1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VĂN HỌC ẤN ĐỘ, NHẬT BẢN LÀO, CAMPUCHIA, Ả RẬP - CHƯƠNG 14. VĂN HỌC DÂN GIAN LÀO doc

12 607 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 216,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG XIV VĂN HỌC DÂN GIAN LÀO LỜI NÓI ĐẦU Văn học Ấn Độ có cảnh hưởng rộng khắp trên khu vực Đông Nam Á nhưng sự ảnh hưởng ở mỗi nước khác nhau.. Mặt khác , các dân tộc Đông Nam Á cũn

Trang 1

CHƯƠNG XIV VĂN HỌC DÂN GIAN

LÀO LỜI NÓI ĐẦU

Văn học Ấn Độ có cảnh hưởng rộng khắp trên khu vực Đông Nam Á nhưng sự ảnh hưởng ở mỗi nước khác nhau Việt Nam và Lào chủ yếu tiếp thu Đạo Phật , còn Cam pu chia , Miến Điện ( Myanmar ) và Champa tiếp thu đạo Bà la môn sớm hơn đạo Phật Những dấu tích đền thờ thần Brahma , thần Indra, thần Visnu, ngẫu tượng Linga, Ioni và những bia đá ghi kinh Vê đa tìm thấy khá nhiều ở khu vực đền Angkor ở Cam pu chia và đền tháp Chăm (Chăm) ở miền Nam Việt Nam Tuy vào sau nhưng đạo Phật vẫn ảnh hưởng rộng rãi và sâu sắc hơn đạo Bà la môn ở vùng Đông Nam Á

Tư tưởng từ bi bác ái vị tha và mục đích cứu khổ cứu nạn của Đạo Phật như luồng gió mát lành lan tỏa khắp vùng Đông Nam Á Những vị sư tăng đi truyền đạo được nhân dân Đông Nam Á coi như sứ giả hòa bình hữu nghị Nhiều chùa chiền được dựng lên để cầu kinh niệm Phật và dạy học Kinh kệ bằng chữ Pali được dịch ra chữ Việt, chữ Lào chữ Miến , chữ Thái Tư tưởng Phật giáo đã trở thành kho báu tinh thần và biến đổi thành bản sắc văn hóa các dân tộc Đông Nam Á Nhiều nước đã xác định Phật giáo là quốc giáo

( Lào , Thái Lan , Cam pu chia , Miến điện , Việt Nam thời Nhà Lý - Trần )

Tôn giáo Ấn Độ đến với Đông Nam Á còn mang theo các hình thức văn hóa nghệ thuật khác , trước hết là nghệ thuật kiến trúc , nghệ thuật tạo hình , âm nhạc , múa và tạo ra một số phong tục , lễ hội mới Mặt khác , các dân tộc Đông Nam Á cũng đóng góp sáng tạo làm cho các hình thức văn hóa ấy phù hợp với bản địa của mình Nhiều lăng

mộ đền đài tháp xây theo kiểu hoa sen ( stupa) gốc Ấn Độ Hoa văn hoa sen khá quen thuộc trên vách tường , đền , mái chùa , với các phù điêu thần Visnu ,Shiva , rắn Naga , chim Garuda , vũ nữ Apsara , tượng bốn mặt Bayon ở đền Angko Vát , đền Thạp Luổng ở Lào , chùa Vàng ở Miến Điện , các tháp Chăm ở Việt Nam Trong các kiến trúc ấy , những cốt lõi Ấn Độ vẫn được làm nền kết hợp với sáng tạo dân tộc của nghệ nhân Đông Nam

Á Chẳng

Trang 2

hạn tượng và phù điêu vũ nữ Apsara ở Cam pu chia và Việt Nam cũng có nét khác nhau với những cách điệu mang tính dân tộc mình Phù điêu trên tháp Chăm ở Trà Kiệu tỉnh Quảng Nam Việt Nam không cứng cáp và nghiêm nghị như ở Cam pu chia , cặp vú Apsara không

to như ở Ấn Độ và các nước khác mà thon mềm , uyển chuyển , cân đối duyên dáng hơn

Ngôn ngữ và văn tự Pali và chữ Sanskrit ( chữ Phạn ) truyền bá cùng kinh Phật , kinh Bà la môn đã ảnh hưởng đến văn tự và ngôn ngữ ở Thái Lan , Miến điện , Cam pu chia , Lào Và điều đáng chú ý là văn học Ấn Độ cũng phổ biến và thâm nhập khá sân vào các nền văn học Đông Nam Á Cũng như các hiện tượng văn hóa khác , văn học Ấn

