Những năm gần đây các phương pháp nuôi cấy mô và các kỹ thuật nhuộm tiêu bản ngày càng phát triển và được cải tiến không ngừng, đặc biệt là kỹ thuật nhuộm băng G GTG đã cho phép các nhà
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Văn Rực, Phó trưởng bộ môn Y sinh học – Di truyền, Đại học Y Hà Nội, người thầy
trực tiếp hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Ngô Giang Liên người đã tận tình góp ý
cũng như động viên, cổ vũ tinh thần cho tôi trong quá trình làm luận văn
học – Di truyền, Đại học Y Hà Nội đã chỉ bảo, động viên, tạo điều kiện tốt và giúp
đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, tạo điều
kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này
người đã luôn động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập để tôi hoàn
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 3
1.1.Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người 3
1.2.Tiêu chuẩn và qui định quốc tế về đặc điểm bộ nhiễm sắc thể người 5
1.2.1.Tiêu chuẩn để xếp loại nhiễm sắc thể trong lập karyotype 5
1.2.2.Phân loại nhiễm sắc thể 5
1.2.3.Các rối loạn về bộ nhiễm sắc thể người 6
1.2.3.1 Rối loạn số lượng 6
1.2.3.2 Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể 8
1.3.Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh trên thế giới 12
1.3.1.Tần số rối loạn nhiễm sắc thể trong những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 12
1.3.2.Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người bố hoặc người mẹ ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 14
1.3.3.Tần số các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai và sinh con bị dị tật 15
1.3.3.1 Tần số giữa chuyển đoạn tương hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm 16 1.3.3.2 Tần số các kiểu rối loạn khác ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 19
1.4.Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam 20
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1.Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.1.Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 23
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ 23
2.2.Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1.Lập hồ sơ bệnh án di truyền 23
Trang 42.2.2.Phương pháp nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi để thu
hoạch cụm kỳ giữa, phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotype 24
2.2.2.1 Nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi theo phương pháp của Hungerford D.A (1965) 24
2.2.2.2 Thu hoạch tế bào 24
2.2.2.3 Phương pháp nhuộm băng theo Seabright M (1971) 25
2.2.2.4 Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotype: theo tiêu chuẩn ISCN (2005) 26
2.2.3.Xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 28
3.1.Tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 28 3.2.Nghề nghiệp của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 30
3.3.Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 32
3.4.Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 35
3.5.Các biểu hiện về rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 36
3.6.Các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 42
3.6.1.Sự chuyển đoạn tương hỗ giữa các nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng mang nhiễm sắc thể chuyển đoạn 45
3.6.2.Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa các nhóm 48
3.7.Sự phân bố các kiểu rối loạn về số lượng nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Tiếng Việt 59
Tiếng Anh 60
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Sự phân bố theo tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị
dị tật bẩm sinh 28
Bảng 2 Sự phân bố về nghề nghiệp ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 31
Bảng 3 Bảng thống kê tỷ lệ rối loạn NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh của một số tác giả 34
Bảng 4 Sự phân bố các kiểu rối loạn cấu trúc NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 37
Bảng 5 Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn NST 42
Bảng 6 Bảng thống kê tỷ lệ chuyển đoạn NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 43
Bảng 7 Sự phân bố các kiểu karyotype về sự chuyển đoạn tương hỗ 45
Bảng 8 Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa các nhóm 48
Bảng 9 Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn giữa các NST trong các nhóm 50
Bảng 10 Sự phân bố các rối loạn xảy ra ở cặp NST giới tính ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 55
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử ở người mang chuyển đoạn tương hỗ
giữa NST số 3 và NST số 21 9
Hình 2 Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa hợp tâm t(14q;21q) 10
Hình 3 Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa hợp tâm t(21q;21q) 11
Hình 4 Tỷ lệ rối loạn NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 32
Hình 5 Tỷ lệ rối loạn NST giữa người vợ và người chồng ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 35
Hình 6 Karyotype của bệnh nhân Nguyễn T Thu Tr 46 ,XX del(18)(q21) 39
Hình 7 Karyotype của bệnh nhân Nguyễn Thanh T 46,XX,inv(9)(p13q13) 41
Hình 8 Karyotype của bệnh nhân Lê Đức T 46,XY,t(1;5)(q44;q15) 47
Hình 9: Karyotype của bệnh nhân Đặng Thị Anh D 45,XX,t(13q;14q) 52
Hình 10 Karyotype của bệnh nhân Đinh Thị Kim D 45,XX,t(14q;21q) 53
Hình 11 Karyotype của bệnh nhân Nguyễn T Thanh T 45,XX,t(21q;21q) 54
Hình 12 Karyotype của bệnh nhân Trương Thị Ng 47,XXX/46,XX 57
Trang 7MỞ ĐẦU
Năm 1956 Tijo và Levan là người đầu tiên đã nuôi cấy tế bào thai người và gây sốc nhược trương để làm cho các NST (NST) dàn đều trên tiêu bản đã phát hiện chính xác số lượng NST của người là 46 chiếc gồm 23 cặp, trong đó 22 cặp NST thường và 1 cặp NST giới tính (ở người nữ là XX, ở người nam là XY) Từ đó đến nay, NST của người luôn là đề tài nghiên cứu của các nhà di truyền học trên nhiều đối tượng và các bệnh lý lâm sàng khác nhau
Những năm gần đây các phương pháp nuôi cấy mô và các kỹ thuật nhuộm tiêu bản ngày càng phát triển và được cải tiến không ngừng, đặc biệt là kỹ thuật nhuộm băng G (GTG) đã cho phép các nhà di truyền học phát hiện được chính xác từng chiếc NST và những rối loạn cấu trúc của NST như mất đoạn, lặp đoạn, chuyển đoạn, đảo đoạn…
Ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh có thể do nhiều nguyên nhân như nhiễm trùng, hocmon, các bệnh mãn tính, bất thường tử cung, bất thường NST… Đặc biệt đối với thai sảy sớm (dưới 3 tháng trong thời kỳ mang thai) thì phôi thai mang bất thường NST đóng vai trò chủ yếu [11] Trường hợp này nguyên nhân có thể do bố hoặc mẹ mang rối loạn NST cân bằng dẫn đến không phân ly NST ở các cặp NST nào đó tạo nên những giao tử bất thường và nguy cơ mang thai bất thường cao có thể chết trong thời kỳ bào thai hoặc sinh ra những đứa trẻ dị tật bẩm sinh
Ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh sẽ tạo gánh nặng về tâm lý và kinh tế cho bệnh nhân, gia đình bệnh nhân và xã hội Xét nghiệm và phân tích NST ở những cặp vợ chồng này nhằm tìm ra nguyên nhân gây sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đồng thời đưa ra lời khuyên di truyền góp phần chăm sóc sức khỏe sinh sản ở cộng đồng và xã hội
Trang 8Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu NST và những báo cáo về những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh mang rối loạn NST cân bằng như chuyển đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn…
Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều phòng xét nghiệm di truyền tế bào như Viện nhi Trung ương, Viện Sản Trung ương, phòng Di truyền tế bào bệnh viện Từ Dũ, bộ môn Y Sinh học – Di truyền trường Đại học Y Hà Nội làm xét nghiệm và phân tích NST ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh góp phần trong chẩn đoán và đưa ra những lời khuyên di truyền
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích bộ nhiễm sắc thể (karyotype) ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh” nhằm mục tiêu:
Phát hiện các trường hợp rối loạn NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
Trang 9CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người
Bộ NST người là đối tượng chính trong các nghiên cứu tế bào di truyền học loài người Các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu NST người từ cuối thế kỷ XIX
và được đánh dấu bằng công trình mở đầu của Walther Flemming (1882) [26] Ông
đã quan sát NST của người ở các kỳ phân bào trên tiêu bản tươi, cắt mảnh lấy từ tinh hoàn Trong thời gian đó, NST của người là vấn đề được các nhà di truyền học quan tâm, nghiên cứu và cũng là đề tài được đem ra tranh luận nhiều lần Tuy nhiên
ở thời kỳ ấy do những hạn chế về kỹ thuật làm tiêu bản, mẫu vật không đáp ứng và không phù hợp cho việc nghiên cứu chi tiết NST Ở người, số lượng NST nhiều, kích thước nhỏ và thường tập trung thành từng đám, với những kỹ thuật cắt mảnh,
cố định và nhuộm thông thường, các nhà di truyền tế bào chưa thể đếm chính xác nên đã cho rằng trong nhân của tế bào người có 48 NST, gồm 23 cặp NST thường
và 1 cặp NST giới tính (Winiwarter V, 1912; Painter, T.S, 1923; Levitsky, G.A, 1924) [48,58,75]
Những năm thuộc thập kỉ 50 của thế kỉ XX có những phát hiện quan trọng khai sinh ra chuyên ngành di truyền tế bào người, bằng việc xử lý tế bào bằng sốc nhược trương của Hsu, T.C (1952), Ford, C.E và Hamerton, J.L (1956) tiền xử lý tế bào nuôi cấy bằng colchicine để tích lũy nhiều cụm kì giữa Công trình của Tjio, J.H và Levan (1956) kết hợp xử lý nhược trương và colchicine đã công bố nghiên cứu xác định lại bộ NST 2n của người là 46 NST chứ không phải là 48 NST và công trình này đã được Ford và Hamerton khẳng định [28]
Từ năm 1956 có nhiều phòng thí nghiệm tế bào di truyền được xây dựng để nghiên cứu NST Các công trình đầu tiên công bố các rối loạn NST liên quan với bệnh là công trình của Lejeune (1958-1959) về hội chứng Down do thừa một NST
21 dạng trisomi 21, hội chứng Turner do tế bào cơ thể chỉ có 45 NST dạng 45,X
Trang 10thiếu một NST giới tính X (Ford, 1959), hội chứng Klinefelter ở nam với 47 NST trong đó có ba NST giới XXY (Jacobs và Strong, 1959) [40]
Từ năm 1956 đến năm 1960 là thời kỳ còn khó khăn của nghiên cứu tế bào di truyền học người các nghiên cứu đều mới chỉ phân biệt được các rối loạn số lượng
và rối loạn cấu trúc lớn gây bất thường ở người do mới chỉ sử dụng phương pháp nhuộm bình thường bằng Giemsa, nhuộm đồng đều các NST
Năm 1960, Moorhead và cs công bố phương pháp làm tiêu bản NST từ lympho bào nuôi cấy ngắn hạn với việc dùng PHA (phytohemagglutinin) để kích thích phân bào[53]
Năm 1960, Nowell và Hungerford đã mô tả NST Philadelphia (mất đoạn nhánh dài của NST 22) trong bệnh bạch cầu thể tủy mãn tính (Chronic myeloid leukemia) [57]
Năm 1963, hội chứng mèo kêu, một hội chứng do bị mất đoạn nhánh ngắn của NST số 5 (5p-), lần đầu tiền được phát hiện bởi Lejeune và cs [74]
Từ năm 1968 đến năm 1970, là sự ra đời của các kỹ thuật nhuộm băng cho phép các nhà di truyền học đánh giá chính xác tới từng chiếc NST trong bộ NST và phát hiện rối loạn cấu trúc NST Từ sau 1970 trở đi, lần lượt với các kỹ thuật nhuộm băng Q, băng G, băng R, băng C, băng T, N và nhuộm băng có độ phân giải cao NST, dùng BrdU (Bromodeoxyuridin) gắn vào ADN trên NST và nhuộm phân biệt chromatit chị em đã mở ra thời kỳ phát triển mạnh mẽ của tế bào di truyền học người ứng dụng các kỹ thuật băng để phát hiện các bất thường tinh tế đặc trưng trên từng NST ứng với các bệnh, tật, các hội chứng trong lâm sàng
Từ năm 1980 đặc biệt là sau năm 1985 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, vượt bậc của di truyền tế bào lâm sàng và di truyền phân tử ứng dụng trong nghiên cứu
bộ gen loài người Trong di truyền tế bào lâm sàng thì việc nghiên cứu NST chủ yếu vẫn áp dụng các phương pháp nhuộm băng NST
Trang 111.2 Tiêu chuẩn và qui định quốc tế về đặc điểm bộ nhiễm sắc thể người
1.2.1 Tiêu chuẩn để xếp loại nhiễm sắc thể trong lập karyotype
Lúc đầu người ta chỉ căn cứ vào chiều dài của NST để căn cứ và đặt tên cho chúng từ 1 đến 23 theo thứ tự từ dài đến ngắn (công ước Denver 1960), nhưng ngay sau đó cũng năm 1960 Patau không đồng ý và đề xuất thêm tiêu chuẩn vị trí phần tâm, sau này được quốc tế chính thức chấp nhận
- Chiều dài tương đối của NST : đó là tỷ lệ giữa chiều dài của một NST so với chiều dài của cả bộ NST trung bình, tức là chiều dài tổng cộng của tất cả các NST thường của bộ đơn bội có chứa NST X tính theo phần nghìn trong cùng một
1.2.2 Phân loại nhiễm sắc thể
Ở người bộ NST 2n = 46 trong đó có 22 cặp NST thường (autochromosome)
và 1 cặp NST giới tính (sex chromosome) Dựa vào đặc điểm hình thái như độ dài,
vị trí tâm động người ta sắp xếp các NST thành từng nhóm 46 NST người được chia thành 7 nhóm, kí hiệu là A, B, C, D, E, F và G trên nguyên tắc dài trước ngắn sau, nếu các NST bằng nhau thì tâm giữa đặt trước, tâm lệch đặt sau
• Nhóm A có 3 cặp NST có kích thước lớn nhất, gọi tên từ số 1 đến 3, cặp số 1 tâm giữa, cặp số 2 tâm lệch, cặp số 3 tâm giữa
• Nhóm B có 2 cặp NST số 4 và 5 Các NST này có kích thước lớn và đều có tâm lệch
Trang 12• Nhóm C có 7 cặp từ số 6 đến 12 có chiều dài trung bình NST X cũng được xếp vào nhóm này Tất cả đều tâm gần giữa và khó phân biệt
• Nhóm D có 3 cặp từ số 13 đến 15 gồm các NST có nhánh ngắn rất ngắn, gần như không đáng kể gọi là các NST tâm đầu (acrocentric) Tất cả 3 cặp NST này đều có vệ tinh ở nhánh ngắn
• Nhóm E có 3 cặp 16, 17,18 tương đối ngắn NST số 16 tâm giữa, 17 và 18 tâm lệch
• Nhóm F có 2 cặp NST 19 và 20, ngắn và có tâm giữa
• Nhóm G có 2 cặp 21 và 22, kích thước ngắn và tâm đầu, có vệ tinh NST Y cũng được xếp vào nhóm này nhưng không có vệ tinh
1.2.3 Các rối loạn về bộ nhiễm sắc thể người
1.2.3.1 Rối loạn số lượng
Rối loạn số lượng NST gồm hai dạng: đa bội (polyploidy) và lệch bội (aneuploidy)
* Đa bội thể: là hiện tượng tăng chẵn hoặc tăng lẻ cả bộ NST Ví dụ: ở người 3n =
69 NST = thể tam bội (3n) thuộc dạng thể đa bội lẻ, 4n = 96 NST = thể tứ bội (4n) thuộc dạng thể đa bội chẵn
Ở người, các trường hợp đa bội phần lớn phôi thai chết ở giai đoạn trước sinh, một vài trường hợp sống đến khi sinh hoặc sau sinh nhưng hầu hết là các sơ sinh bị dị tật
Một số trường hợp đa bội thể ở người:
- Đa bội thể ở người hầu hết quan sát thấy ở những thai sảy tự nhiên hoặc ở một số thai sống sót vài giờ sau khi sinh hoặc ở phần lớn các khối u
- Thể tam bội (3n) thuần (69,XXY hoặc 69,XYY) đã quan sát ở những thai sảy tự nhiên hoặc ở một số thai sống sót vài giờ sau khi sinh
Trang 13- Thể khảm (3n/2n) hoặc (4n/2n) đứa trẻ có thể sống được vài năm nhưng chậm phát triển trí tuệ và nhiều dị tật bẩm sinh khác: dị dạng mắt, thoát vị màng tủy, dị tật tim, dị tật cơ quan sinh dục…
Karyotype ở những đứa trẻ này là:
46,XY/69,XXY hoặc 46,XX/92,XXYY
* Lệch bội: là hiện tượng số lượng NST của tế bào tăng lên hoặc giảm đi một hoặc
vài NST so với bộ NST lưỡng bội
có khả năng phát triển và thường chết ở giai đoạn sớm
Trang 14* Thể khảm lệch bội: NST thường và giới tính tức là cá thể có từ hai hoặc nhiều
dòng, hay gặp nhất là một dòng tế bào lưỡng bội và một dòng tế bào lệch bội hoặc
là thừa một NST (trisomi) hoặc là thiếu một NST (monosomi)
tương đồng khác nhau (thông thường là một cặp NST thường và một cặp NST giới tính)
1.2.3.2 Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể
* Mất đoạn (deletion): là hiện tượng NST bị đứt rời ra một hoặc nhiều đoạn, đoạn
bị đứt rời ra không có tâm sẽ tiêu biến đi hoặc gắn sang NST khác, phần còn lại mang tâm trở lên ngắn hơn bình thường Mất đoạn gồm các dạng: mất đoạn cuối đơn, mất đoạn cuối kép, mất đoạn giữa
Sự mất đoạn NST tức là sự mất đi vật liệu di truyền và tùy theo mức độ tổn thương nhiều hay ít mà ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của phôi thai, hoặc thai nhi sinh ra với nhiều dị tật Ở người tần số gặp mất đoạn rất hiếm Ví dụ: hội chứng mèo kêu: 46, XX(XY), del (5p)… đã được mô tả bởi Lejeune và cs năm 1963 Triệu chứng lâm sàng là trọng lượng khi sinh thấp, thời kỳ sơ sinh, trẻ nhỏ có tiếng khóc không bình thường, yếu, rên rỉ giống như tiếng mèo kêu, đầu nhỏ, mặt tròn như mặt trăng, hai mắt xa nhau, có nếp quạt, lẹm cằm… Nhiều bệnh nhân sống đến tuổi trưởng thành nhưng cơ thể vẫn trong tình trạng kém phát triển Một số trường hợp
có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ và rối loạn cơ quan sinh dục, hay gặp trong số
đó là NST X hình vòng Ví dụ: Hội chứng Turner: 46,Xr(Xq)
* Chuyển đoạn (Translocation) Chuyển đoạn là hiện tượng trao đổi các đoạn của
NST Chuyển đoạn NST đã được xác định là hay gặp nhất trong rối loạn cấu trúc của NST [64] Có hai kiểu chuyển đoạn là chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation) và chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation)
Trang 15- Chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation): là hiện tượng trao đổi đoạn giữa hai NST Mỗi NST đứt một chỗ, trao đổi đoạn đứt cho nhau và hình thành hai NST mới Cả hai đều thay đổi hình thái nếu những đoạn trao đổi khác nhau về kích thước Người mang NST chuyển đoạn tương hỗ có phenotype hoàn toàn bình thường và trong bộ NST chứa 46 chiếc với 2 NST bất thường Trong quá trình hình thành giao tử, hợp tử và sinh ra những đứa con hoặc là monosomi (thường chết) hoặc trisomi hoặc có karyotype bình thường hoặc mang chuyển đoạn cân bằng giống bố mẹ Dưới đây là sơ đồ mô tả quá trình hình thành giao tử và hợp
tử ở những người mang chuyển đoạn tương hỗ
Hình 1 Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử ở người mang chuyển đoạn tương
hỗ giữa NST số 3 và NST số 21
hợp tâm là do phần tâm của hai NST hợp nhất hình thành và hay gặp nhất là sự chuyển đoạn giữa các NST tâm đầu số 13,14,15 (nhóm D), số 21,22 (nhóm G) bao gồm là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc giữa nhóm
D với nhóm G (D/G) hoặc giữa nhóm G với nhóm G (G/G) Nhìn chung trong quần
Trang 16thể, chuyển đoạn hòa hợp tâm chiếm tỷ lệ khoảng 1,23% ở trẻ sơ sinh còn sống [15]
Ở những người mang chuyển đoạn hòa hợp tâm trong bộ NST có 45 chiếc thiếu 2 NST tâm đầu và thay vào đó 1 NST tâm giữa có kích thước lớn nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc 1 NST có kích thước trung bình tâm lệch nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với các NST nhóm G (D/G) hoặc 1 NST kích thước nhỏ tâm giữa nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm G với các NST nhóm G (G/G)
Những người mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm thì có phenotype bình thường nhưng trong quá trình hình thành giao tử, hợp tử và sinh ra những đứa con hoặc là monosomi (thường chết trong thời kỳ bào thai) hoặc có bộ NST bình thường hoặc mang chuyển đoạn hòa hợp tâm giống như bố mẹ, hoặc mang chuyển đoạn không cân bằng (chết trong thời kỳ bào thai hoặc sinh ra bị dị tật bẩm sinh) [49]
Hình 2 Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa
hợp tâm t(14q;21q)
Trang 17Hình 3 Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa
hợp tâm t(21q;21q)
* Lặp đoạn (duplication) là hiện tượng một đoạn nào đó của NST được nhân đôi
lên Lặp đoạn xảy ra khi 2 NST tương đồng ghép đôi với nhau không tương xứng trong kỳ đầu của phân bào giảm phân, có sự đứt của 2 NST và trao đổi đoạn giữa 2 đoạn khác nhau của 2 NST trong cặp tương đồng Trong trường hợp này có 2 NST
bị thay đổi cấu trúc, nhưng không mất đi hoặc tăng thêm vật liệu di truyền trong tế bào Khi các NST trong cặp tương đồng này phân ly nhau trong giảm phân sẽ tạo ra hợp tử mang NST lặp đoạn (trisomi từng phần) hoặc NST thiếu một đoạn có liên quan (monosomi từng phần)…
Ở người hay gặp trisomi một phần nhánh dài hoặc monosomi một phần nhánh dài hoặc nhánh ngắn của NST số 18 (nhóm E) Biểu hiên lâm sàng với triệu chứng là chậm phát triển trí tuệ, đặc biệt là dị dạng về mắt, sọ nhỏ, cổ ngắn, kèm theo dị tật chân và tay…
* Đảo đoạn (invertion) là sự bất thường cấu trúc do NST bị đứt ở hai điểm, đoạn
giữa hai điểm đứt quay ngược 1800 rồi nối lại, do đó một số gen bị đảo ngược thứ
Trang 18tự so với đoạn ban đầu Có ba kiểu đảo đoạn: đảo đoạn ngoài tâm, đảo đoạn quanh tâm đối xứng, đảo đoạn quanh tâm không đối xứng
- Đảo đoạn ngoài tâm: hai chỗ đứt ở cùng một nhánh của NST và đoạn đảo không chứa tâm, NST không thay đổi hình thái
- Đảo đoạn quanh tâm đối xứng: hai chỗ đứt ở hai nhánh và cách đều tâm, NST không thay đổi hình thái
- Đảo đoạn quanh tâm không đối xứng: hai chỗ đứt ở hai nhánh, khoảng cách tâm không đều nhau, NST có cấu trúc lại và thay đổi hình thái
1.3 Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng có tiền sử
sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh trên thế giới
1.3.1 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể trong những cặp vợ chồng sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
U Diedrich và cs (1983) nghiên cứu di truyền tế bào ở 136 cặp vợ chồng với tiến sử sảy thai hai lần trở lên Các tác giả đã phát hiện 15 trường hợp (chiếm tỷ lệ 11%) có bất thường NST [70]
Báo cáo của J.P Fryns và cs (1984) khi phân tích NST trong 1068 cặp với tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh Trong tổng số 1068 cặp được nghiên cứu, có 59 trường hợp mang bất thường NST (chiếm 5,5%) [41] Một nghiên cứu khác trên 202 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp được thực hiện bởi Kroshikina VG và cs năm 1984 cho thấy tỷ lệ các cặp mà một trong hai người
có rối loạn NST là 2,5% [44]
Năm 1998 Fryns JP và Buggenhout GV khi phân tích NST của 1743 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp các tác giả đã phát hiện 5,34% trong số họ mang bất thường NST [31]
Trang 19Khi tiến hành làm xét nghiệm NST cho 61 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên Jiang J và cs (2001) đã phát hiện 7 cặp vợ chồng (chiếm
tỷ lệ 11,5%) có một trong hai người bị rối loạn NST [42]
M Azim năm 2003 đã sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST ở cả hai vợ chồng của 300 cặp có hai hoặc nhiều hơn hai lần sảy thai tự nhiên Kết quả cho thấy có 16 cặp (chiếm tỷ lệ 5,3%) có bất thường NST ở một trong hai vợ hoặc chồng [54]
Nghiên cứu ở 742 cặp vợ chồng (1484 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh Dubey và cs (2005) phân tích NST và lập karyotype ở những cặp vợ chồng này đã phát hiện được 31 trường hợp ( chiếm tỷ lệ 2%) có bất thường về NST [23]
Lakshmi Rao và cs (2005) đã phân tích NST tổng số 160 cặp với tiền sử sảy thai liên tiếp sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G Kết quả phát hiện 18 trường hợp mang rối loạn NST chiếm 11,25% tổng số các cặp nghiên cứu [46]
Năm 2006 Figen Celepa và cs đã phân tích NST của 645 cặp ( 1290 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp Kết quả tìm thấy có 25 trường hợp (chiếm tỷ lệ 3,86%) mang bất thường NST [27]
Theo Razied Dehghani Firoozabadi và cs năm 2006: Phân tích NST của 88 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp Kết quả cho thấy 12.5% trong số họ mang bất thường NST [61]
L.V.Tavokina và cs (2007) đã phát hiện 46 trường hợp (10,95%) có karyotype mang rối loạn NST khi phân tích NST của 210 cặp vợ chồng có vấn đề
về sinh sản [51]
Usha R Dutta (2010) và cs đã phân tích sự bất thường về di truyền tế bào trong 1162 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp ở vùng phía nam Ấn độ Sử dụng phương pháp nhuộm băng G các tác giả đã phát hiện 78 trường hợp có bất
thường NST [72]
Trang 201.3.2 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người bố hoặc người mẹ ở những cặp
vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
Năm 1981 Claude Stoll đã phân tích NST của 122 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ ba lần trở lên Sử dụng phương pháp nhuộm băng R các tác giả
đã phát hiện 5 người nữ và 1 người nam mang chuyển đoạn NST t(2;17), t(5;9), t(11;12),t(17;22) và t(13q14q) [20]
Năm 1983 A.Lippman-Hand đã phân tích NST của 177 cặp vợ chồng có tiền
sử sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên Kết quả chỉ ra rằng số phụ nữ mang rối loạn NST chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam giới [13]
J.P Fryns và cs (1984) đã phân tích NST trong 1068 cặp với tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh Các tác giả đã phát hiện trong số những người mang NST chuyển đoạn thì chuyển đoạn hòa hợp tâm xảy ra ở nữ cao hơn ở nam còn chuyển đoạn tương hỗ thì ngược lại xảy ra ở nam cao hơn ở nữ [41]
Phân tích NST của 391 cặp vợ chồng sinh con mắc bệnh Down Stoll.C và cs (1998) đã phát hiện được 7 cặp bố mẹ (5 người mẹ và 2 người bố) mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm [63]
M Azim (2003) sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST ở cả hai vợ chồng của 300 cặp có hai hoặc nhiều hơn hai lần sảy thai tự nhiên Tác giả phát hiện thấy có 5 trường hợp mang đảo đoạn bao gồm: 1 trường hợp bố mẹ mang đảo đoạn quanh tâm NST số 16, 3 người mẹ và 1 người bố mang đảo đoạn NST số 9 [54]
Theo Razied Dehghani Firoozabadi và cs (2006): Phân tích NST của 88 cặp
vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp cho thấy số phụ nữ mang bất thường về NST nhiều hơn đáng kể so với nam giới [61]
Một báo cáo khác của Franssen M T M và cs (2007) khi nghiên cứu về vai trò của bất thường cấu trúc NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp từ 2 lần trở
Trang 21lên Các tác giả cũng cho biết bất thường NST ở người vợ cao hơn ở người chồng [32]
Simona Farcas và cs (2007) khi phân tích NST tế bào máu ngoại vi ở cả hai
bố và mẹ của 260 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp Các tác giả đã phát hiện được ở người nam mang NST chuyển đoạn chiếm tỷ lệ 1,53%, người nữ mang NST chuyển đoạn chiếm tỷ lệ 4,23% [64]
1.3.3 Tần số các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai
và sinh con bị dị tật
Chuyển đoạn NST được ghi nhận là kiểu rối loạn cấu trúc NST hay gặp nhất
ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp ở giai đoạn sớm và sinh con bị dị tật bẩm sinh [64]
Phân tích NST trên 136 cặp vợ chồng với tiền sử sảy thai 2 lần trở lên U Diedrich và cs (1983) đã chỉ ra rằng chuyển đoạn của NST số 1,7 hoặc 22 thì có nhiều khả năng dẫn đến sảy thai Trong khi đó chuyển đoạn ở những NST khác ví dụ: NST số 5, 9, 14, 21 thì có nhiều khả năng sinh ra những đứa trẻ dị tật [70] A.Lippman-Hand (1983) đã phân tích NST của 177 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên Kết quả chỉ ra rằng 2-3% các cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai sớm mang chuyển đoạn cân bằng [13]
Fortuny và cs (1988) đã phân tích NST và lập karyotype ở 445 cặp vợ chồng
có tiền sử sảy thai liên tiếp Trong tổng số các cặp nghiên cứu các tác giả đã phát hiện 19 cặp vợ chồng (chiếm tỷ lệ 4,2%) mang NST chuyển đoạn [30]
M Azim năm 2003 đã sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST ở cả hai vợ chồng của 300 cặp có hai hoặc nhiều hơn hai lần sảy thai tự nhiên Kết quả cho thấy có 7 trường hợp mang rối loạn NST kiểu chuyển đoạn [54]
Razied Dehghani Firoozabadi M.D và cs (2006): Phân tích NST của 88 cặp
vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp kết quả cho thấy 2,27% trong số họ mang rối loạn NST kiểu chuyển đoạn cân bằng [61]
Trang 22Theo A L Zarina và cs (2006) sảy thai tự nhiên là một hiện tượng phổ biến chiếm tỉ lệ 1/8 các trường hợp mang thai Các tác giả cũng cho biết gần 5% các trường hợp sảy thai là do bố mẹ mang rối loạn NST chuyển đoạn cân bằng [14] Phân tích NST tế bào máu ngoại vi ở cả hai bố và mẹ của 260 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp từ 2 lần trở lên được thực hiện bởi Simona Farcas và cs (2007) Kết quả cho thấy trong tổng số 260 cặp này các trường hợp bất thường NST kiểu chuyển đoạn chiếm 2,88% [64]
1.3.3.1 Tần số giữa chuyển đoạn tương hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm
Năm 1984 J.P Fryns và cs đã báo cáo kết quả phân tích NST trong 1068 cặp với tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh Có 33 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm tỷ lệ 3,09%) và 20 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm (chiếm tỷ lệ 1,87%) [41]
Mauro Campana và cs (năm 1986) nghiên cứu 5445 cặp vợ chồng có sảy thai
tự nhiên liên tiếp Kết quả 5% trong số những cặp vợ chồng này có một trong hai người vợ hoặc chồng mang chuyển đoạn cân bằng, trong đó chuyển đoạn tương hỗ chiếm 2/3 và chuyển đoạn hòa hợp tâm chiếm 1/3 [52]
Phân tích NST và lập karyotype ở 445 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp, Fortuny và cs (1988) đã phát hiện trong các cặp vợ chồng mang rối loạn NST kiểu chuyển đoạn có 16 cặp mang chuyển đoạn tương hỗ và 3 cặp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm [30]
Jiang J và cs năm 2001 đã tiến hành làm xét nghiệm NST cho 61 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên Các tác giả phát hiện 1 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ và 5 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm [42]
Năm 2007 khi Simona Farcas và cs phân tích NST của 260 cặp vợ chồng có
Trang 23chuyển đoạn có 9 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm 1,73%) và 6 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm (chiếm 1.15%) [64]
A L Zarina và cs (2006) cho biết chuyển đoạn tương hỗ chiếm 0,2% trong dân số Tuy nhiên ở những cặp vợ chồng có nhiều hơn 3 lần sảy thai ở 3 tháng đầu tiên thì tỷ lệ này có thể tăng tới 9,2% [14]
Usha R Dutta (2010) và cs đã phân tích NST của 1162 cặp vợ chồng có tiền
sử sảy thai liên tiếp ở vùng phía nam Ấn độ Nghiên cứu này chỉ ra rằng phần lớn các trường hợp bất thường được tìm thấy là chuyển đoạn tương hỗ cân bằng Trong
78 trường hợp bất thường có 3 loại chuyển đoạn giữa các cặp NST lần đầu tiên được phát hiện bao gồm (3;14), (18;22) và (X;22) [72]
Trong rối loạn cấu trúc NST kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm có chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D), chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với các NST nhóm G (D/G) hoặc chuyển đoạn giữa các NST nhóm G với các NST nhóm G (G/G) Dưới đây là một số các nghiên cứu về chuyển đoạn hòa hợp tâm ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
Khi nghiên cứu một cặp vợ chồng 25 tuổi với tiền sử 2 lần sảy thai liên tiếp
PR Scarbrough và cs (1984) thực hiện băng G trên tế bào của người chồng phát hiện
sự có mặt của chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 13 (thuộc nhóm D) với NST
số 14 (thuộc nhóm D), karyotype của chồng 45,XY,t(13q;14q) Phân tích NST của người vợ phát hiện chuyển đoạn tương hỗ cân bằng giữa NST số 7 và NST số 13, karyotype là 46,XX,t(7;13)(p21;q22) [59]
Một cặp vợ chồng 41 tuổi có tiền sử 11 lần sảy thai liên tiếp được Anil Biricik và cs (2004) phân tích NST và lập karyotype Kết quả người chồng mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 15 (thuộc nhóm D) với NST số 15 (thuộc nhóm D), karyotype là 45,XY,t(15q;15q), người vợ có karyotype bình thường 46,XX [15]
Trang 24391 cặp vợ chồng có con mắc bệnh Down được Stoll.C và cs (1998) phân tích NST Các tác giả đã phát hiện được 7 cặp bố mẹ mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm cân bằng giữa NST số 14 (nhuộc nhóm D) và NST số 21 (thuộc nhóm G) Karyotype ở những người mẹ là 45,XX,t(14q;21q) và ở những người bố là 45,XY,t(14q;21q) [63]
Phân tích NST trong một gia đình mang thai lần thứ nhất có con gái bình thường, lần thứ 2 bị sảy và lần thứ 3 sinh được một trẻ trai mắc bệnh Down Cyril cyrus và cs (2006) phát hiện ở người vợ có karyotype bình thường là 46,XX, chồng
là người bình thường nhưng mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 13 (thuộc nhóm D) với NST số 21 (thuộc nhóm G), karyotype của chồng là 45,XY,t(13q;21q) [21]
Ngoài rối loạn cấu trúc kiểu chuyển đoạn giữa 2 NST như trên, đã có một số báo cáo về chuyển đoạn NST phức tạp sau đây:
Ulrike A Mau và cs (2000) đã báo cáo kết quả phân tích NST trong một gia đình có một trẻ mắc bệnh Down do chuyển đoạn với karyotype là 46,XY,t(15q;21q) Người bố có karyotype bình thường 46, XY, người mẹ mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 15 (thuộc nhóm D) với NST số 21 (thuộc nhóm G) và đảo đoạn quanh tâm NST số 21, karyotype là 45,XX,t(15q;21q),inv(21)(q21.1q22.1) [71]
Một trường hợp rối loạn NST cân bằng phức tạp bao gồm NST số 9, 14 và
13 ở người phụ nữ với tiền sử sảy thai liên tiếp được Sei Kwang Kim và cs (2001) nghiên cứu Phân tích NST cho thấy karyotype của chồng bình thường, karyotype của vợ mang rối loạn NST cân bằng phức tạp bao gồm NST 9, 14 và 13, có 3 điểm đứt: 9p21.2, 14q21 và 13q12.2, karyotype của vợ là 46,XX,t(9;14;13)(p21.2,q21;q12.2) [65]
Năm 2009 Priya A.Iyer và cs đã báo cáo về một trường hợp ở người phụ nữ
Trang 25của người phụ nữ này mang một chuyển đoạn phức tạp bao gồm NST số 7, 13 và
15, karyotype là 46,XX, t(7;15;13)(p15;q21;q31) Trong khi đó karyotype của bố
mẹ và của chồng là hoàn toàn bình thường [60]
1.3.3.2 Tần số các kiểu rối loạn khác ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh
Năm 1981 Claude Stoll đã phân tích NST của 122 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ ba lần trở lên, 2 karyotype bất thường khác được phát hiện là 46,XXq- và 47,XXX [20]
J.P Fryns và cs (1984) đã phân tích NST trong 1068 cặp với tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh Ngoài bất thường NST kiểu chuyển đoạn các tác giả đã phát hiện có 6 trường hợp mang các loại bất thường NST khác (chiếm
tỷ lệ 0,56%) [41]
Năm 1986 Mauro Campana và cs nghiên cứu vai trò của bất thường NST trong sảy thai liên tiếp ở 5445 cặp vợ chồng (396 cặp được các tác giả tiến hành phân tích NST, 5049 cặp được tập hợp từ các tài liệu khác) có sảy thai tự nhiên 2 lần trở lên Các tác giả cho biết trong 1% những cặp có bất thường NST, phần lớn là lệch bội tế bào soma hoặc thể khảm, đảo đoạn quanh tâm của vùng dị nhiễm sắc NST số 9 được phát hiện trong 3% của 396 cặp đã được phân tích NST và 1% trong
số 5049 cặp tập hợp từ các tài liệu khác [52]
Khi tiến hành làm xét nghiệm NST cho 61 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên, Jiang J và cs (2001) đã phát hiện 1 trường hợp mang đảo đoạn quanh tâm [42]
M Azim (2003) sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST ở cả hai vợ chồng của 300 cặp có hai hoặc nhiều hơn hai lần sảy thai tự nhiên Kết quả cho thấy trong các trường hợp mang bất thường NST có 5 trường hợp là đảo đoạn, 2 trường hợp mất đoạn và 2 trường hợp có bất thường NST giới tính [54]
Trang 26Năm 2005 Dubey và cs nghiên cứu ở 742 cặp vợ chồng (1484 trường hợp)
có tiền sử sảy thai liên tiếp hoặc sinh con bị dị tật bẩm sinh Phân tích NST và lập karyotype ở những cặp vợ chồng này đã phát hiện có 9 trường hợp (chiếm tỷ lệ 1,2%) là bất thường về số lượng NST [23]
Báo cáo của Lakshmi Rao và cs (2005) khi phân tích NST của 160 căp vợ chồng với tiền sử sảy thai liên tiếp Các tác giả đã phát hiện đảo đoạn NST chiếm tỷ
lệ phổ biến trong các trường hợp mang rối loạn cấu trúc NST [46]
Năm 2006 Figen Celepa và cs đã phân tích NST của 645 cặp ( 1290 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp Kết quả trong số các trường hợp mang bất thường NST thì bất thường về cấu trúc chiếm 3,71% và bất thường về số lượng chiếm 0,15% [27]
Theo Razied Dehghani Firoozabadi M.D và cs năm 2006: Phân tích NST của
88 cặp cho thấy 12,5% trong số họ là bất thường Phần lớn trong số họ có monosomi X (6,82%) [61]
Năm 2007 L.V.Tavokina và cs đã phân tích NST của 210 cặp vợ chồng có tiền sử khó khăn về sinh đẻ Các tác giả cũng đa tìm thấy 19 (chiếm tỷ lệ 4,52%) thể khảm với rối loạn NST X và Y [51]
1.4 Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam
Năm 2002 Nguyễn Văn Rực và cs sử dụng phương pháp nhuộm băng G đã phân tích NST ở 30 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh, kết quả đã phát hiện 8 trường hợp mang NST chuyển đoạn cân bằng [4]
Trịnh Văn Bảo và cs (2002) phân tích NST và lập karyotype của 195 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật Kết quả các tác giả đã phát hiện 4 trường hợp mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm bao gồm 1 người vợ mang chuyển đoạn giữa NTS số 13 (thuộc nhóm D) với NST số 13 (thuộc nhóm D), karyotype là
Trang 2745,XX, t(13q;13q); 2 trường hợp người chồng cũng mang NST chuyển đoạn giữa NST số 13 (thuộc nhóm D) với NST số 13 (thuộc nhóm D), karyotype là 45, XY, t(13q;13q); 1 trường hợp người chồng mang NST chuyển đoạn giữa NST số 13 (thuộc nhóm D) với NST số 21 (thuộc nhóm G), karyotype là 45, XY, t(13q;21q) [1]
Nguyễn Văn Rực (2004) khi phân tích NST và lập karyotype ở 100 cặp vợ chồng có con mắc hội chứng Down đã phát hiện 1 cặp vợ chồng, trong đó người vợ
có karyotype bình thường (46, XX); người chồng mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NTS 21 (thuộc nhóm G) với NST 21 (thuộc nhóm G), karyotype là 45,
XY, t(21q;21q) Tác giả cũng cho biết nguy cơ của cặp vợ chồng này là 100% sinh con Down [5]
Nguyễn Nam Thắng và cs (2004) đã báo cáo về tình hình sảy thai, thai chết lưu ở một số xã của tỉnh Thái Bình và đặc điểm NST của một số cặp vợ chồng sảy thai, thai chết lưu Khi phân tích NST bằng kỹ thuật nhuộm băng G cho 34 người vợ
và 33 người chồng có tiền sử bị sảy thai Trong số đó đã phát hiện có 3 người mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm dạng cân bằng (2 nữ, 1 nam), 64 trường hợp còn lại
có karyotype bình thường [12]
Phan Thị Hoan (2005) khi phân tích karyotype của 2 cặp vợ chồng sinh 2 con mắc hội chứng Down Kết quả: 1 cặp vợ chồng có karyotype bình thường người chồng là 46, XY, người vợ là 46, XX; 1 cặp vợ chồng sinh con Down do chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 13 với NST số 21 thì người vợ mang NST chuyển đoạn có karyotype là 45, XX, t(13q;21q), người chồng có karyotype bình thường
46, XY [2]
Nguyễn Văn Rực và cs (2006) phân tích NST ở 69 cặp vợ chồng (138 trường hợp) sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh Kết quả thu được có 7 trường hợp bị rối loạn NST cân bằng chiếm 5,07% bao gồm 3 nữ và 4 nam Trong đó có 6
Trang 28trường hợp là rối loạn về cấu trúc (3 chuyển đoạn tương hỗ và 3 chuyển đoạn hòa hợp tâm), 1 trường hợp mang rối loạn về số lượng NST [6]
Cũng trong năm 2006 Nguyễn Văn Rực đã báo cáo nguy cơ bất thường về sinh sản ở một số cặp vợ chồng mang NST chuyển đoạn cân bằng Trong số 9 cặp
vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đã được phát hiện là mang NST chuyển đoạn cân bằng Trong đó có 4 trường hợp gặp ở người vợ
và 5 trường hợp gặp ở người chồng Trong 9 trường hợp mang NST chuyển đoạn này có 8 trường hợp là kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm và 1 trường hợp là kiểu chuyển đoạn tương hỗ [7]
Nguyễn Văn Rực (2008) phân tích NST ở 157 cặp vợ chồng sinh con Down
đã phát hiện 3 cặp vợ chồng (chiếm tỷ lệ 1,9%) có karyotype bất thường mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm Một cặp mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 14 với NST số 21, ở 2 cặp (người chồng hoặc người vợ) mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 21 với NST số 21 [9]
Trang 29CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 10 năm 2011, tổng số 350 cặp vợ chồng (700 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh từ các bệnh viện Phụ sản Trung Ương, bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Khoa sản bệnh viện Bạch Mai… đã gửi đến bộ môn Y sinh học – Di truyền , trường Đại học Y Hà Nội yêu cầu xét nghiệm NST
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp ít nhất từ hai lần trở lên hoặc sảy thai và sinh con bị dị tật bẩm sinh
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Những cặp vợ chồng có tiền sử mắc các bệnh mãn tính (viêm gan siêu vi trùng, bệnh đái đường…) hoặc có tiếp xúc với các loại hóa chất độc, thuốc bảo vệ thực vật, nghiện rượu hoặc thuốc lá… hoặc những cặp vợ chồng đang mang thai nhưng bị tai nạn lao động hoặc giao thông v v.…
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Lập hồ sơ bệnh án di truyền
Những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đã được thăm khám lâm sàng, khai thác về tiền sử gia đình, tiền sử bản thân bao gồm: tuổi, nghề nghiệp, các bệnh mãn tính (bệnh đái tháo đường, các bệnh về tuyến giáp…), các bệnh nhiễm trùng (viêm gan siêu vi trùng, các bệnh phụ khoa…),
có tiếp xúc với các hóa chất độc, thuốc bảo vệ thực vật, có nghiện rượu, thuốc lá…
và tiền sử về sản khoa…
Trang 302.2.2 Phương pháp nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi để thu
hoạch cụm kỳ giữa, phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotype
2.2.2.1 Nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi theo phương pháp của
và 0,1ml PHA ( phytohemagglutinin) Đậy nắp rồi để túyp nuôi cấy trong tủ ấm
37oC thời gian 72 giờ Đến giờ thứ 70 bổ sung vào túyp nuôi cấy 1ml dung dịch Colcemid với nồng độ 1µg/1ml để tích lũy nhiều cụm kỳ giữa và thu hoạch tế bào
ở giờ thứ 72
2.2.2.2 Thu hoạch tế bào
- Túyp nuôi cấy được li tâm với tốc độ 800 – 1000 vòng/1 phút thời gian 10 phút
- Loại bỏ dịch phía trên giữ lại phần cặn lắng chứa các tế bào, 30ml dung dịch nhược trương KCl 0,075 M cho vào túyp nuôi cấy và để trong tủ ấm 37oC thời gian khoảng 45 phút để phá vỡ màng tế bào
- Li tâm, loại bỏ phần dịch phía trên, giữ lại phần cặn chứa nhân tế bào và các cụm NST ở kỳ giữa
- Làm sạch mẫu vật bằng cách trộn với dung dịch Carnoy (3 methanol : 1 acid acetic ) rồi li tâm loại bỏ dịch nổi ở phía trên (3 lần)
Trang 31- Lần cuối cùng khi mẫu vật đã sạch, sau khi li tâm loại bỏ dịch ở phía trên, dùng ống hút nhỏ giọt pipet Pasteur hút lấy phần cặn chứa nhân tế bào và các cụm kỳ giữa và dàn tế bào đều lên lam kính sạch đã được để lạnh
- Để tiêu bản khô tự nhiên rồi tiến hành nhuộm tiêu bản
2.2.2.3 Phương pháp nhuộm băng theo Seabright M (1971) [66]
- Nhuộm tiêu bản bằng phương pháp nhuộm băng G theo phương pháp của Seabright M (1971)
Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất:
Dụng cụ: 5 cốc thủy tinh loại 100ml để đựng hóa chất và thuốc nhuộm, 2 cốc
mỏ thủy tinh loại 500ml đựng nước rửa tiêu bản
Hóa chất: NaCl 0,15N, Trypsin 1: 250 (Difco) KH2PO4, Na2HPO42H2O, Giemsa
Cách pha hóa chất:
Dung dịch Trypsin mẹ 5%
Dung dịch Trypsin sử dụng: 1 ml dung dịch Trypsin mẹ
49 ml dung dịch NaCl 0,15N Dung dịch đệm photphat KH2PO4 : 3,56g/1 lít
Na2HPO42H2O: 7,22g/1 lít H2O Dung dịch Giemsa 4%: 2 ml dung dịch Giemsa mẹ
48 ml dung dịch đệm photphat pH 6,8 Các bước tiến hành được thực hiện trong điều kiện ở nhiệt độ phòng thí nghiệm:
Trang 32Nhúng tiêu bản vào cốc đựng dung dịch NaCl 0,15N thời gian khoảng 25 –
30 giây
Sau đó tiêu bản được cho vào một cốc khác đựng dung dịch Trypsin 0,1% (Difco 1: 250)
Rửa tiêu bản lặp lại 2 lần trong một cốc đựng dung dịch NaCl 0,15N
Tiêu bản được nhuộm bằng thuốc nhuộm Giemsa 4% pH = 7, thời gian 10 phút
Tất cả các tiêu bản sau khi nhuộm xong được rửa trong 2 cốc đựng nước máy hoặc dưới vời nước máy chảy nhẹ Kiểm tra độ phân vùng dưới kính hiển vi, rồi sau
đó để tiêu bản khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng thí nghiệm
2.2.2.4 Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotype: theo tiêu
chuẩn ISCN (2005) [68]
Phân tích NST được thực hiện dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại
1000 lần Mỗi cặp vợ chồng được phân tích NST:
- Với tiêu bản nhuộm băng G, chúng tôi phân tích 20 cụm kỳ giữa bao gồm: đếm số lượng NST, phát hiện những bất thường cấu trúc của NST Trường hợp thể khảm có thể phân tích 100 cụm kỳ giữa
- Tiêu chuẩn đánh giá: quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại x1000, tìm các cụm NST của tế bào đang phân chia ở kỳ giữa Sau đó chọn các cụm có các NST trải đều trên một diện tích và tạo thành một đám tròn tương đối đều đặn, các NST không chồng chất lên nhau có thể phân biệt được từng chiếc và đếm chính xác số lượng NST của từng cụm Cũng trong các cụm đó, quan sát kỹ từng chiếc NST, phát hiện những bất thường về cấu trúc
Trang 33Lập karyotype: Mỗi bệnh nhân được chọn 3 cụm kỳ giữa và lập karyotype trên phần mềm của vi tính theo tiêu chuẩn ISCN – 2005 (An International System for Human Cytogenetic Nomenclature)
Tổng hợp các số liệu đã quan sát rồi kết luận về số lượng và cấu trúc của bộ NST
2.2.3 Xử lý số liệu
Các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh được thăm khám và xét nghiệm NST, lập karyorype Các số liệu được mã hóa nhập vào máy vi tính, xử lý và kiểm tra độ chính xác bằng các phương pháp thống kê Y học Số liệu được xử lý và phân tích bằng chương trình Microsoft Excel 2007
Các ứng dụng:
- Các hàm tính toán: SUM, AVERAGE, STDEV, MIN, MAX…
- Vẽ đồ thị và biểu đồ
Trang 34CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Trong thời gian từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 10 năm 2011, tổng số 350 cặp vợ chồng (700 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh được thăm khám lâm sàng tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương, bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Khoa sản bệnh viện Bạch Mai…đã gửi đến bộ môn Y sinh học – Di truyền, trường Đại học Y Hà Nội yêu cầu xét nghiệm NST, phân tích và lập karyotype, chúng tôi thu được kết quả như sau:
3.1 Tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
Tổng số 350 cặp vợ chồng (700 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh Trong đó:
- Tuổi của người vợ thấp nhất là 19 tuổi, cao nhất là 40 tuổi, trung bình 28,94 ± 4,3
- Tuổi của người chồng thấp nhất là 23 tuổi, cao nhất là 50 tuổi, trung bình 33 ± 6
Bảng 1 Sự phân bố theo tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
Trang 35như: Simona Farcas và cs khi nghiên cứu vai trò của chuyển đoạn NST trong sảy thai liên tiếp đã phân tích NST của 260 cặp vợ chồng sảy thai từ 2 đến 10 lần trong
đó tuổi của người vợ từ 20 – 43 tuổi [64] Razied Dehghani Firoozabadi M.D và cs phân tích NST của 88 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp, trong đó người vợ
có tuổi từ 18 đến 43, trung bình là 27,4 [61] Sei Kwang Kim và cs [65] phân tích NST của một cặp vợ chồng, người vợ 29 tuổi và người chồng 31 tuổi P R Scarbrough và cs [59] đã phát hiện một cặp vợ chồng cả hai đều 25 tuổi, người vợ mang chuyển đoạn tường hỗ t(7p;13q), người chồng mang chuyển đoạn hòa hợp tâm t(13q;14q) Rối loạn NST phức tạp ở người vợ 25 tuổi, karyotype 46,XX,t(7;15;13) (p15;q21;q31), người chồng 28 tuổi có karyotype bình thường 46,XY được PriyaA.Iyer [60] phát hiện
Khi nghiên cứu về đặc điểm karyotype ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh Nguyễn Văn Rực [6] đã phân tích NST ở người
vợ có tuổi thấp nhất là 23, cao nhất là 39 và trung bình là 29,79 ± 2,6; tuổi của người chồng thấp nhất là 25, cao nhất là 50 và trung bình là 33,36 ± 4,2 Nhìn chung theo thống kê của nhiều tác giả trên thế giới và Việt Nam thì độ tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đều nằm trong độ tuổi sinh sản
Stephenson MD và cs (2002) khi phân tích các thai sảy đã có nhận xét rằng nguyên nhân chính của sảy thai là do yếu tố di truyền Tỷ lệ rối loạn NST theo thứ
tự là trisomi NST thường, đa bội và monosomi NST X Phần lớn thai trisomi có liên quan đến tuổi của người mẹ, và sảy thai tự nhiên ít liên quan đến người mẹ trẻ tuổi hơn so với người mẹ > 36 tuổi có tiền sử sảy thai liên tiếp [67]
Những cặp vợ chồng trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất ở người vợ là 20 - 30 tuổi có 237 trường hợp chiếm 67,72%, ở người chồng là
30 - 40 tuổi có 172 trường hợp chiếm 49,14% Nhóm chiếm tỷ lệ cũng tương đối cao ở người vợ là từ 30 - 40 tuổi có 107 trường hợp chiếm 30,57%, ở người chồng
là nhóm 20 - 30 tuổi có 145 trường hợp chiếm 41,43% Hai nhóm chiếm tỷ lệ thấp
Trang 36là ≤ 20 tuổi và > 40 tuổi Nhìn chung các bệnh nhân trong nghiên cứu này phần lớn nằm trong độ tuổi mà khả năng sinh sản là cao nhất
Theo chúng tôi kết quả ở bảng 1 là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ ở Việt Nam độ tuổi của nữ từ 20-30 là độ tuổi xây dựng gia đình phổ biến nhất hiện nay Hơn nữa bình thường một cặp vợ chồng ở độ tuổi này sau khi xây dựng gia đình thường muốn có con ngay nên sau một, hai lần sảy thai hay sinh con bị dị tật bẩm sinh họ
đã đi khám và được chỉ định xét nghiệm NST, do đó các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh thường phát hiện được ở nhóm tuổi này Nhóm tuổi 30 – 40 ở người chồng chiếm tỷ lệ cao, theo chúng tôi, ngày nay xu hướng càng nhiều người xây dựng gia đình muộn nhất là ở khu vực thành thị và thường sau một vài lần bị sảy thai hay sinh con bị dị tật họ mới đi khám và được chỉ định xét
Nguyễn Văn Rực phân tích đặc điểm karyotype của những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh trong đó ở người vợ nhóm cán bộ công chức chiếm 63,77%, nhóm làm ruộng chiếm 26,09% và nhóm làm các nghề khác chiếm 10,14%, ở người chồng nhóm cán bộ công chức chiếm 60,87%, nhóm làm ruộng 14,49%, bộ đội chiếm 7,25%, nhóm làm các nghề khác chiếm 17,39% [6]
Trang 37Bảng 2 Sự phân bố về nghề nghiệp ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh
(chiếm 4,57%)
Nhìn chung các tác giả trong nước và thế giới khi phân tích về các yếu tố nguy cơ trong các trường hợp sảy thai liên tiếp đã có nhận xét rằng: những cặp vợ chồng do nghề nghiệp phải tiếp xúc với các chất đồng vị phóng xạ, các loại hóa