1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp : Thực trạng tiến trình cổ phần hóa và chủ trương cùa nền kinh tế thị trường hiện nay phần 4 docx

6 247 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 90,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, nền kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng DNNN vẫn đứng vững, vượt qua nhiều thử thách góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát t

Trang 1

những hiểu biết cần thiết về công ty cổ phần do đó còn do dự, chưa thực sự ủng

hộ và tham gia tích cực vào các công ty cổ phần nên đã gây ra những lãng phí

đáng tiếc về nguồn lực, làm chậm tiến trình cổ phần hóa Tỷ lệ bán cổ phần trong xã hội còn thấp và chưa thành quy định bắt buộc, cổ phần hóa còn mang tính nội bộ Toàn bộ quá trình cổ phần hóa không được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thiếu những quy định bắt buộc phải công bố công khai từng bước cổ phần hóa, nhất là đối với các doanh nghiệp có nhiều lợi thế kinh doanh Bên cạnh đó pháp luật còn khống chế tỷ lệ tối đa được mua

cổ phần, đối với cá nhân là không quá5-10%, đối với pháp nhân không quá 10-20% Đây chính là những hạn chế trong việc mua cổ phần của người lao động lẫn các cá nhân các tổ chức kinh tế, xã hội muốn đầu tư vào doanh nghiệp

2.6 Những hạn chế, trì trệ từ phía các doanh nghiệp, nhiều giám đốc

doanh nghiệp Nhà nước tìm cách né tránh, trì kéo cổ phần hóa vì sợ mất những

đặc quyền , đặc lợi đang có Nhiều công nhân không muốn cổ phần hóa vì nhiều rủi ro và dễ mất việc làm Nhiều doanh nghiệp Nhà nước tuy đã được chỉ định cổ phần hóa nhưng đang rối bời bởi nợi phải trả, nợ khó đòi, kĩ thuật công nghệ lạc hậu, trình độ tổ chức quản lí còn nhiều yếu kém nên chưa thể tiến hành cổ phần hóa được ngay Các quy định về chế độ trách nhiệm cổ phần hóa còn nhiều bất cập PGS.TS Hồ TrọngViên-những vấn đề đặt ra từ thực tiễn cổ phần hóa DNNN

Với tư cách là hình thức chuyến đổi sở hữu DNNN chủ yếu, việc cổ phần hóa chậm đã ảnh hưởng đáng kể đến quá trình sắp xếp lai DNNN ở nước ta, ảnh hưởng không nhỏ tới những chỉ tiêu chung của nền kinh tế

V) Mục tiêu của cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam

Trong hơn 10 năm qua Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, nền kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng DNNN vẫn đứng vững, vượt qua nhiều thử thách góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, thể hiện là đầu tàu trong nền kinh tế quốc dân đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, chuyển sang thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Sau hơn 10 năm thực hiện thì cổ phần hóa DNNN được coi là hình thức chuyển

đổi sở hữu chủ yếu, tính tất yếu của nó thể hiện ở lí luận, thực tiễn cũng như những kết quả khả quan mà giải pháp này đem lại, và trong nhiều năm tới thì giải pháp này vẫn là lựa chọn hàng đầu của nước ta Nếu đặt giải pháp này trong bối cảnh hiện nay sẻ càng thấy rõ hơn tính cấp bách của nó Sự cần thiết

Trang 2

phải đẩy mạnh hơn nữa cổ phần hóa DNNN bắt nguồn từ những nguyên nhân chính sau:

Do nền kinh tế nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng kém phát triển nên

áp lực cải cách DNNN trở nên nặng nề hơn, căn cứ vào tỷ lệ nghèo đói và các chỉ số phát triển khác thì nước ta vẫn nằm trong danh sách các quốc gia chậm phát triển Theo báo cáo phát triển thế giới thì Việt Nam đang nằm trong số các nước có thu nhập thấp với tổng thu nhấp quốc dân là 34,9 tỷ USD và bình quân đầu người là 430 USD