Độ cũng được bản địa hóa Chẳng hạn sử thi Ramayana , Mahabharatha đến đây được cải biên cho phù hợp bản sắc dân tộc và tính địa phương Ở Việt Nam , trong khu vực Văn hóa Chăm còn lưu giữ sử thi trường ca Ramayana viết bằng ngôn ngữ Chăm Truyện cổ tích Việt Nam

Dạ thoa vương trong cuốn Lĩnh Nam chích quái có ảnh hưởng của Ramayana , Thái lan

có truyện Ramakien , Lào có Pha lặc PhAllahm , Indonesia có Serl Rama , Philippines có Allm , Cam pu chia có Riêmkê xoay quanh đề tài xung đột thiện - ác và

bộ ba nhân vật : người con trai- người con gái - ác quỷ

Văn học Ấn Độ còn được truyền bá qua hình thức diễn xướng dân gian và sân khấu

Thế kỉ XI các vua chúa Cam pu chia rất thích nghe kể những mẩu chuyện lấy từ sử thi Mahabharatha , có những nghệ nhân chuyên đi kể chuyện Sử thi Ramayana được cải biên chuyển thể thành kịch , múa , vẽ minh họa trên các vách tường , vòm cung điện lâu đài

Ở Indonesia , có một nhà hát kịch múa rối tên Vayang chuyên biểu diễn các nội dung

của sử thi Ramayana và Mahabharatha

Nhiều truyện cổ của Ấn Độ được phổ biến và cải biên khi vào các nền văn học ở

Đông Nam Á

1 ĐẤT NƯỚC LÀO

Trang 3

( Nước Lào còn gọi là: Ai Lao, Vạn Tượng, Triệu Voi, Laos )

Nước Lào nằm sâu vào lục địa trong bán đảo Đông Dương , tiếp giáp với Việt Nam

Trung Quốc, Cam pu chia, Thái Lan và Miến Điện

Hơn 3/4 đất đai Lào là rừng núi Dãy núi Phu Luổng hùng vĩ ở phía Đông khởi nguồn cho một hệ thống sông suối chằng chịt phần lớn đổ về phía tây , rồi nhập vào sông Mé nậm khoỏng (tức Mekong) , chảy dọc theo hướng Bắc Nam trên đất Lào dài 1 500

km

Khí hậu Lào chia hai mùa rõ rệt Mùa khô kéo dài 7,8 tháng làm cho đất đai cằn cỗi cây cối kém phát triển Mùa mưa dài 4 , 5 tháng là lúc cây cối và muôn vật sinh sôi Đây

là thời vụ chính của nông nghiệp ( đồng ruộng lúa và nương rẫy

Dân số Lào gần ba triệu rưỡi người , sinh sống trong ba cộng đồng : Lào Thơng , Lào Lùm và Lào Xủng Ba cộng đồng này gồm hơn 60 dân tộc nhỏ sống xen kẽ với nhau chung lưng góp sức xây dựng đất nước và nền văn hóa đậm đà sắc thái Lào Dân tộc Lào Thơng nói ngữ hệ Môn- Khmer Họ là dân bản địa lâu đời nhất , sống bằng nương rẫy , săn bắt và hái lượm - chủ nhân của thời kỳ đồ đá

Dân tộc Lào Lùm nói ngữ hệ Lào - Thái sống chủ yếu ở đồng bằng sông suối , trồng lúa nước và chăn nuôi , là dân tộc đông nhất chủ yếu xây dựng nền văn hóa truyền thống Lào

Dân tộc Lào Xủng nói ngữ hệ Môn - Dao và Miến - Tạng từ phía tây nam Trung

Quốc di cư xuống Lào , sống ở vùng núi cao Bắc Lào , thường trồng thuốc phiện

Lịch sử Lào được ghi thành chính sử từ thế kỉ XIV khi xuất hiện nhà nước phong

kiến trung ương Lạn Xạng do vua Phạ Ngừm sáng lập năm 1353

Từ thế kỉ XIV đến XIX , chế độ phong kiến Lào trải qua 3 giai đoạn :

Trang 4

Giai đoạn xây dựng , củng cố nhà nước phong kiến trung ương ( XIV- XV )

Giai đoạn toàn thịnh ( XV- XVII )

Giai đoạn suy thoái và mất chủ quyền ( XVIII- XIX ) Phạ Ngừm là người sáng lập Vương quốc Lào Lạn Xạng , lên ngôi vua năm 1353 lúc 37

tuổi , đóng đô ở Luangphrabang , xây dựng đất nước thống nhất từ Thượng Lào đến Hạ Lào

