Trong giao dịch thử thông qua thương mại điện tử 33% số doanh nghiệp tham gia là doanh nghiệp vừa và nhỏ, 55% chưa thành công , 58% găp khó khăn về thiết bị, khoảng 40% thiếu nguồn nhân
Trang 1Cho tới nay Việt Nam có 3 nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet là VDC, FPT, Vietel; nhưng chỉ có công ty VDC đã và đang cung cấp dịch vụ này Còn về nhà cung cấp dịch vụ Internet thì có 13 công ty nhưng chỉ có 6 công ty đang cung cấp dịch vụ :
Công ty điện toán và truyền số liệu VDC, (http://home.vnn.vn)
Công ty đầu tư phát triển công nghệ FPT, (http://www.fpt.vn)
Công ty cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn SPT,
(http://www.saigonnet.vn)
Công ty NetNam – viện công nghệ thông tin IOIT,
(http://www.netnam.vn)
Công ty điện tử Viễn thông quân đội Vietel
Công ty Việt Khang
Ngoài ra, còn có 7 công ty đã được cấp phép từ đầu năm 2003 là công ty Viễn thông Điện lực (ETC), công ty cổ phần công nghệ mạng (QTNet), công ty Hà nội Telecom, công ty Điện tử hoá chất Quân đội (Elinco), công ty One
Connection, Công ty điện tử thông tin Sài Gòn (SEI) và công ty đầu tư phát triển công nghệ (TDI) vẫn chưa khai triển dịch vụ
Hiện nay thị phần cung cấp dịch vụ Internet ở Việt Nam vẫn thuộc về hai nhà cung cấp chính là VDC và FPT, trong đó VDC chiếm khoảng 59.39% và FPT khoảng 29.34% Phần còn lại thuộc về Netnam là 5.56% à SaiGonnet là 5.68%
59.39%
5.68%
29.34%
5.56%
VDC Saigonnet FPT
Netnam
Trang 2Cước truy cập Internet của Việt Nam (chưa bao gồm VAT)
Dịch vụ VNN 1260 (Đơn vị tính: Đồng /phút)
Thời gian Từ 7h đến 19h trong
ngày(trừ ngày lễ, thứ
7, CN)
Từ sau 19h đến 24h hàng ngày và từ 7h đến 19h ngày lễ, thứ 7, CN
Từ 0h đến 7h trong ngày và từ sau 19h đến 7h sáng ngày hôm sau, đối với các ngày lễ, thứ 7, CN
Dịch vụ VNN 1269(Đơn vị tính: Đồng /phút)
Thời gian sử dụng
trong tháng
Đến 10h Từ 10h đến
20h
Từ trên 20h đến 30h
Từ trên 30h đến 50h
Trên 50h
Hai là, công nghiệp phần mềm Việt Nam hiện đang tăng trưởng với tốc độ thấp, 13% năm (bằng ½ tốc độ của giai đoạn 1996 -2001) và mất cân đối nghiêm trọng: Phần cứng chiếm tỷ lệ gấp 4 lần phần mềm và dịch vụ Số chuyên viên tham gia ngành công nghiệp phần mềm hiện chỉ khoảng 20.000 chuyên gia
Ba là, nguồn nhân lực còn rất mỏng về cả số lượng đến chất lượng
Bốn là, cơ sở hạ tầng pháp lý còn thiếu và chưa đồng bộ: chúng ta còn đang chuẩn bị xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạt động thương mại điện tử, vì vậy chưa có cơ sở để công nhận các hoạt động thương mại điện tử về mặt pháp lý
Năm là, hệ thống thanh toán điện tử chưa được hình thành đầy đủ và phổ cập rộng rãi Nhìn chung các ngân hàng trong nước mới đang trong quá trình phấn đấu để chuyển đổi từ mô hình hoạt động cũ sang mô hình ngân hàng hiện đại để có thể phục vụ hoạt động thương mại điện tử Thêm vào đó, thẻ tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt chưa trở thành thói quen của đa số doanh nghiệp và dân chúng
Sáu là, chỉ mới có3% tổng số doanh nghiệp trong cả nước( khoảng hơn 4000 doanh nghiệp) có Website riêng, khoảng 8% bắt đầu nghiên cứu sử dụng Internet, gần 90% số doanh nghiệp đang “đứng ngoài cuộc” Trong giao dịch thử thông qua thương mại điện tử 33% số doanh nghiệp tham gia là doanh nghiệp vừa và nhỏ, 55% chưa thành công , 58% găp khó khăn về thiết bị, khoảng 40% thiếu nguồn nhân lực
Trang 3Trong số các doanh nghiệp này, các doanh nghiệp sản xuất chiếm khoảng 20%, doanh nghiệp thương mại và dịch vụ chiếm khoảng 55.8% và các doanh nghiệp vừa sản xuất vừa kinh doanh chiếm khoảng 21.7%:
Cơ cấu các doanh nghiệp trong điều tra
20%
55.80%
21.70%
Sản xuất
Thương mại-dịch vụ
Cả hai
Loại hình doanh nghiệp
