Những hạn chế về số lượng và hạn ngạch được thể hiện trong quy định của Chính phủ về các mặt hàng xuất nhập khẩu.. Các mặt hàng có liên đến cân đối của nền kinh tế quốc dân Chính phủ sẽ
Trang 1Bảng 4: Danh mục hàng hoá trong khuôn khổ CEPT của Việt Nam từ
1996-1998
Tổng số các nhóm hàng chịu thuế Danh mục hàng
Nguồn: Bộ tài chính và Ban thư ký ASEAN
Đến năm 2003, tổng các mặt hàng được đưa vào danh mục các mặt hàng cắt giảm ngay(IL) là 4230 dòng thuế, trong đó 2960 dòng có thuế suất 0-5% Dự kiến có khoảng 1940 dòng thuế thuộc danh mục loại trừ tạm thời được chuyển vào cắt giảm năm 2001-2003 để đến năm 2006 thuế suất nhập khẩu toàn bộ các dòng thuế thực hiện AFTA dúng theo cam kế 0-5%1
1.4 Các biện pháp phi thuế quan
ở nước ta, các biện pháp phi thuế quan bao gồm những biện pháp hạn chế
số lượng mặt hàng, hạn ngạch, giấy phép, các tiêu chuẩn kỹ thuật Những hạn chế về số lượng và hạn ngạch được thể hiện trong quy định của Chính phủ về các mặt hàng xuất nhập khẩu Trong đó những mặt hàng cấm xuất nhập khẩu là những mặt hàng để bảo đảm an ninh xã hội, sức khoẻ con người, bảo vệ nguồn tài nguyên quý hiểm và môi trường Các mặt hàng có liên đến cân đối của nền kinh tế quốc dân Chính phủ sẽ quy định khối lượng được phép nhập và phân bổ hạn mức nhập khẩu như: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng tiêu dùng không
được vượt quá 20% giá trị xuất hàng năm Ngoài ra, Chính phủ cũng đưa ra những nhóm hàng thuộc diện quản lý theo bộ chuyên ngành và những nhóm hàng quản lý bằng hạn ngạch Cho đến nay, Việt Nam chỉ áp dụng hạn ngạch đối với 2 nhóm hàng là gạo và dệt may xuất khẩu vào EU và Canada do đó năm
2001 sẽ là năm tất cả các hàng vào phi thuế quan phải được loại bỏ đối với các sản phẩm trong Danh mục này của Việt Nam
1
Nguồn: Trần Cao Thành- khu vực mậu dịch tự do Đông nam á, hội nhập của Việt Nam –Tạp chí Nghiên cứ
Đông Nam á 2/2003
Trang 2Vào đầu mỗi năm Việt Nam ban hành một thông tư hướng dẫn vào các hạn chế định hướng sẽ được áp dụng Tuy nhiên, Việt Nam đã sẵn sàng đệ trình một Danh mục chính thức về các hạn chế định lượng cho ban thư ký ASEAN Các hạn chế định lượng cần được loại bỏ ngay với một số các hàng hoá trong Danh mục giảm thuế ngay của Việt Nam đã đệ trình cho ASEAN vào năm 1995 để các mặt hàng này được hợp pháp hoá hưởng các ưu đãi theo CEPT
Còn về các hàng rào phi thuế quan khác, việc thực hiện cam kết bãi bỏ theo CEPT sẽ rất khó về tính bảo thủ, thiếu lành mạnh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, một bản thảo Danh sách các hàng rào phi thuế liên quan.Trong đó nhiều nhóm mặt hàng quan trọng với lịch trình cắt giảm mang tính chất bảo hộ có vẻ
đã làm chậm đi tiến trình thực hiện cam kết xoá bỏ hàng rào phi thuế quan theo CEPT Các hàng rào về tiêu chuẩn kỹ thuật về đảm bảo vệ sinh môi trường và sức khoẻ hiện nay vẫn đang được tiếp tục áp dụng cho các hàng hoá trong Danh mục giảm ngay
Việt Nam đã cam kết đệ trình sớm danh mục các hạn chế về số lượng(QRS) và các biện pháp phi thuế quan khác(NTBS) xong do các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam đơn giản chủ yếu là các biện pháp như : giấy phép hay hạn ngạch trong khi đó các biện pháp phi thuế quan mà các nước ASEAN khác đang áp dụng lại rất đa dạng đặc biệt là các biện pháp về tổ chức kỹ thuật và chất lượng
là những biên pháp phức tạp và tinh vi mà ở Việt Nam hiện nay chưa áp dụng, cho nên để đáp ứng được yêu cầu bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, trước mắt Việt Nam cần phải gấp rút ban hành bổ sung các biện pháp phi thuế quan tương
tự như các nước ASEAN đang áp dụng, nhất là các biện pháp mà trong tương lai
có thể không bị loại bỏ trước khi chúng ta đệ trình danh mục các biện pháp phi thuế quan của ta cho ASEAN và tiến hành loại bỏ chúng
1.5 Trong lĩnh vực hải quan