Đó là một nhân vật kì lạ và phi thường xuất hiện trong lịch sử của một dân tộc yêu chuộng

hòa bình , yên ổn Vua đặt quan hệ bang giao với các nước lân cận trong đó có Đại Việt

Thế kỉ XVI quốc gia phong kiến Lào toàn thịnh , vua Xulinha Voongxả tranh ngôi

bá chủ với vua Miến Điện Năm 1533 dời thủ đô từ Luanphraban đến Vientiane(Viên chăn ) để tránh những cuộc tấn công bất ngờ của quân Miến , nơi này ở trung độ đất nước và

sẽ thích hợp chống xâm lược năm 1535 ,1540 và 1564 Thương nhân và giáo sĩ châu Âu ở kinh đô Vientiane lúc bấy giờ đã ca ngợi tài năng đúc độ của nhà vua Voongxả Năm 1690 vua qua đời , mước Lào suy thoái Giai cấp thống trị tranh giành quyền lợi địa vị Nhân

đó, triều đình Thái lan ( Xiêm) muốn thôn tính nước Lào Một anh hùng dân tộc tên Chậu Anụ bên ngoài thần phục Xiêm , và ngấm ngầm chuẩn bị khởi nghĩa giải phóng đất nước Năm 1825 vua Xiêm chết , quân Anh uy hiếp nước Xiêm ở phía Nam , tranh thủ thời cơ

, Chậu A nụ tấn công vào đất Thái

Khởi nghĩa thất bại , Chậu A nụ chạy sang lánh nạn ở Việt Nam Năm 1827 từ Nghệ

An , ông kéo quân trở về Lào tiếp tục khởi nghĩa Ông bị bọn quý tộc Lào ở Xiêng Khoảng phản bội bắt giao cho giặc xâm lược

Sau gần 100 năm bị xâm lược , đến hiệp ước Pháp - Xiêm kí ngày 3-10-1893 một

bộ phận đất Lào bên kia sông Mekong bị nhập vào đất Thái , phần còn lại là thuộc địa của thực dân Pháp

Nhiều cuộc khởi nghĩa của các dân tộc Lào nổ ra chống Pháp

Trang 5

Năm 1930, Đảng Cộng Sản Đông Dương tiền thân của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào ra đời đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc , tạo ra bước ngoặt lớn lao cho lịch sử nước Lào Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập và lãnh đạo Đảng cộng sản Đông Dương từ năm 1930

Năm 1945 phe phát xít bị đánh bại , nhân cơ hội thuận lợi , Đảng Cộng Sản Đông dương và đảng bộ Lào đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền ( cùng năm với Cách Mạng Tháng Tám ở Việt Nam ) Nước Lào tuyên bố độc lập ngày 12.10.1945 Bọn đế quốc Mỹ và Anh làm chỗ nấp cho bọn thực dân Pháp quay lại xâm lược cả ba nước Đông Dương Nhân dân Lào , Cam pu chia và Việt Nam lại đứng lên quyết tâm kháng chiến , kề vai sát cánh đánh đuổi thực dân Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc mình

Chủ tịch Suphanuvon tư lệnh tối cao Lào , lãnh đạo các lực lượng yêu nước chiến đấu trường kì kháng chiến chống Pháp rồi Mỹ suốt từ 1945 đến 1975 , sát cánh cùng nhân dân Việt Nam và Cam pu chia cực kì gian khổ , liên tiếp chiến thắng qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại Với truyền thống kiên cường chống ngoại xâm , lại được sự ủng hộ đoàn kết của nhân dân các nước Đông Dương và cộng đồng xã hội chủ nghĩa trên thế giới , năm

1975 nhân dân Lào đã giành lại chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Ngày 2 tháng 12 năm

1975 nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thành lập , tiến vào xây dựng chủ nghĩa xã hội

2- VÀI NÉT VĂN HÓA LÀO

Người Lào có những phong tục tập quán tốt đẹp hình thành từ truyền thống lâu đời lao động và bảo vệ tổ quốc qua mấy chục thế kỉ Họ tôn trọng , yêu thích sinh hoạt tập thể

