồ thị ta thấy :
Khi nồng độ tăng từ 3 – 8%, thời gian ngâm tăng lên thì tỉ lệ giãn nở
của gỗ theo chiều tiếp tuyến giảm dần
Khi nồng độ tăng từ 8 – 11%, tỉ lệ giãn nở của gỗ theo chiều tiếp tuyến
có xu hướng giảm Tuy nhiên với mức thời gian ngâm là 6 giờ và 10 giờ thì tỉ
lệ giãn nở theo chiều tiếp tuyến giảm không đáng kể
*Nhận xét chung:
Từ các kết quả phân tích đồ thị trên đây chúng tôi đưa ra nhận xét như
sau: Tỷ lệ co rút của gỗ xử lý lớn hơn tỷ lệ giãn nở của gỗ xử lý trong quá
trình sấy gỗ khô kiệt
Dưới tác dụng của nhiệt độ cao và thời gian dài để xenlulô phản ứng với lignin tạo thành lino xenlulô giảm rất nhiều so với xenlulô Đồng thời trong
2 giờ
0
1
2
3
4
5
6
4 giờ
6 giờ
8 giờ
10 giờ
Nồng độ PEG(%)
Trang 6quá trình sấy gỗ đã làm cho nhóm hydroxyl (-0H ) trong phân tử xenlulô kém linh động nên “ ái lực ” của nó đối với nước yếu đi, mặt khác khi gỗ được ngâm tẩm PEG thì hàm lượng PEG và nước thấm vào bên trong gỗ bao bọc lấy vách tế bào, choán hết khoảng gian bào và bịt các lỗ thông ngang nên việc thoát hơi nước hay hút ẩm của của gỗ sẽ rất kém, nhờ đó gỗ rất ít bị co giãn , nứt nẻ
Ngoài ra, khi gỗ được ngâm trong dung dịch PEG còn hạn chế đựơc nấm mốc, nâng cao đựơc thời gian sử dụng gỗ và làm tăng khối lựơng thể tích của
gỗ
Với các cấp nồng độ và thời gian ngâm mà chúng tôi làm thí nghiệmthì với nồng độ 7% ứng với thời gian 2h thì tỷ lệ co rút và tỷ lệ giã nở là thấp nhất Vì vậy câp nồng độ, thời gian này là hợp lý nhất?
2.6.Quy trình trang sức
2.6.1.Xẻ mẫu:
Mẫu trang sức được xẻvới kích thước 1500x1500x10,mm
2.6.2 Sấy mẫu:
Mẫu sau khi xẻ ta tiến hành sấy mẫu đến độ ẩm cuối cùng 102% với nhiệt độ sấy tăng dần từ 400c đến nhiệt độ cuối cùng là 10050c
2.6.3.Ngâm mẫu:
Mẫu sấy xong được ngâm với các cấp nồng độ và thời gian như mẫu dùng để xác định tỷ lệ trương nở
2.6.4.Sấy mẫu:
Mẫu ngâm xong lại được đem sấy đến khi đạt được độ ẩm yêu cầu
102%
2.6.5.Trang sức:
Mẫu dùng để trang sức sau khi đã được đánh nhẵn bề mặt ta tiến hành phun sơn lên bề mặt mẫu
ở đây chúng tôi sử dụng phương pháp phun bằng khí nén đối với sơn PU
Trang 72.6.6.Kiểm tra độ bám dính của màng phủ:
Tiêu chuẩn kiểm tra là OCT15140-78 Phương pháp kiểm tra là rạch ô
vuông Ta rạch các đường song song trên mặt màng trang sức thành các ô
vuông 1(mm) Nguyên tắc rạch là rạch sao cho mũi dao trích chạm bề mặt ván nền Ơ mũi cắt đó sinh ra 1 lực có tác dụng xô trượt màng trang sức ra khỏi
ván nền Nếu độ bám dính tốt sẽ thắng lực trượt này và có thể có ô bong ra
khỏi ván nền Dựa vào đó có thể đánh giá kết quả kiểm tra độ bám dính của
màng phủ P- U theo phương pháp rạch được trình bày ở bảng sau:
N0
Mẫu xử lý Số ô
N% T(giờ)
có
Các đường cắt nhẵn không có dấu hiệu ô vuông
bong
2 5 4 1 ô bong Có hiện tượng màng trang sức bong dạng vẩy
3 5 8 1 ô bong Có hiện tượng màng trang sức bị bong dạng vẩy
4 7 2 2 ô bong Có hiện tượng màng trang sức bị bong dạng vẩy
5 7 6 2 ô bong Màng trang sức có các vết cắt bong theo 2 phía
dọc theo vết cắt
6 7 10 3 ô bong Có hiện tượng màng trang sức bị bong dạng vẩy
7 9 4 2 ô bong Có hiện tượng màng trang sức bị bong dạng vẩy
8 9 8 1 ô bong Có hiện tượng màng trang sức bị bong dạng vẩy
9 11 6 3 ô bong Có hiện tượng màng trang sức bị bong dạng vẩy
10 Mẫu đối
chứng
Không
có
Các đường cắt nhẵn không có dấu hiệu ô vuông
bong
Từ bảng số liệu trên ta có nhận xét sau:
Số lượng ô bị bong<5% Theo tiêu chuẩn xác định độ bám dính thì số ô
bong<5% ô/100 là mẫu đạt độ bám dính cao Như vậy khi mẫu được qua xử lý bằng thuốc biến tính PEG thì khả năng trang sức bị ảnh hưởng rất ít, thậm chí còn gần như không bị ảnh hưởng, trong khi đó giá trị của việc biến tính gỗ
Trang 828 b»ng PEG mang l¹i rÊt lín V× thÕ, viÖc ®a biÖn ph¸p biÕn tÝnh nµy vµo thùc
tÕ cã gi¸ trÞ rÊt lín
Trang 9CHƯƠNG III:kết luận & kiến nghị
3.1.Kết luận
Từ các kết quả thu được qua quá trình phân tích và đánh giá, chúng tôi
đưa ra một số kết luận sau:
- Gỗ được xử lý bằng thuốc PEG có khả năng hạn chế được sự xâm nhập của côn trùng hại gỗ, kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ
- Tỷ lệ co rút cũng như giãn nở của gỗ xử lý PEG giảm đi rất nhiều so với
gỗ chưa được xử lý
- Gỗ được xử lý bằng PEG thì nguy cơ bị nứt giảm đi nhiều so với gỗ chưa được xử lý; thậm chí với cấp nồng độ và thời gian ngâm hợp lý, gỗ sau khi được xử lý không có hiện tượng bị nứt
- Gỗ sau khi được ngâm bằng PEG có màu sắc sáng hơn gỗ không được ngâm thuốc
- Khả năng trang sức của gỗ đã qua xử lý PEG không hề bị ảnh hưởng
- Với nồng độ thuốc thấm, vấn đề môi trường không ảnh hưởng nhiều Như vậy, gỗ Keo lá tràm sau khi qua xử lý bảo quản bằng thuốc PEG có thể được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn sản xuất ván ghép thanh, ván sàn, khung cửa, đặc biệt có thể đưa gỗ Keo lá tràm vào sản xuất các chi tiết thay cho gỗ tự nhiên trong sản xuất đồ mỹ nghệ, đồ mộc cao cấp mà không hề làm giảm đi giá trị thẩm mỹ cũng như giá trị sử dụng của sản phẩm
3.2.Kiến nghị
- Cần mở rộng phạm vi nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc PEG với nhiều loại gỗ rừng trồng khác nhằm từng bước thay thế gỗ tự nhiên bằng gỗ rừng trồng
- Cần nghiên cứu để tìm ra phương pháp đưa thuốc PEG vào trong gỗ một cách hợp lý nhất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất
- Giải bài toán tối ưu để tìm ra cấp nồng độ và thời gian ngâm thuốc hợp
lý nhất
- Nghiên cứu thiết bị và công nghệ ổn định và biến tính gỗ
- Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của PEG đến các màng trang sức khác như: giấy tẩm keo, giấy trang trí và các loại chất phủ khác
Trang 10
TàI LIệU THAM KHảO
1 Lý Khánh Chương (1990), trang sức bề mặt ván nhân tạo, Nhà
xuất bản Lâm nghiệp Đông Bắc – Trung Quốc
2 Trần Ngọc Thiệp – Võ Thành Minh - Đặng Đình Bôi, Công
nghệ xẻ mộc,Trường Đại học Lâm Nghiệp
3 Hồ Xuân Các, Phạm Văn Kháng, Phan Đức Thuội, Lê Xuân Tình
(1976), Giáo trình gỗ, NXB Nông nghiệp Hà Nội
4 Nguyễn Đình Hưng (1999), khoa học gỗ, Trường đại học Lâm
Nghiệp
5 Lê Xuân Tình (1998), khoa học gỗ, NXB nông nghiệp Hà Nội
6 Tiêu chuẩn Việt Nam (1998), tiêu chuẩn nhà nước về gỗ và sản
phẩm gỗ
7 Hà Chu Chử (1999), Dự báo phát triển kinh tế Lâm Nghiệp đến
năm 2030, viện KHLNVN, Hà Nội
8 Bùi Đình Toàn (2002) ‘ Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo, tính chất
chủ yếu của cây Keo lai và định hướng sử dụng trong công nghiệp sản xuất ván ghép thanh, Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
9 Trần Văn Chứ (2002), Công nghệ trang sức vật liệu gỗ
10 Tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng màng trang sức (1998), NXB
Công nghiệp rừng Macơva, Cộng hoà Liên Bang Nga
11 Tiêu chẩn kiểm tra chất lượng màng trang sức (1998), NXB Lâm
Nghiệp Bắc Kinh Trung Quốc
12 Buglai (1973), công nghệ trang sức bề mặt, NXB Công nghiệp
rừng Macơva, Cộng Hoà Liên Bang Nga
13 Noel Johnson Leach (1978), Modern Ưôd Finishing Techniques,
London
14 Phạm Thị Là (2003), “Nghiên cứu một số giải pháp ổn định gỗ và
ảnh hưởng của chất Plyetylen Glycol(PEG) đến khả năng trang sức của sơn
PU