Việt Nam cũng đã hợp tác và đang đàm phán với các nước ASEAN trên một loạt các vấn đề như : điều hoà thống nhất danh mục biểu thuế quan, điều hoà thống nhất trị giá hải quan, điều hoà thống nhất quy trình thủ tục hải quan, lập luồng xanh để thông qua nhanh cho các sản phẩm của CEPT, đặc biệt là tiến lới hiệp định hải quan ASEAN sẽ ký kết
Trang 3
* Thống nhất biểu thuế quan
Việt Nam có nghĩa vụ xem xét lại hệ thống phân loại thuế quan của mình sao cho phù hợp với quy định của hiệp định hợp tác hải quan Theo đó các nước thành viên khối ASEAN sẽ sử dụng biểu thuế quan theo hệ thống điều hoà của hội đồng hợp tác hải quan hệ 8 chữ số Biểu thuế quan điều hoà ASEAN (AHTN) được hy vọng sẽ có khoảng 6400 nhóm mặt hàng khi ASEAN hoàn thành
Việc thống nhất Danh mục phân loại hàng hoá xuất nhập khẩu năm 1992 của Việt Nam (hệ 6 chữ số) với biểu 8 chữ số được bắt đầu từ năm 1995 và được thực hiện vào năm 1996 (như một phần của quá trình chuẩn bị để trở thành thành viên ASEAN, tham gia ASEAN Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khác biệt lớn giữa hệ thống phân loại thuế hiện nay của Việt Nam và biểu thuế quan điều hoà HS 8 chữ số Điều này là do việc phân loại một số mặt hàng của Việt Nam dựa trên việc sử dụng chứ không phải kiểu mặt hàng Trong những trường hợp này, cần có những ghi chú, giải thích đi kèm các mã số hải quan và những vấn đề của việc giải thích đã dẫn tới các thủ tục hành chính rườm rà và mâu thuẫn nhau
Theo các quan chức Chính phủ cho biết thì Việt Nam hiện đang làm việc trên cơ sở phân loại thuế quan được sưả đổi phù hợp với AHTN và dự định sẽ sớm đưa vào áp dụng
* Thống nhất hệ số tính giá hải quan
Việc tính giá hải quan (nghĩa là cách định giá trị hàng nhập khẩu của nước nhập) có 3 mục đích chính: Tính thuế nhập khẩu, thu nhập số liệu thống kê và quy định hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu Do vậy, để thực hiện được cải cách thuế quan trong khuôn khổ AFTA các quốc gia cần thống nhất hệ thống tính giá hải quan Hiện nay có 3 phương pháp tính giá hải quan được các nước ASEAN
áp dụng: gồm chính sách giá theo giá các giao dịch GATT (GATT Transactions Value - GTV) ,theo quy định giá Brussels (BDV), theo giá tiêu dùng trong nước (HCV)
Các quốc giá ASEAN đã đồng ý thực hiện việc định giá theo GVT vào năm
1997 và Việt Nam năm 2000
Trong khi đó, hiện nayViệt Nam đang áp dụng đồng thời phương pháp tính BDV, GTV và cả hệ thống giá tham khảo (bảng giá tối thiếu để tính thuế) cho
Trang 4một số nhóm hàng nhất định hệ thống giá tham khảo là giá tối thiểu sử dụng để tính trị giá thuế Việc chuyển sang hệ thống GTV là rất khó khăn đối với Việt Nam vì sự tồn tại các hoạt động gian lận thương mại quốc tế Tuy nhiên, nhận thức được tầm quan trọng của việc thống nhất cách tính giá hải quan, Việt Nam
đã xây dựng kế hoạch áp dụng GTV Hiện nay, Tổng cục Hải quan cũng đang trong quá trình nghiên cứu và đào tạo các nhân viên của mình về Hiệp định định giá GATT (GVT)
* Thống nhất thủ tục hải quan
Các quốc gia ASEAN gồm cả Việt Nam đã đồng ý áp dụng mẫu tờ khai hàng hoá ASEAN chung và bộ thủ tục hải quan chung dựa trên các tập quán quốc tế tốt nhất
ở nước ta do sự thiếu đồng nhất và việc sử dụng bảng giá tham khảo trong
định giá hải quan đã làm cho việc thống nhất các thủ tục hải quan trở nên rất khó khăn Việt Nam vẫn chưa áp dụng tờ khai hải quan chung ASEAN vì thiếu hệ thống mã số hoàn chỉnh trên toàn quốc và hệ thống quản lý thiếu hoàn thiện Do vậy, để áp dụng mẫu này, Việt Nam đã và đang cải thiện hệ thống đánh mã số,
đào tạo cán bộ hải quan và hệ thống mới và cải thiện hoạt động quản lý
* Tham gia xây dựng hệ thống luồng xanh hải quan
Việt Nam bắt đầu tham gia hệ thống luồng xanh hải quan vào ngày 01/01/1996 như các quốc gia ASEAN khác Mục tiêu hiện nay của Việt Nam là xem xét và rà soát lại việc thực hiện để tìm những cách thức cải thiện hệ thống Theo nguồn tin Chính phủ, trong năm 1996 chỉ có 100 giấy chứng nhận xuất xứ
được ban hành để tham gia hệ thống này Nguyên nhân chủ yếu là do khoản lợi chênh lệch giữa thuế suất thông thường và thuế suất CEPT rất nhỏ (ở Việt Nam hiện nay hai thuế suất này hầu như bằng nhau), không đủ để khuyến khích các nhà xuất nhập khẩu tham gia hệ thống này
* Thống nhất các tiêu chuẩn kỹ thuật
Bộ khoa học công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm quản lý các tiêu chuẩn đo lượng và quản lý chất lượng Cho đến nay, Việt Nam đã ban hành hơn
5000 tiêu chuẩn hiệu quả Việt Nam cũng đã thống nhất các biện pháp kỹ thuật
và áp dụng các chứng nhận tiêu chuẩn theo hướng và các tiêu chuẩn của tổ chức tiêu chuẩn thế giới (ISO) Việt Nam cũng đang trong tiến trình áp dụng những
Trang 5hướng dẫn của Uỷ ban cố vấn ASEAN về tiêu chuẩn và chất lượng (ACCSQ) Các điều luật quy định về tiêu chuẩn vệ sinh của Việt Nam đã được ban hành từ năm 1993
* Phụ phí hải quan
Các nước ASEAN quyết định các quốc gia thành viên ASEAN phải có lịch trình xoá bỏ các phụ phí hải quan vào cuối năm 1996 Việt Nam có 2 nhóm hàng phải chịu phụ phí hải quan là thép xây dựng nhập khẩu và hạt điều nhập khẩu Theo các quan chức Chính phủ, phụ phí này sẽ được loại bỏ trong tương lai
2 Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong quá trình thực hiện lộ trình AFTA-CEPT
2.1 Tình hình kim ngạch xuất khẩu từ 1986 đến nay
Chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu trong những năm qua của Việt Nam đã thu được những thành tựu đáng khích lệ Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm thời kỳ 1990-1999 đạt 20%, được xếp vào mức cao nhất thế giới (xấp xỉ Trung Quốc).Từ chỗ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nhập quốc dân (GDP) 24% năm 1991, đến nay xuất khẩu đã chiếm gần 50% (2002) Nếu như năm 1992 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt xấp xỉ 2tỷ USD thì đến năm 2002 đã đạt 16,5 tỷ USD, gấp gần 8 lần so với năm 1992 năm
2003 đạt khoảng 20 tỷ USD nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu trong 8 năm(1996-2003) đạt 17,5%/năm; gấp 2,5 lần so với tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP Hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các thị trường lớn trên thế giới như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, ASEAN
Có thể nói trong 18 năm đổi mới xuất khẩu của Việt Nam đã trở thành trụ cột của nền kinh tế và là động lực tăng trưởng kinh tế chủ yếu, xuất khẩu cũng góp phần vào việc giải quyết các vấn đề cấp bách của xã hội như : giải quyết công ăn viẹc làm, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy quá trình chuyển sang kinh tế thi trường
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với biến đổi của thị trường thế giới
Trang 6Bảng: Kim ngạch xuất khẩu qua các năm
Năm Xuất khẩu ( triệu USD) Tốc độ tăng (%)
Nguồn : Số liệu bộ Thương Mại
Bảng: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu theo nhóm hàng(%)
Hàng công nghiệp và khoáng sản 25,3 37,2 34,9 31,2 30,9 Hàng công nghiệp và tiểu thủ CN 28,5 33,9 35,7 38,3 40,0
Trang 72.2 Tình hình xuất khẩu theo mặt hàng
- Giai đoạn trước 1989 : Việt Nam chưa có dầu thô và gạo để xuất khẩu nên tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước chưa bao giờ vượt quá 1 tỷ USD Trong cơ cấu xuất khẩu chung hàng nông-lâm-hải sản có xu hướng giảm dần, hàng công nghiệp nặng và khoáng sản có xu hướng tăng dần, hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp không thay đôi Bắt đầu từ năm 1989, kim ngạch xuất khẩu của
ta đạt trên 1 tỷ USD do các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt hàng dầu thô, điều này làm tỷ trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản lại có chiều hướng tăng lên trong thời kỳ này từ 0,8% năm 1986 lên 15,6% năm 1990
- Giai đoạn 1991-1995: xu hướng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản vẫn tiếp tục tăng cao nhất là năm 1992 chiếm 37% kim ngạch xuất khẩu của nước, sau đó là sự lên ngôi của mặt hàng dệt may, chế biến hải sản và giày dép xuất khẩu Như vậy, kinh tế nước ta đang ở trong giai đoạn mở đầu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp , giai đoạn để nền công nghiệp khởi động bằng lợi thế về địa lý, về nhân lực làm cho nền kinh tế tăng trưởng theo hướng xuất khẩu
- Giai đoạn 1996-2000: Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam có sự thay
đổi tích cực xong sự chuyển dịch này vẫn còn chậm Năm 1996 cơ cấu mặt hàng nông lâm hải sản và công nghiệp nặng, khoáng sản chiếm 71,6% năm 2000 tỷ trọng này là 62,% Riêng đối với hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh năm 1997 nhưng có xu hướng trững lại ở năm 1998và 1999 Đến năm 2000 tỷ trọng này đạt tới 37,9% trong cơ cấu xuất khẩu của cả nước
Biểu đồ 1 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu theo nhóm hàng năm 2003
Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản
Hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Hàng
nông
lâm
sản
Hàng thuỷ sản
Trang 8Như vậy, trong thời kỳ đổi mới, đã hình thành một số mặt hàng chủ lực Năm 1991 đó là 4 mặt hàng: dầu thô, thuỷ hải sản, gạo, dệt may Năm 2000 có thêm 8 nặt hàng: cà phê, cao su, nhân điều, giầy dép, than đá, hàng điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ và rau quả, chúng sẽ là các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh của Việt Nam trong những năm tới
Năm 2001 cà fê và hạt tiêu vẫn giữ vị trí cao trên thế giới Gạo trở lại vị trí số hai thế giới sau Thái Lan, Dệt may tăng mạnh, năm 2001 chưa tới 2 tỷ USD, năm
2002 đạt 2,6 tỷ USD, năm 2003 đạt 3,6 tỷ USD Thuỷ sản đến tháng 10/2000 mới đạt 1 tỷ USD thì năm 2002 vượt 2 tỷ USD, năm 2003 dù gặp khó khăn vẫn
đạt 2,3 tỷ USD, trong đó xuất khẩu tôm vào Nhật dứng thứ nhì sau Indonexia
Bảng: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong những năm qua
Điện tử máy tính
Thời báo kinh tế Việt Nam 2003-2004
Trang 9Bảng: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu theo nhóm hàng(%)
Nguồn Thời báo kinh tế Việt Nam phần kinh tế năm 2003-2004
2.3 Tình hình xuất khẩu theo thị trường
Tính tới thời điểm năm 2000, Việt Nam có quan hệ Thương Mại với 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã ký hiệp định Thương Mại với 61 nước và đã có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc(MFN) với 72 nước
Một trong những thành tựu to lớn trong 18 năm qua là Việt Nam đã vượt qua
được cuộc khủng hoảng khi từ tưởng truyền thống không còn nũa, ,đảm bảo
được yêu cầu xuất khẩu hàng hoá.Thay vào thị trường liên xô -đông âu, châu á nay đã nhanh chóng trở thành thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam ,năm
1991 tỷ trọng của thị trường này chiếm 77% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong hai năm sau đó do khai thông thị trường Đông âu và Bắc mỹ, tỷ
Trang 10trọng của thị trường châu á có giảm xuống nhưng vẫn duy trì ở mức trên dưới 60%tổng kim ngạch xuất khẩu
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU nói riêng và châu âu nói chung tăng đều qua các năm Năm 1991 tỷ trọng xuất khẩu vào EU mới chiếm 5,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng đến năm 2000 đã là 21,7% Quan hệ thương mại với bắc mỹ, trong đó chủ yếu là mỹ đã có bước phát triển nhanh kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1995 Lúc đó kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 170 Triệu USD đến năm 2000 đã đạt 732,44 triệu USD, chiếm tỷ trọng 5,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước hơn hẳn con số 3,1% năm 1995 Triển vọng ở thị trường này rất lớn nhất là khi Việt Nam đã ký hiệp định Thương Mại với Mỹ và được hưởng quy chế quan hệ Thương Mại bình thường Xuất khẩu sang thị trường châu Đại Dương cũng được tăng lên khá nhanh, tỷ trọng của thị trường này từ chỗ chỉ chiếm 0,2% năm 1991 lêm 8,89% năm 2000
Bảng:Những bạn hàng lớn của Việt Nam 10 tháng năm 2003
Tên nước và vùng
Xuất siêu(+) nhập siêu(-)
Nguồn số liệu bộ Thương Mại-Thời báo kinh tế Việt Nam