Trang 6

mà trung tâm là bản làng , người Lào sống thẳng thắn cởi mở vị tha nhưng kiên quyết dũng

cảm và sẳn sàng xả thân vì cộng đồng

Cuộc sống bản làng tuy còn nghèo vật chất nhưng cuộc sống tinh thần ấm cúng , tươi vui Tháng nào cũng có lễ hội chùa náo nức với nhiều ngôi chùa Phật nổi tiếng Trung tâm của bản làng là các ngôi chùa thờ Phật , đồng thời là lớp học , thư viện và nơi giao lưu sinh hoạt Văn hóa văn nghệ dân gian khá phát triển Những công trình kiến trúc đặc sắc gắn liền lịch sử và tôn giáo

Đạo Bà la môn và đạo Phật thâm nhập vào Lào từ đầu công nguyên Đạo Phật được coi là quốc giáo , truyền bá rộng khắp , chính quyền phong kiến đề cao ,nhân dân kính cẩn Đạo Phật còn kéo theo và kích thích nghệ thuật , văn học , ngôn ngữ và văn tự cũng phát triển theo Đến thế kỉ 16 người Lào có chữ viết dần dần thay thế chữ Sanskrit vay mượn của Ấn Độ ghi kinh Phật Đạo Phật cũng sản sinh một đội ngũ trí thức , họ là tác giả dòng văn học viết với nguồn gốc Ấn Độ à Di sản văn hóa Lào còn những điều bí ẩn chưa lí giải được , chẳng hạn hàng trăm chum bằng đá ở tỉnh Xiêng Khoảng Nhà nghiên cứ giải thích rằng đó là những vò rượu khổng lồ của thời xưa mà tướng Khủn Chương làm để khao quân

Nhận định khác cho rằng đó là những ngôi mộ cổ bằng đá Hoặc có thể chỉ là chum vại chứa đựng lương thực Công trường đá bị bỏ dở à còn để lại dấu tích rõ rệt Di sản này chứng tỏ tài nghệ của thợ thuyền nghệ nhân Lào ngày xưa đạt độ tinh vi Ở Nam Lào có một công trình kiến trúc đá đồ sộ với kĩ thuật tinh xảo Hàng ngàn chùa tháp trên ba miền Thượng , Trung và Hạ Lào với những bức phù điêu , tranh tường các cỡ lớn nhỏ diễn tả các tích Phật , thần linh , phong cảnh thiên nhiên hiện thực và tưởng tượng Những bức tượng Phật ngồi nằm đứng các tư thế đủ cỡ Ở thủ đô có pho tượng Phật nằm dài hết năm gian chùa Những hiện vật cổ bằng đá đồng gỗ gắn liền với tôn giáo nhưng cũng phản ánh

sự phát triển văn hóa của dân tộc Lào trong quá khứ

3- VĂN CHƯƠNG DÂN GIAN LÀO

Hàng chục thế kỉ khi chưa có văn học viết , nhân dân Lào đã sáng tác nhiều văn chương dân gian trong cuộc sống lao động cần cù và đấu tranh bảo vệ đất nước Về sau , khi

đã có văn học viết thì những tác phẩm ấy vẫn bắt nguồn từ văn chương dân gian ( như các

Trang 7

truyện Thao Hùng , Xiêng Miệng , Khủn Bulôm

Truyện cổ Lào phản ánh sinh động cuộc sống dân Lào từ khi dựng nước trải qua

bao cuộc đấu tranh giai cấp và chống ngoại xâm từ xa xưa đến thế kỉ 20

Thơ ca dân gian Lào nhiều thể loại : câu đố (khăm thoải ) , câu hát ví giao duyên

( phạnhá) , tục ngữ ca dao (xúphaxit ) , dân ca ( lămkhắp ) và hò tập thể ( xợng )

Ngày nay nhân dân Lào cũng đang sưu tầm biên soạn chỉnh lí văn học dân gian của

dân tộc để khai thác phát huy giá trị trong việc xây dựng nền văn hóa mới

3.I- TRUYỆN CỔ

3.1.1 Truyện thần thoại

Nhân vật chính là các vị thần lập công tích tạo dựng thế giới vật chất và xã hội loài

người như Sinh đất đẻ nước , Punhơ - Nhanhơ Lại có những truyện không có bóng dáng thần linh như Nguồn gốc sinh ra đất Lào , Người Lào Nhìn chung đặc điểm

thần thoại Lào cũng giống như các dân tộc là : băn khoăn tìm hiểu nguồn gốc thế giới , diễn

tả mộc mạc giản đơn , trình độ tư duy hạn chế , điều cơ bản là khát vọng và ý thức vươn lên của dân tộc Các vị thần và anh hùng trong thần thoại ấy đều là các danh nhân văn hóa của dân tộc , trở nên bất tử