Bảy là, các nhân tố khác như hạn chế về trình độ ngoại ngữ trong nhân dân và lề lối làm việc, cũng như cách mua bán hàng hoá nói riêng, vẫn còn theo tập quán cũ( giao dịch vẫn trên giấy tờ, hợp đồng phải có văn bản gốc, mua hàng hoá phải trông thấy, sờ vào hàng hoá, nếm thử, mặc thử, đi thử, trả tiền mặt, đếm tiền mặt….) nghĩa là khác biệt một cách căn bản so với khái niệm thương mại điện tử và nhìn chung, đều là những thói quen không thể nhanh chóng thay đổi, cũng là những nguyên nhân cơ bản hạn chế ứng dụng và phát triển thương mại điện tử
Tám là, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam còn rất hạn chế, nhất là trong việc khai thác và sử dụng các công cụ trên Internet trong sản xuất kinh doanh như diễn giả Nguyễn Văn Thảo – phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết: “Doanh nghiệp Việt Nam chưa nhận thức được vai trò của công nghệ thông tin trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, đầu tư công nghệ thông tin ở các doanh nghiệp chưa đồng bộ, hiệu quả; Một số doanh nghiệp đã ý thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin với hoạt động kinh doanh nhưng chưa tìm được hướng tiếp cận hiệu quả…”
Trang 4Nhìn chung, ở nước ta hiện nay đã có áp dụng thương mại điện tử, nhưng mới chỉ dừng lại ở con số công đoạn như trao đổi thông tin về hàng hoá, dịch vụ mua bán lẻ… mà chưa thực hiện đầy đủ các quy trình thương mại trong thương mại điện tử Một số loạt vấn đề về hạ tầng cơ sở liên quan đến thương mại điện tử như pháp lý, công nghệ, trong đó có công nghệ bảo mật, an ninh an toàn, tiêu chuẩn hoá công nghiệp và thương mại, thanh toán điện tử, bảo vệ người tiêu dùng … vẫn đang trong quá trình nghiên cứu đề xuất xây dựng, đòi hỏi phải có sự quan tâm và đầu tư lớn của Nhà nước và các ngành các cấp, cùng với sự hợp tác của cả khu vực tư nhân, mới có thể nhanh chóng giải quyết được
Như vậy, việc ứng dụng thương mại điện tử phù hợp trong điều kiện Việt Nam sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong việc tiếp cận với nền kinh tế tri thức và các công nghệ mới Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, đây là thời điểm cần thiết để bắt đầu chuẩn bị kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử vì không chỉ thị trường xuất khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn do thiếu thông tin và kém giao tiếp với thị trường thế giới mà thị trường trong nước cũng rất dễ bị mất khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ trong khu vực ASEAN mấy năm tới và làn sóng toàn cầu hoá ngày càng trở nên mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới
Trang 5
DOANH
NGHIỆP
Chương 3 MÔ HÌNH ỨNG DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA VIỆT NAM
3.1 Mô hình tổng quát ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp
Các quá trình trong doanh nghiệp đều có khả năng thay đổi để ứng dụng
thương mại điện tử Ví du như: Cải thiện doanh số bán hàng bằng cách thêm các hình ảnh đa phương tiện vào các trang Web và đưa ra nhiều thông tin chi tiết hơn về các website; hoăc thiết kế một trang web và dịch vụ thư điện tử để thu thập thông tin của từng khách hàng; hoặc thiết lập Internet như là mộ kênh bán hàng mới, bằng cách sử dụng một Catalog điện tử và các mẫu đặt hàng; hoặc sử dụng Internet như một phương tiện truyền thông để thực hiện các đơn mua hàng đối với các nhà cung cấp Cách này có thể giảm được chi phí trực tiếp cho việc kinh doanh
Như vậy, ta thấy rằng các mô hình phổ biến trên Internet đều bao gồm các đối tượng và các quá trình như hình vẽ :
Các quá trình
1 Quá trình chia sẻ thông tin 4 Quá trình giao hàng
3 Quá trình thanh toán
Trong mô hình này Hệ thống thương mại điện tử chính là một hệ thống các chương trình ứng dụng được cài đặt trên các máy chủ Internet, cho phép các doanh nghiệp và khách hàng có thể tương tác gián tiếp với nhau thông qua các
KHÁCH HÀNG Hệ thống
thương mại điện tử
Trang 6trình duyệt trên các máy trạm Hệ thống này có khả năng thực hiện các chức năng của 5 quá trình trên
3.2 Giải pháp hệ thống mua bán hàng trên mạng Internet VNeshop
(http://ecommerce.com.vn/ecommerce)
Trong những năm gần đây, với sự bùng nổ của Internet, thương mại điện tử cũng đã phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới Tại các nước phát triển như Mỹ, Canada, EU thương mại điện tử đã được áp dụng rất rộng rãi và mang lại nhiều lợi ích cho cả người sử dụng cũng như các nhà cung cấp
Đề án trình bày mô hình hệ thống, quy trình làm việc, thiết kế hệ thống và kết quả cài đặt thử nghiệm hệ thống mua bán hàng qua mạng Internet –
VNeshop Hiện nay hệ thống đang được triển khai tại Trung tâm thông tin Bộ
Thương mại (http://ecommerce.com.vn/ecommerce)
Tổng quan
Thương mại điện tử chính là việc sử dụng Internet trợ giúp cho công việc kinh doanh Các ứng dụng kinh doanh trên Internet được chia làm 4 mức độ khác nhau:
+ Brochureware: Quảng cáo trên Internet
+ eCommerce: Thương mại điện tử
+ eBusiness: Kinh doanh điện tử
+ eEnterprise: Doanh nghiệp điện tử
Theo nghĩa đơn giản, hệ thống thương mại điện tử là các ứng dụng cho phép trao đổi giữa người mua và người bán, hỗ trợ khách hàng và quản lý cơ sở dữ liệu khách hàng hoàn toàn trên mạng
Trang 7Hệ thống thương mại điện tử có thể được xây dựng theo các mô hình:
(B2B)
(B2C ) (G2B)
(C2G)
+ Doanh nghiệp – Người tiêu dùng (Business to Consumer – B2C): mua
bán giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp, mô hình thường được áp dụng trong các siêu thị, các site bán lẻ hàng;
+ Doanh nghiệp – Doanh nghiệp (Business to Business –B2B): mua bán
giữa các tổ chức hay doanh nghiệp (bán buôn);
+ Chính quyền – Doanh nghiệp ( Government to Business –G2B): Chính
quyền mua các dịch vụ của doanh nghiệp;
+ Người tiêu dùng – Chính quyền (Consumer to Government – C2G):
phúc lợi xã hội, các khoản thu về thuế, chất lượng sản phẩm
Hệ thống mua bán hàng qua mạng VNeshop
Hệ thống VNeshop được thiết kế và xây dựng theo mô hình B2C – Doanh nghiệp –- Người tiêu dùng Việc xây dựng hệ thống bao gồm các công việc xây dựng hệ thống thực hiện việc đăng ký, giới thiệu, quảng bá các hàng hoá sản phẩm của doanh nghiệp, quản lý việc kinh doanh hàng hoá và thực hiện mua bán hàng hoá sản phẩm
Người tiêu dùng
Doanh nghiệp
Chính quyền
Trang 8(Thông báo về thanh toán giao hàng)
(Đơn hàng, yêu cầu, dữ liệu) (Tìm kiếm,
chọn hàng,
mua hàng,
hỏi thông tin)
(Thông tin xác nhận đơn hàng, cách thức giao hàng, cập nhật)
Trao đổi thêm các thông tin khác
Máy tính khách
* Hệ thống
(Mô hình hệ thống mua bán hàng qua mạng)
Trung tâm thông tin Bộ thương mại (Trung tâm) đóng vai trò trung tâm giao dịch Tại đây sẽ xây dựng một Website mua bán hàng hoá Các doanh nghiệp sẽ cung cấp danh mục hàng, thông tin về doanh nghiệp, cùng các thông tin liên quan Thông qua Website khách hàng sẽ tìm kiếm, chọn hàng, đặt mua hàng các thông tin này sẽ được kiểm tra và xây dựng thành các đơn hàng và được chuyển về cho các siêu thị tương ứng Khi nhận được đơn hàng Trung tâm gửi đến, các siêu thị sẽ kiểm tra và gửi lại thông tin xác nhận đơn hàng cùng cách thức thanh toán và giao hàng cho Trung tâm, sau đó, Trung tâm sẽ gửi các thông tin này về cho khách hàng Trong công việc thanh toán, người sử dụng có thể lựa chọn hình thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc qua ngân hàng Trong trường hợp thanh toán bằng tiền mặt, khách hàng có thể thanh toán tại nhà hay thông qua một văn phòng đại diện Trong trường hợp thanh toán qua ngân hàng, hệ thống sẽ liên kết đến hệ thống thanh toán qua mạng của ngân hàng Công
thương Việt Nam
Mô hình giúp cho nhiều doanh nghiệp có thể nhanh chóng tham gia vào hệ thống thương mại điện tử với chi phí thấp Khi một doanh nghiệp muốn tham gia vào hệ thống chỉ cần đăng ký thông qua Bộ thương mại Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc trao đổi, cập nhật thông tin lên hệ thống có thể được thông qua thư điện tử hay kết nối modem qua đường điện thoại thông thường Đối với
Máy chủ tại Trung tâm thông tin Bộ Thương mại
Máy chủ của doanh nghiệp (siêu thị)
Trang 9người sử dụng, đây là mô hình giao dịch một cửa, mô hình giúp người sử dụng có nhiều thông tin và điều kiện so sánh, lựa chọn, đặt hàng tại nhiều công ty trong cùng một giao dịch điều này rất thuận tiện cho khách hàng khi mua hàng của nhiều doanh nghiệp, (khách hàng không phải thực hiện riêng từng giao
dịch(lập đơn hàng, thanh toán, nhận hàng ) với từng doanh nghiệp
Giải pháp công nghệ
Hệ thống được thiết kế theo các giải pháp công nghệ sau:
- Phông chữ: theo TCVN 6909 – 2001, hỗ trợ các bộ mã theo tiêu chuẩn Unicode
- Hệ điều hành máy chủ: Windows 2000 Server
- Hệ quản trị cơ sở dữ liệu: MS SQL Server 2000
- Công cụ phát triển: ASP.net, C#
- Khả năng mở rộng tốt
- Tích hợp hệ thống thanh toán của ngân hàng( Vasc Payment)
- Bảo mật dữ liệu trong đường truyền:
+ Dữ liệu đường truyền được mã hoá bởi SSL (Secure Socket Layer) 128 bit
Do đó dữ liệu không bị thay đổi trên đường truyền
+ Người sử dụng đầu cuối (End users) đều làm việc với giao thức siêu văn bản có bảo vệ https
Các chức năng cơ bản của hệ thống
Cấu trúc hệ thống được biểu diễn trong hình vẽ sau:
Hệ thống được thiết kế theo các chức năng cơ bản:
- Trang Web cho phép doanh nghiệp thông qua đó để nhập thông tin về các loại hàng hoá sản phẩm mà họ muốn đăng ký giới thiệu và thực hiện kinh doanh
Home
Category Introduce
Products
Admin
Manager Order
Input Product
Trang 10- Cập nhật thông tin về các sản phẩm, hàng hoá và cơ sở dữ liệu của hệ thống khi doanh nghiệp có yêu cầu sửa đổi, thêm thông tin mới về hàng hoá
- Quản lý hàng: quản lý các loại hàng hoá, sản phẩm xuất đi của doanh
nghiệp, lưu trữ các thông tin cụ thể mô tả các thuộc tính (hình ảnh, tên model,
công dụng, các chi tiết kĩ thuật, thời gian sản xuất, hãng sản xuất ) , số lượng
hiện có, số lượng đã bán các model của từng loại hàng hoá, các thông tin thời
gian xuất, thông tin của hãng sản xuất hàng
- Quản lý thông tin của các phiên giao dịch đã thực hiện như đơn hàng,
tên, địa chỉ khách hàng, nơi giao nhận, thời gian đặt hàng, thời gian xuất hàng
- Quản lý thông tin của các phiên giao dịch đang thực hiện phục vụ việc theo dõi về tình hình các phiên giao dịch đang được thực hiện như số tiền mà khách hàng trả trước, số lượng hàng hoá đã giao nhận, thời gian dự kiến kết
thúc giao dịch, có đánh giá tiến độ thực hiện
- Quản lý giá cả kinh doanh: quản lý các thông tin về giá bán ra của từng
loại hàng hoá theo thời gian
- Xây dựng chức năng quản lý khách hàng
- Xây dựng trang Web giới thiệu, quảng cáo các loại sản phẩm hàng hoá, đưa các mộ tả chi tiết về các thuộc tính của các model của từng loại hàng hoá,
giá cả tính theo loại tiền mà khách hàng lựa chọn
- Tìm kiếm hàng hoá theo một hoặc nhiều mô tả thuộc tính hàng hoá như
tên hàng, tên hãng sản xuất, giá cả Liệt kê hiển thị kết quả tìm kiếm
- Tạo lập giỏ mua hàng: chức năng cho phép khách hàng chọn và quản lý
các hàng hoá mà khách hàng đã chọn
- Tạo lập hoá đơn đặt hàng: tạo hoá đơn đặt hàng, tính giá thành của đơn
hàng
- Cho phép khách hàng theo dõi quá trình thực hiện đơn hàng
- Thanh toán và giao hàng:
+ Thanh toán trực tiếp hoặc kết hợp với Ngân hàng thanh toán qua ngân hàng
+ Phương thức giao hàng: tuỳ thuộc điều kiện cụ thể mà thông báo giao hàng tại nhà hay tại từng cửa hàng
- Có khả năng liên kết tới các Website riêng của từng doanh nghiệp