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế bao trùm chi phối toàn bộ sự phát triển kinh tế –xã hội của mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay không chỉ đơn thuần giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan mà đã được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực liên quan đén chính sách kinh tế thương mại, nhằm mục đích mở cửa thị trường cho hàng hóa và dịch vụ, laọi bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối với trao đổi thương mại đương nhiên đối với những nước đang phát triển, kinh

tế còn yếu kém, doanh nghiệp còn nhỏ bé, sức cạnh tranh còn thấp, trình độ quản lí Nhà nước và kinh doanh còn hạn chế thì hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ có cơ hội mà còn có cả khó khăn thử thách, thậm chí khó khăn là rất lớn Đối với nước ta hiện nay vấn đề đặt ra hiện nay không phải là hội nhập hay không hội nhập mà là làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả,

đảm bảo lợi ích dân tộc, nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh tế Báo cáo chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã nhấn mạnh quan điểm: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực,

đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, đảm bảo tính độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc và văn hóa dân tộc,bảo vệ môi trườn sinh thái” Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và hàng hóa là một trong những nội dung quan trọng nhất để hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001_2010 tuy nhiên hạn chế lớn nhất của nền kinh

tế nước ta nói chung cũng như các doanh nghiệp nói riêng là sức cạnh tranh còn yếu kém, chậm được cải thiện Sức cạnh tranh và năng lực quản lí doanh nghiệp còn yếu và theo lộ trình thì chúng ta đang chủ trương xúc tiến để có thể gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2005 Như vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh để tồn tại, cạnh tranh ngay chính trị trường nội địa và cả ở thị trường quốc tế Và thực tế đó đã đặt ra yêu cầu là DNNN cần được tiếp tục sắp xếp đổi mới để nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh, thực sự là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 3

Tiến độ cổ phần hóa trong những năm vừa qua tuy có những bước phát triển song so với yêu cầu đổi mới thì nó vẫn chưa đáp ứng được Trong giai đoạn tới

Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đẩy mạnh hơn nữa cải cách DNNN thông qua cổ phần hóa Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng khóa IX đã nhấn

mạnh: “ tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực

DNNN, trọng tâm là cổ phần hóa mạnh hơn nữa ”, “ đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, mở rộng diện các DNNN cần cổ phần hóa, kể cả một số tổng công

ty và doanh nghiệp lớn trong các nghành như điện lực, luyện kim, cơ khí, hóa chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, dường sông, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm”

Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN đã chỉ rõ mục

tiêu 10 năm 2001-2010 là “ sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả và

sức cạnh tranh của DNNN để DNNN góp phần quan trọng bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Mục tiêu cổ phần hóa DNNN là nhằm; Tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh Tạo động lực mạnh mẻ và cơ chế quản lí năng động, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp; Bảo đảm hài hòa lợi ích của các đối tượng từ người lao động, doanh nghiệp cho đến Nhà nước Cổ phần hóa trong thời gian qua chủ yếu diễn ra đối với các DNNN có quy mô nhỏ, không có tác động lớn tới cơ cầu vốn, đầu tư cũng như vị thế của các DNNN trong nền kinh tế Vấn đề không chỉ bổ sung

đối tượng cổ phần hóa mà cần mạnh dạn tiến hành cổ phần hóa các DNNN lớn, các tổng công ty mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, không cần nắm giữ cổ phần chi phối để cổ phần hóa các tổng công ty cần vạch rõ cách thức tiến hành, việc cổ phần hóa toàn bộ tổng công ty phải dần dần từng bước một, không nóng vội chủ quan, gắn liền với quá trình tổ chức lại tổng công ty theo mô hình công ty mẹ-công ty con và tập đoàn kinh tế Nên áp dụng các hình thức cổ phần hóa, chuyển sang công ty TNHH một thành viên hoặc sát nhập thành đơn vị hạch toán phụ thuộc tổng công ty; Đối với các liên doanh đã hình thành từ trước khi cổ phần hóa thì tùy theo cơ cấu vốn sở hữu của tổng công ty mà trở thành công ty con hoặc công ty liên kết

Trang 4

Bên cạnh đó cần thị trường hóa giá trị tài sản DNNN thực hiện cổ phần hóa để

từ đó có cái nhìn khách quan hơn về doanh nghiệp, về các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp từ đó đưa ra những giải pháp đổi mới doanh nghiệp có hiệu quả hơn

Khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ trong doanh nghiệp,

mở rộng đối tượng mua cổ phần sao cho cổ phần hóa trở thành một chủ trương mang tính xã hội, đại chúng sâu rộng, thu hút được sự ủng hộ và tham gia nhiệt tình của người dân

Đưa ra các biện pháp xử kí kiên quyết đối với các doanh nghiệp làm ăn thua

lỗ, khắc phục tình trạng độc quyền không cần thiết của một số DNNN,Xóa bỏ

sự bảo hộ bất hợp lí và tình trạng bao cấp như khoanh nợ, giảm nợ, xóa nợ, bù

lỗ, ưu đãi về vay vốn, tín dụng, bù lỗ đối với các DNNN Để từ đó tạo môi trường kinh doanh lành mạnh bình đẳng, tạo nền tảng cơ sở cho sự phát triển

ổn định và bền vững của nền kinh tế quốc dân

Việc đẩy mạnh cải cách DNNN thông qua hình thức cổ phần hóa đã được Chính phủ xác định theo một lộ trình cụ thể

Cho đến nay đã có 104 đề án tổng thể về sắp xếp đổi mới DNNN giai đoạn 2002-2005 Trong tổng số 4.722 DNNN hiện có sẻ tiến hành sắp xếp lại 2.791 doanh nghiệp; Nhà nước sẻ nắm giữ cổ phần chi phối ở 1.042 DNNN và nắm giữ cổ phần ở 1.011 doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần, 738 DNNN khác

được giải thể, phá sản, cho thuê, khoán kinh doanh Còn lại 1.931 DNNN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn sẻ tập trung vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công ích, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực độc quyền, các tổng công ty lớn và các doanh nghiệp lớn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Doanh nghiệp Nhà nước sẻ tập trung vào những nghành, lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, tham gia hoạt động vào những nghành, lĩnh vực mà các khu

Trang 5

vực kinh tế khác không muốn tham gia hoạt động hoặc không đủ điều kiện để hoạt động Qui mô của DNNN sẻ được cải thiện, 100% DNNN có quy mô vừa

và nhỏ với vốn bình quân là 71,55 tỷ đồng tăng gấp 3,1 lần so với thời điểm 2001; Với những mục tiêu đã đề ra thì cổ phần hóa DNNN đã và đang trở thành một hình thức phổ biến, chủ yếu để tiến hành sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNN thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung

ương Đảng khóa IX, hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai

đoạn2001-2010

VI) Giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam

Trong những năm tiếp theo, đặc biệt là nhiệm vụ hai năm 2004-2005 Chính phủ đã xác định cổ phần hóa DNNN là nhiệm vụ trọng tâm cần được triển khai nghiêm túc và đồng bộ, đồng thời coi cổ phần hóa là khâu quan trọng, là hình thức chủ yếu tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN Qua hơn 10 năm thực hiện quá trình cổ phần hóa các DNNN đã

đạt được một số thành công đáng khích lệ, nhiều DNNN đã đứng vững, bắt đầu

ổn định và phát triển Mặc dù đã có nhiều đổi mới quan trọng, nhiều bước tiến

đáng kể trong nhiều lĩnh vực nhưng cho đến nay thì hệ thống DNNN vẫn còn gặp nhiều khó khăn; Tiến trình cổ phần hóa quá chậm so với chỉ tiêu, kế hoạch

đã đề ra, nhiều DNNN sau khi cổ phần hóa đã vấp phải những trở ngại, khó khăn lớn ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực tiễn đòi hỏi phải đưa ra những giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tốc

độ cổ phần hóa cũng như giải quyết kịp thời những vướng mắc của các doanh nghiệp sau cổ phần Sau đây là một số giải pháp chính :

1.Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chế độ chính sách để thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN

Về đối tượng và hình thức cổ phần hóa sẻ mở rộng ra toàn tổng công ty Nhà nước và hầu hết các nghành các lĩnh vực quan trọng mà trước đây Nhà nước vẫn nắm độc quyền như ngân hàng, luyện kim, hóa chất, bưu chính-viễn thông, điện lực Để cổ phần hóa tổng công ty thì trước hết cần làm rỏ cách thức tiến hành Tổng công ty là tập hợp các doanh nghiệp hạch toán độc lập và phụ thuộc, trong khi đối tượng cổ phần hóa từ trước đến nay là các DNNN độc lập, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty hoặc một đơn vị bộ phận của doanh nghiệp độc lập Vì thế cần phải tiến hành cổ phần hóa dần dần từng bước một và nên theo một trình tự nhất định Sau khi tổ chức lại và chuyển đổi các thành viên hạch toán độc lập mới tiến hành cổ phần hóa tổng công ty hay công ty mẹ Hình thức cổ phần hóa sẻ vẫn giữ nguyên nhưng có bổ sung thêm

Trang 6

những qui định để tăng cường tính hiệu quả cho hoạt động sản xuất, kinh doanh ở các doanh nghiệp có quy mô lớn và các tổng công ty

Thực hiện cơ chế đấu thầu giá trị tài sản DNNN khi cổ phần hóa thay cho định giá bằng hội đồng Nếu sử dụng phương pháp định giá thì cần sử dụng các tổ chức tài chính trung gian, cần tiến hành định giá doanh nghiệp theo giá thị trường nhằm hạn chế bớt những thất thoát không đáng có cũng như hạn chế bớt sự can thiệp của các cơ quan hành chính Nhà nước, nâng cao tính minh bạch, công khai và tinh thần trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

Khắc phục những bất cập trong việc xây dựng và phê duyệt phương án

cổ phần hóa và đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, cần xây dựng một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp trong một môi trường kinh doanh lành mạnh

đảm bảo sau khi cổ phần hóa các công ty cổ phần vẫn có các quyền lợi bình

đẳng như các doanh nghiệp chưa cổ phần Nhà nước cần ban hành quy chế về

tổ chức quản lí các DNNN sau khi cổ phần hóa cho phù hợp với luật công ty Thực hiện việc thi tuyển, cử tuyển theo chế độ hợp đồng lao động để chọn các thành viên lảnh đạo công ty thay cho việc bổ nhiệm của cơ quan chủ quản như

đối với DNNN trước đó

Không hạn chế mức mua cổ phần lần đầu của mọi đối tượng trong các DNNN thực hiện cổ phần hóa, ưu tiên đối với các đối tượng là người lao động trong doanh nghiệp, khuyến khích các nhà đầu tư có tiềm năng về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lí Đây là một giải pháp hết sức quan trọng để tạo ra những chuyển biến thực sự trong các doanh nghiệp sau cổ phần hóa

Mở rộng việc bán cổ phần của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản cho người sản xuất và cung cấp nguyên liệu; Nhằm tạo nên sự liên minh vững chắc giữa doanh nghiệp và người cung cấp nguyên liệu, bảo đảm sự vận hành liên tục phát huy hiệu quả của máy móc trang thiết bị ngoài ra cần tuyên truyền sâu rộng chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp và có cơ chế khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để thu hút những nhà đầu tư chiến lược

2 Mở rộng đề cao các biện pháp kinh tế, hạn chế thu hẹp các biện pháp hành chính trong thực hiện cổ phần hóa DNNN Công khai minh bạch về tài chính sao cho các cổ đông thấy được mình thật sự là người chủ về sở hữu, phân phối, quản lí mọi hoạt động của công ty, cổ đông được biết, được bàn, được làm vì lợi ích của công ty nói chung cũng như lợi ích của chính mình nói riêng

Vấn đề quan trọng hiện nay là phải giảm yếu tố hành chính và tăng yếu

tố thị trường trong công tác định giá và bán cổ phần Vì vậy cần đưa thêm các yếu tố thị trường vào trong các quy định về quá trình cổ phần hóa như: thực

Ngày đăng: 28/07/2014, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức  2003  2004  2005  Tổng - Luận văn tốt nghiệp : Thực trạng tiến trình cổ phần hóa và chủ trương cùa nền kinh tế thị trường hiện nay phần 4 docx
Hình th ức 2003 2004 2005 Tổng (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w