3.1.2 Truyền thuyết

Gồm hai nhóm

11

Trang 8

Nhóm thứ nhất : trình bày quá trình hình thành các nương ( bản làng )cổ đại , dần dần hình thành các tiểu vương quốc trước khi vương quốc ra đời

Đó là Khủa Bulôm , Vua Xkhốt Taboong , Chàng Chăn tha , Quả bầu

Nhóm thứ hai : các nhân vật lịch sử với phẩm chất cao đẹp chiến đấu bảo

vệ bản làng và những bi kịch lịch sử dân tộc nảy sinh trong quá trình liên hiệp các bộ tộc và sự bành trướng của bên ngoài Đó là Khủa Chương , Latxavoong

3.1.3 Truyện cổ tích

Khá phong phú , ngoài những truyện đã sưu tầm được phổ biến rộng khắp trong nước và dịch ra nước ngoài còn nhiều truyện vẫn lưu hành riêng ở mỗi địa phương và những tác phẩm chưa phát hiện được

Mặc dù truyện cổ Lào chịu ảnh hưởng sâu của truyện cổ Ấn Độ nhưng nội dung vẫn là bức tranh toàn cảnh của đất nước Lào qua các giai đoạn phát triển dân tộc Những cảnh thiên nhiên kì thú , hùng vĩ với người vật và xã hội Lào , những con người vươn lên chiến thắng số phận , nghèo hèn , chiến thắng kẽ thù địch , hiếu thào thủy chung với gia đình và làng bản

Truyện cổ Lào cũng như truyện cổ các dân tộc Đông Nam Á miêu tả và coi các ma quỉ yêu tinh là đại diện thế lực đen tối tàn bạo Chỉ có Trời là đại diện lẽ công bằng nhân ái Riêng truyện cổ Lào có ngoại lệ - nhân vật yêu quỷ đôi khi cũng có tình người ( Nàng Rùa Vàng , Kẻ mồ côi và con ma nhỏ ) Và đôi khi Trời và thần linh trở thành kẻ thù của con người ( Vợ chồng Phônxanga ) Lại có hai nhân vật đặc biệt là người khổng lồ và Kẻ mồ côi ( Tứckhức , Bảy Chum, Con

bò đỏ , Phuhay )

Trang 9

Nhìn chung truyện cổ Lào xoay quanh ba chủ đề :

Lao động sản xuất

Đấu tranh xã hội

Tình cảm và phẩm chất con người

3.2 Truyện cười

Truyện cười Lào là vũ khí sắc bén vạch trần bản chất xấu xa của giai cấp thống trị phong kiến và uốn nắn những thói xấu của con người lao động , đồng thời là phương tiện giải trí lành mạnh Nhân vật truyện cười đủ mọi tầng lớp giai cấp xã hội từ vua chúa , sư sãi , quan lãi đến dân quê chất phác Một tập truyện

cười nổi tiếng nhất hiện nay là Xiêng miểng (gần giống như Truyện Trạng Quỳnh của Việt Nam, Thơ mênh chây của Cam pu chia)

3.3 Truyện ngụ ngôn

Còn gọi là truyện loài vật, mang màu sắc Lào rõ nét nhưng chịu ảnh hưởng truyện ngụ

ngôn của Ấn Độ

3.4 Thơ ca dân gian

Xú pha xít

Giống như tục ngữ ca dao Việt Nam, tục ngữ Lào là những lời nói bóng bảy có nghĩa lí , dễ nhớ Hình thức câu chữ không qui định không cần gieo vần, được coi như châm ngôn triết lí Ví dụ :

Chín trước ương (Việt Nam : ăn cơm trước kẻng)

Trang 10

Thấy voi " ị " đừng " ị " theo

Rét vì gió , đắp chăn

rét vì mưa, sưởi lửa

rét vì lòng người , khó ở

Uốn lưng lên trời, cắm mặt xuống đất , cuối cùng mới có ăn

Muốn ăn cơm phải lao động

muốn ăn cá phải quăng chài

Chết làm ma hơn sống làm tôi mọi

Đừng rước giặc vào làng

Đừng bỏ hồng hoàng vào ruộng

Voi vào ruộng chẳng bằng quan vào bản

Lợn làm ruộng , chó ăn cơm

Không dũng cảm không cưỡi được voi có ngà

Đừng co mình như con sâu , quạ sẽ mổ

Lăm và Khắp

Là hai kiểu hát dân gian phổ biến trong những đêm hội , sinh hoạt tập thể , vui chơi , tình bạn gắn với âm nhạc Trước hết cần có bài lăm ( văn chương ) và

Ngày đăng: 28/07/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm