1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008

40 1,7K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 876,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI *** *** BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ Tên đề tài : Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

*** ***

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài :

Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của

giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường

tại thành phố Hà nội năm 2008

Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Thị Thanh Xuân

Hà Nội tháng 5 năm 2010

Trang 2

Danh mục các từ viết tắt

BN Bệnh nhân CTHĐ Cận thị học đường

GV Giáo viên

HĐ Học đường HSTH Học sinh tiểu học

TH Tiểu học THCS Trung học cơ sở NXB Nhà xuất bản

Trang 3

MỤC LỤC

I Đặt vấn đề 1

II Tổng quan 4

1.1 Khái niệm, hiểu biết về cận thị học đường: [1,7,10,12,14] 4

1.2 Tình hình nghiên cứu cận thị học đường trong và ngoài nước: 6

III Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 10

2.1 Địa điểm nghiên cứu: 10

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 11

2.3 Phương pháp nghiên cứu : 11

2.4 Xử lý và phân tích số liệu: 15

2.5 Thời gian nghiên cứu: 15

2.6 Đạo đức nghiên cứu: 15

IV Kết quả nghiên cứu 16

3.1 Kiến thức về phòng bệnh cận thị học đường của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008: 16

3.2 Thái độ về phòng bệnh cận thị học đường của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008: 20

3.3 Thực hành về phòng bệnh cận thị học đường của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008: 21

V Bàn luận 22

VI Kết luận 28

6.1 Kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên 4 trường tiểu học về phòng bệnh CTHĐ tại thành phố Hà nội năm 2008 28

6.2 Thái độ của giáo viên 4 trường tiểu học về phòng bệnh CTHĐ tại thành phố Hà nội năm 2008 28

6.3 Thực hành của giáo viên 4 trường tiểu học về phòng bệnh CTHĐ tại thành phố Hà nội năm 2008 28

VII Khuyến nghị 29 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Sơ đồ cây vấn đề

Trang 4

I Đặt vấn đề

Cận thị học đường (CTHĐ) là một trong những bệnh trường học, có liên quan đến quá trình học tập ở tuổi học sinh Bệnh dễ phát sinh trong quá trình học tập và có tác động xấu đến sức khoẻ trước mắt cũng như lâu dài của học sinh, làm giảm sút kết quả học tập, gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày, ảnh hưởng đến thẩm mỹ, kinh tế (tốn tiền mua kính, đi khám mắt thường xuyên, mua thuốc…) và có thể gây mù loà

Ngày nay, tỷ lệ cận thị đang có xu hướng gia tăng trong các cấp học phổ thông Tại Hà nội, có lớp học tới 50% học sinh phải đeo kính [1] Có những em không biết mình bị cận thị nên không đeo kính [10] Theo một số nghiên cứu, tỷ lệ cận thị tăng dần theo cấp học, thấp nhất ở tiểu học (TH) và cao nhất ở trung học cơ sở (THCS) [10] Tuy nhiên, tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học (HSTH) đã gia tăng nhanh nhất trong vòng 1965-2000 (tăng gấp 5,5 lần) [10] Trong nghiên cứu tại bệnh viện mắt trung ương năm 2006: nhóm tuổi bắt đầu mắc cận thị cao nhất ở HSTH, chiếm 55,5% tổng số bệnh nhân Cũng theo nghiên cứu này, tuổi bắt đầu mắc cận thị trung bình là 10,01[6] Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng cần có những biện pháp can thiệp để phòng chống bệnh cận thị cho học sinh, đặc biệt là ở cấp tiểu học

Nguyên nhân của thực trạng này là do môi trường học tập không đảm bảo: điều kiện học tập ở trường không đầy đủ (bàn ghế không đúng quy cách, độ chiếu sáng không phù hợp, vật phẩm học tập không đủ tiêu chuẩn ), quá trình học tập ở nhà không đảm bảo vệ sinh (không có thời gian biểu hợp lý giữa học và giải lao, học thêm quá nhiều môn, nhiều giờ ), sự sinh hoạt và vui chơi không hợp lý (thức quá khuya, chơi điện tử, xem ti vi nhiều, lười vận động ) Bên cạnh đó còn do thói quen không hợp vệ sinh (nằm đọc sách, đọc sách trong chỗ tối, xem truyện tranh chữ nhỏ ) cũng

Trang 5

như sự nhận thức, quan tâm chưa đúng, chưa đầy đủ của học sinh và các bậc phụ huynh về nguyên nhân, tác hại của cận thị gây ra Không những thế, sự phát triển của xã hội cùng với sự đô thị hoá kéo theo nhiều yếu tố bất lợi như

là thu hẹp diện tích không gian sống, diện tích vui chơi góp phần làm gia tăng nguy cơ mắc cận thị của học sinh Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới thực trạng cận thị ở học sinh phổ thông gia tăng chính là kiến thức, thái độ

và thực hành của giáo viên về phòng chống cận thị Trong suốt quá trình học tập từ lớp 1 đến lớp 12, các em phải học trên 1 vạn giờ ở trong lớp học và người thường xuyên tiếp xúc với các em nhất chính là giáo viên Đặc biệt là cấp tiểu học, cấp học đầu tiên, các em còn nhỏ, rất hiếu động và chưa ý thức được những thói quen tốt - không tốt nên rất cần được sự hướng dẫn của các thầy cô giáo Những gì các em tiếp thu được ở đây sẽ là nền tảng để hình thành những thói quen, hành vi có lợi cần thiết cho sự phát triển sau này

Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề cận thị ở học sinh Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào đối tượng học sinh hoặc cán

bộ y tế trường học, cũng như các mối liên quan với yếu tố học đường và biện pháp can thiệp mà ít có nghiên cứu nào tập trung vào đối tượng giáo viên, đặc biệt là giáo viên tiểu học, đối tượng có ảnh hưởng lớn đến vấn đề cận thị học đường Vì vậy, câu hỏi đặt ra là các thầy cô giáo biết gì, có thái

độ và thực hành như thế nào về phòng chống bệnh cận thị ở học sinh? Chính

vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này với các mục tiêu sau:

• Mục tiêu chung:

Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại một số trường tiểu học ở nội và ngoại thành tại thành phố Hà nội năm 2008

• Mục tiêu cụ thể:

Trang 6

1 Mô tả kiến thức phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008

2 Mô tả thái độ phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008

3 Mô tả thực hành phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008

Trên cơ sở kết quả thu được sẽ đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh CTHĐ

Trang 7

II Tổng quan

1.1 Khái niệm, hiểu biết về cận thị học đường: [1,7,10,12,14]

1.1.1 Định nghĩa:

Cận thị học đường là một trong những bệnh trường học, có liên quan đến

quá trình học tập ở tuổi học sinh

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa trên khi đánh giá sự

hiểu biết của giáo viên về khái niệm cận thị học đường là gì

1.1.2 Cơ chế:

Ở mắt cận thị, hình ảnh tạo thành trước võng mạc nên mắt chỉ nhìn rõ

những vật ở gần mà không thấy rõ vật ở xa

- Nguyên nhân của cận thị thông thường là do sự sai lạc phát triển

xảy ra ở thời kỳ phôi thai và thời kỳ phát triển tích cực

- Những rối loạn dẫn đến những bất thường của những thành phần

cấu tạo khúc xạ nhãn cầu như: Độ cong giác mạc, độ sâu tiền

phòng, độ cong, chỉ số khúc xạ của thể thuỷ tinh và trục trước sau

của nhãn cầu

- Do di truyền (cận thị bẩm sinh và cận thị nặng)

Trang 8

1.1.2.2 Mắc phải:

Đối với lứa tuổi học sinh, các yếu tố từ trường học không hợp vệ sinh

có thể dẫn đến bệnh cận thị học đường Cụ thể:

- Thiếu ánh sáng trong quá trình học tập (chiếu sáng tự nhiên và

nhân tạo) vì vậy mắt của học sinh phải điều tiết nhiều trong quá trình lâu dài dẫn tới trục trước sau của mắt bị kéo dài, làm cho hình ảnh của vật không hiện ở trên võng mạc mà lại hiện lên ở phía trước võng mạc

- Bàn ghế không hợp quy cách vệ sinh: Bàn cao, ghế thấp (làm

cho khoảng cách giữa mắt và vở quá gần, nên mắt phải điều tiết nhiều) hoặc bàn thấp ghế cao (học sinh phải cúi xuống để viết làm cho máu dồn vào hố mắt nhiều làm cho áp lực trong hố mắt tăng lên, đẩy thuỷ tinh thể phồng ra phía trước)

- Thói quen học tập không hợp vệ sinh như học lúc bầu trời còn

thiếu ánh sáng (như lúc bình minh hoặc hoàng hôn), nằm để học, vừa đi vừa đọc sách, kích thước chữ quá bé… đều làm cho mắt phải điều tiết liên tục, lâu dần sẽ đưa đến cận thị

- Tư thế sai khi học như cúi gần, nhìn gần, nằm, quỳ ôn bài ở nhà

làm cho khoảng cách giữa mắt và vở quá gần nhau khiến cho mắt phải điều tiết nhiều, lâu dần sẽ đưa đến cận thị

- Các yếu tố bất lợi khác như: nhìn gần liên tục, đọc sách, truyện

nhiều, sử dụng máy vi tính, chơi điện tử quá mức do đó mắt phải điều tiết nhiều, gây mệt mỏi cho mắt

- Yếu tố thể trạng: gày yếu, hay ốm đau, sức khỏe không tốt cũng

ảnh hưởng và có thể làm cho dễ bị cận thị cũng như làm cho cận thị nặng thêm

Trang 9

1.1.3 Tác hại:

- Ảnh hưởng đến quá trình học tập vì nhìn không rõ chữ và hình

vẽ ở trên bảng (do không đeo kính) dẫn đến kết quả học tập bị giảm sút

- Ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày, thường là chậm chạp và dễ

gây ra các tai nạn

- Ảnh hưởng tới lựa chọn ngành nghề: Một số ngành nghề không

sử dụng những người mắt kém như lái xe

- Ảnh hưởng tới sức khỏe (gây đau đầu, nhức mắt…) Biến chứng

nguy hiểm nhất của cận thị là bong võng mạc gây ra mù

Ngoài ra cận thị còn gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ và kinh tế (tốn tiền mua kính, đi khám mắt thường xuyên, mua thuốc…)

1.2 Tình hình nghiên cứu cận thị học đường trong và ngoài nước:

1.2.1 Tình hình cận thị trường học ở một số quốc gia trên thế giới:

Từ lâu trên thế giới, con người đã quan tâm đến cận thị và nghiên cứu về nó Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới về cận thị học đường chủ yếu tập trung vào hai đối tượng là học sinh và giáo viên Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giáo viên là đối tượng có ảnh hưởng lớn đến vấn đề phòng chống cận thị ở học sinh [15, 24]

Ngay từ rất sớm, năm 1912 W.H.Bates đã có nghiên cứu và thử nghiệm về

sự phòng tránh cận thị của giáo viên, nghiên cứu được tiến hành ở các trường học công ở New York từ 1912- 1913 với sự tham gia của 121 giáo viên và 5700 học sinh Kết quả cho thấy: 31% học sinh có sự cải thiện thị lực Nghiên cứu này cũng cho kết luận: giáo viên phòng chống được cận thị cho học sinh [15]

Năm 1995 Turacli M.E và cộng sự điều tra ở các vùng khác nhau ở Ankara

23810 học sinh ở 39 nhà trẻ và trường tiểu học Trong đó có 10 trường tư

Trang 10

thục, 11 trường trung bình, 7 trường tốt và 11 trường ở nông thôn, kết quả cho thấy tỷ lệ cận thị trong học sinh ở tuổi nhà trẻ và tiểu học là 3,53% [21] Morgan K.S; Kenemer J.C (Mỹ 1997) điều tra 14075 trẻ em, tuổi nhà trẻ và học sinh từ lớp 1 đến lớp 4 của 70 trường thuộc 5 bang phía Tây nam nước

Mỹ Kết quả cận thị trong trẻ em ở lứa tuổi này là 4,5% [22]

Kali Kivayi và cộng sự điều tra 40029 trẻ tuổi từ 3-18 ở 9 trường thuộc vùng Nam Ấn Độ thông báo tình hình cận thị là 8,16% Tỷ lệ cận thị cao hơn một cách có ý nghĩa ở trẻ lớn hơn hoặc bằng 10 tuổi [23]

Trong khi dân cư sống ở các quốc gia tại quần đảo Solomon, tỷ lệ cận thị chỉ sấp sỉ 1%, thì cận thị ở các nước thuộc Châu Á lại khá phổ biến [20] Cuộc điều tra về cận thị ở học sinh trên phạm vi toàn lãnh thổ Đài Loan vào năm

2000, với 10889 học sinh tuổi từ 7 đến 18, bao gồm 5664 học sinh nam và

5225 học sinh nữ, đã cho kết quả: Tỷ lệ cận thị là 7% ở 7 tuổi, 61% ở 12 tuổi, 81% ở 15 tuổi, và 84% ở tuổi từ 16 đến 18 Sự phổ biến và mức độ nặng của cận thị tăng lên so với điều tra trước đó vào năm 1995 Sự tăng mức độ nặng nhất diễn ra ở các nhóm có lứa tuổi trẻ hơn, vì vậy, ngăn chặn

sự phát triển của cận thị ở nhóm tuổi trẻ có thể làm giảm mức độ nặng của cận thị ở Đài Loan [16] Tỷ lệ cận thị cao ở Trung Quốc, Nhật Bản nhưng cao nhất ở Đài Loan và Singapore [18,19]

Năm 2006, nhóm tác giả Trung Quốc nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của các giáo viên tiểu học và trung học cơ sở về phòng chống bệnh cận thị Nghiên cứu được tiến thành trên 1411 giáo viên ở Thượng Hải,

đã cho kết luận: tỷ lệ giáo viên có kiến thức đúng về phòng chống cận thị thấp hơn 75% 40,2% giáo viên có thể sửa các thói quen không đúng của học sinh khi đọc và viết 80,9% giáo viên cho rằng hướng dẫn phòng tránh CTHĐ là cần thiết 61,7% cho rằng có thể phòng chống được cận thị nhưng chỉ có 45,8% giáo viên muốn tham gia vào các hoạt động liên quan đến

Trang 11

phòng tránh cận thị Tỷ lệ giáo viên TH có kiến thức, thái độ và thực hành

về phòng tránh CTHĐ cao nhất, thấp nhất là giáo viên THCS [24]

1.2.2 Tình hình cận thị ở Việt nam:

Ở nước ta mạng lưới y tế học đường, chăm sóc sức khoẻ cho học sinh, phòng chống các bệnh trường học như cận thị đã được nhà nước quan tâm

và giao nhiệm vụ đó cho ngành Y tế và ngành Giáo dục Cho đến nay có một

số nghiên cứu trong nước về tỷ lệ cận thị ở học sinh Các nghiên cứu đã chỉ

ra rằng tỷ lệ cận thị ở học sinh đang có xu hướng gia tăng (tăng gấp 5-6 lần giai đoạn từ 1960-2003) và tỷ lệ học sinh mắc vấn đề này tăng dần theo cấp học và ở học sinh nội thành cao hơn nhiều so với học sinh ngoại thành Tuy nhiên tuổi bắt đầu mắc cận thị ở học sinh tiểu học lại ngày càng cao, có xu hướng gia tăng [8]

Theo điều tra của Hà Huy Khôi (1960), tỷ lệ học sinh Hà nội bị cận thị là 4% [6] Theo Ngô Như Hoà (1964) và Đoàn Cao Minh (1975) thì tỷ lệ cận thị trong học sinh là 4,2% [6,9] Theo Trần Văn Dần và Phạm Năng Cường (1980) thì học sinh trung học Hà nội có tỷ lệ cận thị từ 7-8% [6]

Theo Trần Văn Dần (1998) tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học là 9,6%, trung học cơ sở là 36,5%, trung học phổ thông là 24% Tỷ lệ học sinh cận thị ở thành phố Hồ Chí Minh cũng chiếm tỷ lệ cao như ở Hà nội [4]

Theo Vũ Đức Thu và Lê Thị Kim Dung cùng nhóm tác giả (2001), tại Hà nội: tỷ lệ cận thị tăng dần theo cấp học Tỷ lệ này ở bậc tiểu học là 11,3%, cấp trung học cơ sở là 23,3% và trung học phổ thông là 29,8% [13]

Năm 2006, theo Nguyễn Thị Mai Lý những BN đến khám ở khoa Mắt trẻ

em – Bệnh viện Mắt trung ương; đã được chẩn đoán cận thị trước thời điểm

6 tháng từ 15 đến 18 tuổi: nhóm tuổi học sinh tiểu học có tỷ lệ BN bắt đầu mắc cận thị cao nhất chiếm 55,5% tổng số BN, tuổi bắt đầu mắc cận thị trung bình là 10,01 Mức độ cận thị tăng dần theo thời gian mắc cận thị của

Trang 12

BN, những BN bị cận thị nặng có tỷ lệ loạn thị kèm theo nhiều hơn BN bị cận thị nhẹ Thời gian mắc cận thị càng dài thì mức độ cận thị càng cao và tăng càng nhiều [8]

Do đó, vấn đề đặt ra là phòng và tránh cận thị càng sớm càng tốt, hiệu quả càng cao và càng giảm thiểu được các tác hại mà cận thị gây ra cho học sinh

Để làm được điều này, cần có sự phối hợp của gia đình, xã hội và nhà trường, cụ thể là các giáo viên, nhất là cấp tiểu học - ngưỡng cửa đầu tiên trong quá trình học tập của học sinh Giáo viên ở đây đóng vai trò quan trọng, nếu hiểu đúng về bệnh cận thị học đường, biết các nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng cũng như nắm được tác hại của bệnh gây ra thì sẽ làm nâng cao thái độ thấy cần thiết phải phòng bệnh, từ đó có được các thực hành, việc làm giúp phòng bệnh hiệu quả

Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về bệnh cận thị ở học sinh, cũng như mối liên quan giữa chúng với các yếu tố học đường từ đó đề xuất các biện pháp phòng chống, thử nghiệm các can thiệp Trên thế giới đã có nghiên cứu

về kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên đối với việc phòng tránh cận thị Nhưng ở nước ta chưa có nghiên cứu nào tập trung vào đối tượng giáo viên, đề cập một cách cụ thể, rõ ràng kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên - những người trực tiếp tiếp xúc và giáo dục các em hàng ngày về phòng chống cận thị Và nếu ngay từ những lớp học đầu tiên ngồi trên ghế nhà trường, các em được phòng chống cận thị thì sẽ hình thành được những thói quen tốt (đặc biệt là tư thế ngồi học) có lợi cho mắt và sức khỏe cho những năm học sau này

Trang 13

III Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành tại 2 quận/ huyện: một quận nội thành, một huyện ngoại thành tại thành phố Hà Nội cũ (chưa bao gồm Hà Tây)

Hình 2 Bản đồ Hà nội và địa điểm nghiên cứu

Hà Nội nằm ngay giữa vùng đồng bằng phía Bắc, bên bờ con sông Hồng, với diện tích hơn 923,6 km2, bao gồm 9 quận, 5 huyện, dân số khoảng 3,4 triệu người Dân cư chủ yếu làm trong các ngành dịch vụ và công nghiệp

Hà Nội là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam với hơn 50 trường đại học và cao đẳng với khoảng 606.207 sinh viên (2007), 280 trường tiểu học, 219 trường trung học cơ sở và 103 trung học phổ thông với tổng cộng 495.456 học sinh (2007) Cùng với sự phát triển của kinh tế, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện Tất cả đã góp phần tạo điều kiện để chăm sóc sức khoẻ cho học sinh tốt hơn và nâng cấp cơ sở học tập phù hợp với tiêu chuẩn vệ sinh học đường

Trang 14

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

Giáo viên trường tiểu học tại Hà nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu :

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu :

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh

n: số lượng giáo viên tiểu học cần nghiên cứu

p1: Tỷ lệ giáo viên thực hiện hướng dẫn học sinh phòng chống CTHĐ tại nội thành Hà nội, ước tính bằng 0,8

p2: Tỷ lệ giáo viên cho rằng có thể phòng chống được CTHĐ tại ngoại thành

Trang 15

Thay vào công thức ta có:

17,8x {0,8x(1- 0,8) + 0,4x(1- 0,4)}

n = - = 44,5 ≈ 45 (GV) (0,8- 0,4)2

Trong nghiên cứu này, chúng tôi điều tra ở hai huyện/quận nên dự kiến mỗi huyện/quận sẽ điều tra 45 giáo viên và cần chọn 2 trường tiểu học ở mỗi địa bàn điều tra (ước tính mỗi trường tiểu học có từ 20-25 lớp tương đương với 20-25 giáo viên chủ nhiệm) Thực tế đã điều tra được 100 giáo viên (nội thành là 51 giáo viên, ngoại thành là 49 giáo viên)

- Mỗi trường chọn tất cả các giáo viên chủ nhiệm từ khối 1 đến khối 5 Phần trên đây mô tả cỡ mẫu và cách chọn mẫu để phỏng vấn giáo viên tiểu học Riêng đối với số lượng giáo viên quan sát, do điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi chỉ áp dụng số lượng mẫu tối thiểu (chọn quan sát ngẫu nhiên

3 lớp trong 3 buổi học liên tiếp) tại 4 trường nghiên cứu Vì vậy, số lượt quan sát thực tế là: 3x3x4 = 36 (lượt quan sát)

2.3.3 Các chỉ số chính trong nghiên cứu :

Mục tiêu 1: Mô tả kiến thức phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008

Trang 16

- Tỷ lệ GV có khái niệm đầy đủ về CTHĐ: Số GV nêu được đầy đủ khái niệm/ tổng số GV được hỏi

- Tỷ lệ GV có hiểu biết đầy đủ về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của CTHĐ: Số lượng GV nêu được 6 nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của CTHĐ/ tổng số GV được hỏi

- Tỷ lệ GV có hiểu biết đầy đủ về tác hại của CTHĐ: Số lượng GV kể được

4 tác hại của CTHĐ/ tổng số GV được hỏi

- Tỷ lệ GV có kiến thức đầy đủ về tư thế ngồi học đúng: Số lượng GV trả lời 2/2 ý về tư thế ngồi học đúng/ tổng số GV được hỏi

- Tỷ lệ GV có kiến thức đầy đủ về các biện pháp phòng chống CTHĐ: Số lượng GV trả lời đầy đủ cả 7 biện pháp/ tổng số GV được hỏi

- Tỷ lệ GV có kiến thức đầy đủ về CTHĐ: Số lượng GV trả lời đầy đủ về khái niệm, nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ, tác hại và các biện pháp phòng chống/ tống số GV được hỏi

Mục tiêu 2: Mô tả thái độ phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008

- Tỷ lệ GV cho rằng CTHĐ phòng tránh được: Số lượng GV trả lời CTHĐ phòng tránh được/ tổng số GV được hỏi

- Tỷ lệ GV thấy rất cần thiết phải phát hiện sớm CTHĐ: Số lượng GV trả lời rất cần thiết phải phát hiện sớm CTHĐ/ tổng số GV được hỏi

Mục tiêu 3: Mô tả thực hành phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008

- Tỷ lệ GV có hướng dẫn học sinh biện pháp phòng chống CTHĐ (qua quan sát): Số lượng GV có hướng dẫn học sinh từ 1 biện pháp trở lên/ tổng số GV được quan sát

- Tỷ lệ GV hướng dẫn học sinh tư thế ngồi học (qua phỏng vấn): Số lượng

GV có hướng dẫn học sinh tư thế ngồi học/ tổng số GV được hỏi

Trang 17

2.3.3 Kỹ thuật thu thập thông tin:

+ Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế có sẵn: Phỏng vấn trực tiếp giáo viên các khối 1-5 (mẫu 1-phụ lục- trang 38)

+ Sử dụng bảng kiểm: Quan sát thực hành của giáo viên ở các khối 1,3,5 (mẫu 2-phụ lục- trang 41)

- Xác định cỡ mẫu theo công thức

- Chọn ngẫu nhiên 2 trường tiểu học ở huyện nội thành và 2 trường tiểu học ở huyện ngoại thành Sau đó mỗi trường chọn tất cả các giáo viên

2.3.6.2 Sai số do công cụ thu thập số liệu:

- Xây dựng bộ câu hỏi, bảng kiểm, biểu mẫu một cách chi tiết, kỹ lưỡng và được thử nghiệm trước khi đi điều tra

- Sử dụng thống nhất các bộ câu hỏi, bảng kiểm, biểu mẫu từ đầu đến cuối nghiên cứu

2.3.6.3 Sai số do người thu thập số liệu:

- Trước khi thu thập số liệu, các điều tra viên và giám sát viên đều được tập huấn kỹ lưỡng, thống nhất cách hỏi, cách ghi chép số liệu, cách quan sát

2.3.6.4 Sai số do giáo viên trả lời sai:

- Tất cả các GV trước khi phỏng vấn đều được nhà trường và cán bộ nghiên cứu trao đổi về chương trình và tầm quan trọng của nghiên cứu

Trang 18

- Trong quá trình điều tra, các câu hỏi khó trả lời đều được giải thích rõ ràng 2.3.6.5 Sai số do quan sát trực tiếp:

- Quan sát giáo viên hướng dẫn thực hành cho học sinh ở các lớp học được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường và giáo viên các lớp quan sát Tuy nhiên tất cả các giáo viên quan sát không được biết về nội dung quan sát (để tránh sai số do sự có mặt của người quan sát)

- Mỗi điều tra viên đứng ngoài lớp và quan sát liên tục cố định một lớp trong 3 ngày liên tiếp

- Điều tra viên không được can thiệp vào lớp học và tránh gây chú ý cho giáo viên trong suốt quá trình quan sát

2.4 Xử lý và phân tích số liệu:

Các số liệu trước khi nhập máy tính bằng chương trình EPI INFO 6.0 được làm sạch, mã hóa (câu khác) để phân tích và xử lý các số liệu Sử dụng test Khi bình phương so sánh hai tỷ lệ

2.5 Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 09/2008 đến tháng 05/2009

2.6 Đạo đức nghiên cứu:

- Nghiên cứu được chính quyền địa phương, Ban giám hiệu nhà trường nơi nghiên cứu ủng hộ và tạo điều kiện

- Tất cả các giáo viên được phỏng vấn, quan sát đều tự nguyện, không

ép buộc và có cơ hội tham gia vào nghiên cứu như nhau

- Trong quá trình nghiên cứu các thông tin của đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật

Trang 19

IV Kết quả nghiên cứu

3.1 Kiến thức về phòng bệnh cận thị học đường của giáo viên ở 4 trường

tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008:

Bảng 3.1: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về khái niệm

bệnh cận thị học đường tại thành phố Hà nội năm 2008

Nội thành Ngoại thành Chung

Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ giáo viên có kiến thức hạn chế về khái

niệm CTHĐ Tỷ lệ GV trả lời không đầy đủ về khái niệm CTHĐ chiếm

58% Giáo viên ở nội thành có tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về khái niệm CTHĐ

cao hơn ở ngoại thành (47,1% và 36,7%) Tuy nhiên sự khác biệt này

chưa có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Bảng 3.2: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về nguyên

nhân và yếu tố nguy cơ bệnh CTHĐ tại thành phố Hà nội năm 2008

Nội thành n=51

Ngoại thành n=49

Chung n=100

Trang 20

Nhận xét:

Kết quả ở bảng trên cho thấy, trong 6 nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của

CTHĐ, tỷ lệ giáo viên biết được nguyên nhân do tư thế ngồi học sai là

cao nhất (98%), thấp nhất là yếu tố học tập không hợp vệ sinh (73%) Chỉ

có 51% giáo viên biết được đủ cả 6 nguyên nhân và yếu tố nguy cơ và

không có sự khác biệt giữa nội thành với ngoại thành (p > 0,05) Có 7%

giáo viên cho rằng có những nguyên nhân và yếu tố khác gây ra CTHĐ

(cầm bút sai, ngồi học bàn một lâu không được đổi chỗ, lớn nhanh nên

đáy mắt dài nhanh, gió, bụi) Tỷ lệ giáo viên biết học tập không hợp vệ

sinh có thể gây ra CTHĐ ở nội thành thấp hơn ngoại thành (60,8% và

85,7% ), tuy nhiên ở yếu tố thể trạng thì nội thành lại cao hơn ngoại

thành (84,3% và 65,3%) Sự khác biệt về hai tỷ lệ này giữa giáo viên nội

thành và ngoại thành có ý nghĩa thống kê với mức xác suất 0,05

Bảng 3.3: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về tác hại của

bệnh cận thị học đường tại thành phố Hà nội năm 2008

Nội thành n=51

Ngoại thành n=49

Chung n=100 Hậu quả

Đủ 4 tác hại 27 52,9 16 32,7 43 43 < 0,05

Ngày đăng: 28/07/2014, 05:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Bản đồ Hà nội và địa điểm nghiên cứu. - nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008
Hình 2. Bản đồ Hà nội và địa điểm nghiên cứu (Trang 13)
Bảng 3.1: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về khái niệm - nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008
Bảng 3.1 Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về khái niệm (Trang 19)
Bảng 3.3: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về tác hại của - nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008
Bảng 3.3 Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về tác hại của (Trang 20)
Bảng 3.4: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về các biện - nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008
Bảng 3.4 Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về các biện (Trang 21)
Bảng 3.5: Thái độ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà - nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008
Bảng 3.5 Thái độ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà (Trang 23)
Bảng 3.6: Tỷ lệ giáo viên ở 4 trường tiểu học hướng dẫn học sinh các - nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008
Bảng 3.6 Tỷ lệ giáo viên ở 4 trường tiểu học hướng dẫn học sinh các (Trang 24)
(13% so với 2%, p &lt; 0,05, bảng 4.1). - nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008
13 % so với 2%, p &lt; 0,05, bảng 4.1) (Trang 27)
SƠ ĐỒ CÂY VẤN ĐỀ - nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008
SƠ ĐỒ CÂY VẤN ĐỀ (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w