Cơ cấu thành phần kinh tế theo giá trị sản xuất Đơn vị tính: % Công nghiệp, xây dựng Nông-ngư nghiệp Thương mại- dịch vụ Ngành Thành 1.Khu vực kinh tế Nhà nước.. Sản xuất nông - lâm - ng
Trang 1năm 2000 tăng lên 15%; trong nông nghiệp sản xuất thực phẩm (chăn nuôi, rau quả…) chiếm tỷ trọng 56% (tăng 5,5% so năm 1995)
Tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông - lâm - ngư nghiệp giai đoạn
1996 - 2000 ước đạt 5,7%, bằng 132,6% mục tiêu quy hoạch Hầu hết các sản phẩm chính của ngành đạt và vượt mục tiêu quy hoạch
Cơ cấu và tăng trưởng các ngành dịch vụ:
- Thương mại nội địa với mức tăng trưởng hang năm của tổng mứ bán
lẻ giai đoạn 1991 - 2000 bình quân là 39,0%, tỷ trọng thương mại trong GDP chiếm từ 8,5 - 8,7%
- Vận tải, thông tin liên lạch giữa mức 14 - 15% GDP chung
- Du lịch duy trì ở mức 2,5% GDP chung
Kim ngạch xuất nhập khẩu đến năm 2000 dự báo đạt 279,8 triệu USD, tốc độ tăng trưởng hang năm 13,9%
3 Các thành phần kinh tế ở Hải Phòng trong 10 năm qua đã có nhiều biến động, diễn biến theo xu hướng phát triển đa dạng các hình thức sở hữu phù hợp với đường lối đổi mới
Cơ cấu thành phần kinh tế (theo giá trị sản xuất)
Đơn vị tính: %
Công nghiệp, xây dựng
Nông-ngư
nghiệp
Thương mại- dịch vụ
Ngành
Thành
1.Khu vực kinh tế Nhà
nước
8.08 30.5 5.0 3.0 31.0 27.9
2 Khu vực kinh tế
ngoài Nhà nước
19.2 69.5 95.0 97.0 69.0 72.1
2.1 Trong nước 1902 20.4 95.0 97.0
2.2 Đâù tư nước ngoài 49.1
Trang 2Riêng trong khu vực nông thôn, do nông nghiệp chưa có thị trường ổn
định, sản xuất công nghiệp chưa vươn ra đầu tư vào khu vực nông thôn, thu nhâp dân cư đang ở mức thấp đã hạn chế quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp vẫn giữ vị trí chủ yếu, chiếm tỷ trọng 56 - 60% về GDP với trên 70% lực lượng lao động ở nông thôn; các ngành phi nông nghiệp như công nghiệp nhỏ, thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng 40%, song do thiếu vốn và trình độ công nghệ, thiết bị đang ở trình độ thấp nên sự phát triển không ổn định
4 Văn hoá và các vấn đề xã hội
10 năm qua, công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình đã được tăng cường về vật chất kỹ thuật, phương thức hoạt động với công tác truyền thông dân số đến tận xã phường, tỷ lệ sinh giảm đáng kể từ 2,57% năm
1990, còn 1,48% năm 2000
+ Chương trình giải quyết việc làm: Đén nay thành phố đã xâyd ựng
được 7 trường đào tạo nghề, 9 trung tâm dạy nghề và 3 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh phổ thông trung học ở các Quận, huyện và có
20 cơ sở đào tạo nghề ngắn hạn đã tranh thủ được sự hỗ trợ của tổ chức SEARAC để đào tạo nghề cho người nghèo và người hồi hương; trung bình hàng năm có trên 40000 lượt người tham gia học nghề ở các trung tâm và trường dạy nghề của thành phố, Quận huyện Hàng năm trong thời kỳ 1996
- 2000 có 1,75 vạn lao động được đào tạo, đảm bảo tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 25% và hàng năm có trên 3 vạn lao động được giải quyết việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 8,1% (năm 1996) còn 8,2% (năm 2000) và nâng cao thời gian sử dụng lao động ở nông thôn
+ Thành phố đã triển khai thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở: đến năm 1999 có 8/12 Quận, huyện, thị xã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở, số còn lại sẽ hoàn thành vào năm 2000
+ Hệ thống giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp: đã có 4 trường đại học xây dựng và nâng cấp: trường Đại học Hàng Hải, trường Đại học Y, trường Đại học Sư Phạm và trường Đại học Dân lập; đến nay thành phố có 9 trường trung học chuyên nghiệp thuộc các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản, hàng hải, y tế, thể dục thể thao đang hoạt động có hiệu quả Sự tăng cường đầu tư trong lĩnh vực dạy nghề, giáo dục đại học
Trang 3đã tạo ra những tiền đề để Hải Phòng trở thành một trung tâm đào tạo nguồn lực của vùng duyên hải Bắc Bộ
+ Các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao được tổ chức rộng rãi đến xã, phường với nội dung phong phú hướng vào việc phát huy tính dân tộc truyền thống của địa phương, với sự tham gia của cộng đonòg vào các phong trào thể dục toàn dân, xây dựng các làng văn hoá, các hội thi hướng vào các chủ đề gia đình - xã hội, nếp sống và ứng xử văn minh + Các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là phát thanh, truyền hình, báo chí từng bước được nâng cấp, số hộ dân cư được xem truyền hình
đạt 87%
+ Cho đến nay thành phố có 24 bệnh viện (tuyến thành phố có 8 bệnh viện; Quận, huyện, thị xã 14 bệnh viện, 1 bệnh viện hải quân, 1 bệnh viện
Bộ giao thông vận tải), 27phòng khám khu vực, 10 trung tâm chuyên khoa
và y tế công cộng, 170 trạm y tế xã Trong thời gian qua, các bệnh viện đầu ngành và một số trung tâm y tế của thành phố đã được đầu tư nâng cấp, cơ
sở khám chữa bệnh được bổ sung, đến nay 2000 số giường bệnh trên 1 vạn
đạt 22,1 giường dự báo năm 2000 đạt 23 giường; số bác sỹ trên 1 vạn dân 5,8 bác sỹ (sơ với năm 1996 tăng 0,3 bác sỹ)
III Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2014
1 Mục tiêu tổng quát
Xây dựng "Hải Phòng trở thành thành phố cảng văn minh, hiện đại, một số trung tâm đô thị cấp quốc gia, cửa chính ra biển, trung tâm công nghiệp, du lịch - dịch vụ, tuỷ sản ở miền bắc, có kinh tế, văn hoá, giáo dục
- Đào tạo, khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng - an ninh vững chắc, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân"
2 Mục tiêu cụ thể:
- Tốc độ phát triển kinh tế của thành phố bằng khoảng 1,5 lần so với tốc độ phát triển chung của cả nước Đưa tỷ trọng GDP so với cả nước của Hải Phòng khoảng 2,9% năm 2000 lên 3,3 - 3,5% năm 2005 và 4,0% vào năm 2014 và GDP gấp 2,7 lần - 2,8 lần năm 2000
- Nền kinh tế tăng trưởng bình quân hàng năm ở mức cao 10 - 11% thời kỳ 2001 - 2005 và 11 - 11,5% thời kỳ 2006 - 201
Trang 4- Nều kinh tế thể hiện cơ cấu xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu 2000
ước đạt 279,8 triệu USD; năm 2005 đạt khoảng 670 triệu USD; năm 2014đạt 1300 - 1600 triệu USD
- Tỷ lệ thu ngân sách từ GDP tăng từ 27,5% hiện nay lên khoảng 30% năm 2005 và 32% vào năm 2014
- Quá trình phát triển kinh tế đảm bảo phát triển ổn định các vấn đề xã hội, tạo tiền đề vững chắc về an ninh - quốc phòng
- Năm 2005 nền kinh tế bảo đảm 92,5% lao động có nhu cầu làm việc
và đến năm 2014 tỷ lệ này là 95%
- Quá trình đô thị hoá diễn ra manh mẽ Tỷ trọng dân số đô thị trong dân số chung tăng từ 34,4% hiện lên 50,8% vào năm 2014
- Cơ cấu kinh tế thành phố có sự chuyển dịch cơ bản:
+ Sản xuất nông nghiệp theo hướng đầu tư chiều sâu tạo nhiều sản phẩm hàng hoá Tăng nhanh công nghiệp và các ngành dịch vụ Tỷ trọng GDP nông, lâm nghiệp trong tổng GDP từ 17,8% năm 2000 giảm xuống 14,0% năm 2005 và 8 - 10% 2014
+ Tỷ trọng GDP công nghiệp tăng từ 33,6% năm 2000 lên 49% năm
2005 và 51 - 52% vào năm 2014
3 Những nhiệm vụ cơ bản trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2014
3.1 Phát triển kinh tế đối ngoại
Đổi mới có chế, chnsh sách nhằm tiếp tục tạo môi trường thuận lịư để thu hút nguồn lực trong nước và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại,
đặc biệt là các hoạt động hợp tác đầu tư quốc tế nhằm thu hút có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiến bộ của nước ngoài
để cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xuất khẩu
3.2 Xây dựng kết cấu hạ tầng
Năm trong vùng tăng trưởng, Hải Phòng cần tiếp tục được sự hỗ trợ của trung ương để phát triển kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hợp tác quốc tế nói riêng
- Với xu thế diễn biến của môi trường địa chất cửa sông Bạch Đằng, cảng Hải Phòng có điều kiện tồng tại lâu dài Trong vài thập kỷ tới, có thể xác định chưa có cảng biển nào ở phía bắc có được các điều kiện hậu cần
Trang 5tốt như cảng Hải Phòng Các tuyến nối Hải Phòng với các khu vực trong nội
địa sẽ được hoàn chỉnh (đường 5 nâng câp hoàn chỉnh thành đường cấp 1 vào năm 2000, đường 10 được nâng cấp cùng với việc xây dựng cầu Bính, Tiên Cựu, Quý Cao, Tân Đệ Hệ thống giao thông đường sông được nạo vét chỉnh trị) Khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, đặc biệt hàng hoá có giá trị cao, của Bắc Bộ qua cảng Hải Phòng sẽ được tăng nhanh
Cảng được hiện đại hoá - container hoá, luồng lạch được chỉnh trị để tầu 1 vạn tấn ra vào thuận lợi, nhằm đạt công suất 10 - 12 triệu tấn vào năm
2005 và 15 - 18 triệu tấn vào năm 2014.Nghiên cứu xây dựng cảng nước sâu, cảng chuyên dùng cho du lịch nội địa và quốc tế
- Tập trung đầu tư chiều sâu và mở rộng cụm cảng sông Vật Cách gắn với nâng cấp các tuyến đường sông của vùng bắc bộc nối với cảng biển
- Hệ thống đường sắt được đầu tư nâng cấp thành đường đôi
- Nâng cấp sân bay Cát bi thành sân bay quốc tế Cùng với các quan
hệ đối ngoại được mở rộng, mở thêm các tuyến bay quốc tế đến các nước trong khu vực
- Nâng cấp các tuyến đường thành phố, trước mắt là tuyến Hải Phòng
- Đồ Sơn (đường 14) ngã 5 - sân bay Cát Bi; hồ Sưn - Cầu Rào 2; tuyến
đường liên huyện Kiến Thuỵ - An Lão gắn với đường 10 và đường 14
- Xây dựng hoà chỉnh mạng cấp, thoát nước, cấp điện, hệ thống
đường giao thông đô thị các khu công nghiệp và ở các khu vực nông thôn
đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và nâng cao điều kiện sống cảu dân cư
- Hiện đại hoá hệ thống thông tin liên lạc
- Đầu tư xây dựng hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng trên đảo Cát
Bà, Cát Hải, Bạch Long Vĩ về giao thông, bao gồm hệ thống đường nội bộ, bến cảng, sân bay lên thẳng (ở Cát Bà, Bạch Long Vĩ), mạng lưới cấp điện, thông tin liên lạc, phục vụ công cuộc phát triển kinh tế đảo nâng cao đời sống nhân dân và làm tốt công tác an ninh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển
3.3 Đầu tư trọng điểm tạo sản phẩm mũi nhọn
Những khâu được chọn đầu tư trọng điểm là:
* Trong sản xuất công nghiệp: