Nhằm hổ trợ cho việc lập kế hoạch đào tạo nêu trên một cách phù hợp và hiệu quả, cần thiết có một nghiên cứu đánh giá về thực trạng kiến thức, thực hành về YHCT của đội ngũ cán bộ hiện đ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 3Để hoàn thành khóa học và luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Y Hà Nội
- Ban Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương
- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Vinh
Đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn:
- PGS.TS Đỗ Thị Phương - người thầy đã luôn tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong quá trình học tập, đồng thời trực tiếp hướng dẫn để em hoàn thành luận văn và có được
kết quả như ngày hôm nay
- PGS.TS Phạm Văn Trịnh, PGS.TS Phạm Vũ Khánh, PGS.TS Chu Văn Thăng, PGS.TS Nguyễn Văn Toại, PGS.TS Lê Thị Hiền - là những người Thầy trong Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã đóng
góp nhiều ý kiến quý báu để em hoàn thành luận văn
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới BSCKII Phạm Việt Hoàng, người đã cùng tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình thu thập số
liệu và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo, Cán bộ Khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn Sở Y tế tỉnh Hưng Yên, Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Đa khoa và các Trung tâm y tế tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện cho em thu thập số liệu để hoàn thành luận này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Gia đình, Bạn bè đã dành sự
quan tâm, chăm sóc, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2011
BS Trần Thị Oanh
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kì một công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với cam đoan trên
Hà Nội, tháng 10 năm 2011
Trần Thị Oanh
Trang 5BS : Bác sỹ BSCK : Bác sỹ chuyên khoa BSCKI : Bác sỹ chuyên khoa 1 BSCKII : Bác sỹ chuyên khoa 2 CBYT : Cán bộ y tế
CSCK : Cơ sở chuyên khoa CSĐK : Cơ sở đa khoa CSSK : Chăm sóc sức khỏe CSSKBĐ : Chăm sóc sức khỏe ban đầu CSYT : Cơ sở y tế
ĐH : Đại học
KN : Kỹ năng
KT : Kiến thức SĐH : Sau đại học TCYTTG : Tổ Chức Y tế thế Giới Th.s : Thạc sỹ
TS : Tiến sỹ YDHCT : Y dược học cổ truyền YHCT : Y học cổ truyền YHHĐ : Y học hiện đại
YS : Y sỹ
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8U 1.1 Vai trò của nguồn nhân lực YHCT trong việc cung cấp các dịch vụ YHCT phục vụ công tác CSSK nhân dân 8
1.1.1 Ở một số nước trên thế giới 8
1.1.2 Ở Việt Nam 14
1.2 Khái quát một số thực trạng về kiến thức, thực hành của mạng lưới cung cấp dịch vụ YHCT 19
1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về YHCT của cán bộ YHCT 22
1.4 Khái quát vài nét về mạng lưới YHCT tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Hưng Yên 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2 Các biến số nghiên cứu 27
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 28
2.2.4 Công cụ thu thập thông tin 28
2.2.5 Phân loại và đánh giá mức độ kiến thức và thực hành về Y học cổ truyền của các cán bộ YHCT 29
2.2.6 Xử lý số liệu 32
2.2.7 Khống chế sai số 32
Trang 72.3 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Mô tả hiện trạng nguồn nhân lực cán bộ YHCT tại các cơ sở YHCT công lập 34
3.2.Thực trạng kiến thức và thực hành về YHCT của các cán bộ chuyên ngành YHCT 39
3.2.1 Kiến thức của CBYT về YHCT 39
3.2.2 Kỹ năng thực hành YHCT của CBYT về YHCT 45
Chương 4: BÀN LUẬN 50
4 1 Một số đặc điểm chung của CBYT chuyên ngành YHCT tỉnh Hưng Yên 50 4.2 Kiến thức và thực hành về y học cổ truyền của CBYT chuyên ngành YHCT tỉnh Hưng Yên 54
4.2.1 Một số bàn luận về kiến thức YHCT của CBYT: 54
4.2.2 Thực hành về YHCT 60
KẾT LUẬN 66
KIẾN NGHỊ 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm về trình độ chuyên môn 36
Bảng 3.2 Đặc điểm về thâm niên công tác 36
Bảng 3.3 Đặc điểm về đào tạo thông qua số lần tham gia tập huấn 37
Bảng 3.4 Phân loại mức độ kiến thức về chỉ định dùng bài thuốc cổ phương 39 Bảng 3.5 Phân loại mức độ kiến thức về vị thuốc trong bài cổ phương 39
Bảng 3.6 Phân loại mức độ kiến thức về vị thuốc có trong bài thuốc nghiệm phương 40
Bảng 3.7 Phân loại mức độ kiến thức về sử dụng các chế phẩm thuốc cổ truyền 40
Bảng 3.8 Phân loại mức độ kiến thức về lựa chọn công thức huyệt trong điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc 41
Bảng 3.9 Liên quan giữa tuổi, giới với kiến thức YHCT 41
Bảng 3.10 Liên quan giữa thâm niên công tác, nơi đào tạo và có tham gia hành nghề y tế tư nhân của CBYT với kiến thức YHCT 42
Bảng 3.11 Liên quan giữa tập huấn và tự đọc tài liệu của CBYT với kiến thức YHCT 43
Bảng 3.12 Liên quan giữa tuyến cơ sở y tế (CSCK và CSĐK) với kiến thức YHCT của CBYT 44
Bảng 3.13 Liên quan giữa tuyến công tác(tuyến tỉnh và tuyến huyện) với kiến thức YHCT của CBYT 44
Bảng 3.14 Phân loại mức độ kỹ năng kê đơn 45
Bảng 3.15 Phân loại mức độ kỹ năng châm cứu 45
Bảng 3.16 Phân loại mức độ kỹ năng xoa bóp 46
Bảng 3.17 Phân loại thực hành theo điểm TB về kỹ năng kê đơn, xoa bóp và châm cứu của các cán bộ YHCT tỉnh Hưng Yên theo tuyến công tác 46
Bảng 3.18 Liên quan giữa tuổi, giới của CBYT với thực hành YHCT 47
Trang 9Bảng 3.19 Liên quan giữa thâm niên công tác, nơi đào tạo và việc có hành
nghề y tế tư nhân của CBYT với thực hành YHCT 47Bảng 3.20 Liên quan giữa tập huấn và tự đọc tài liệu của CBYT với thực
hành YHCT 48Bảng 3.21 Liên quan giữa tuyến cơ sở (CSCK và CSĐK) với thực hành
YHCT của CBYT 49Bảng 3.22 Liên quan giữa tuyến công tác (tuyến tỉnh và tuyến huyện) với
thực hành YHCT của CBYT 49
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm phân bố về tuổi, giới và dân tộc 34
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm phân bố về giới 35
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm phân bố về dân tộc 35
Biểu đồ 3.4 Đặc điểm hành nghề tư nhân 37
Biểu đồ 3.5 Nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng kiến thức YHCT 38
Biểu đồ 3.6 Mong muốn của CBYT về các hình thức đào tạo 38
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những nước có truyền thống sử dụng Y học cổ truyền (YHCT) lâu đời Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, YHCT Việt Nam đã trở thành một nền y học chính thống của dân tộc, đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm phòng và chữa bệnh có hiệu quả Đặc biệt sau khi nước nhà dành được độc lập, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương chính sách quan trọng về phát triển YHCT như chủ trương kết hợp Y học hiện đại (YHHĐ) và YHCT, tổ chức hệ thống khám và chữa bệnh bằng YHCT từ tuyến trung ương đến các địa phương [12] Năm 2003 Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt Chính sách quốc gia về Y dược học cổ truyền đã đề ra những mục tiêu, những giải pháp và chính sách cụ thể mà ngành y tế cần đạt được đến năm
2010 Trong đó có mục tiêu củng cố và hoàn thiện hệ thống khám chữa bệnh bằng YHCT, đề ra các chỉ tiêu khám chữa bệnh và sử dụng thuốc YHCT ở các tuyến y tế [4],[5],[6]
Để có thể triển khai thực hiện các chính sách một cách phù hợp và hiệu quả, trong hoàn cảnh cộng đồng có nhiều biến đổi về mọi mặt văn hóa, kinh
tế, chính trị, nhận thức Các cuộc điều tra về thực trạng nền y tế hiện nay trong đó điều tra về thực trạng nhân lực và sử dụng YHCT đã và đang được thực hiện
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, với diện tích 9230.45 km2 dân số 1167134 người (niên giám 2008) Là một tỉnh đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, trong những năm qua ngành y tế Hưng Yên đã có những bước phát triển lớn về chất lượng khám chữa bệnh, đặc biệt là công tác khám chữa bệnh YHCT Chủ trương của
Trang 12ngành y tế Hưng Yên trong giai đoạn tới là tăng cường cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ y tế nói chung và YHCT nói riêng
Để góp phần thực hiện tốt chủ trương trên, công tác đào tạo tăng cường năng lực khám chữa bệnh của đội ngũ cán bộ y tế trực tiếp tham gia khám chữa bệnh bằng YHCT là có vai trò rất quan trọng và được ngành YHCT địa phương xác định như một ưu tiên trong kế hoạch của ngành giai đoạn 2010-2015 Trong năm 2010- 2011 Sở y tế và Bệnh viện YHCT tỉnh Hưng Yên đã tiến hành lập một kế hoạch tổng thể đào tạo nâng cao năng lực cán
bộ YHCT của toàn tỉnh
Nhằm hổ trợ cho việc lập kế hoạch đào tạo nêu trên một cách phù hợp và hiệu quả, cần thiết có một nghiên cứu đánh giá về thực trạng kiến thức, thực hành về YHCT của đội ngũ cán bộ hiện đang tham gia cung cấp dịch vụ YHCT tại các cơ sở y tế công lập của tỉnh Hưng Yên Do vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá thực trạng kiến thức, Thực hành về Y học cổ truyền của cán bộ y tế công lập tỉnh Hưng Yên năm 2010” với các mục tiêu
cụ thể sau:
1 Mô tả hiện trạng nguồn nhân lực Cán bộ YHCT tại các cơ sở YHCT công lập tỉnh Hưng Yên
2 Đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành về YHCT của các cán
bộ chuyên ngành YHCT tỉnh Hưng Yên
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vai trò của nguồn nhân lực YHCT trong việc cung cấp các dịch vụ YHCT phục vụ công tác CSSK nhân dân
1.1.1 Ở một số nước trên thế giới
Sự hiểu biết về YHCT là tài sản của mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng dân cư
và nó cần được bảo tồn [57] Hội nghị quốc tế về YHCT tại Senegan đã đưa
ra tuyên bố về sự khẩn cấp bảo vệ YHCT ở các quốc gia trên thế giới [43] Hội nghị quốc tế của các nước ASEAN về Y dược học cổ truyền (lần thứ nhất đã được tổ chức tại thủ đô Bang kok- Thái Lan vào năm 2009 và lần thứ
2 được tổ chức tại thành phố Hà Nội vào năm 2010 Hai hội nghị đã bàn và đề
ra nhiều giải pháp quan trọng nhằm tăng cường kiến thức và kỹ năng ứng dụng Y dược học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) Vai trò và giá trị sử dụng của YHCT ngày càng được thừa nhận rộng rãi trên khắp thế giới Hiện nay rất nhiều nước sử dụng YHCT trong phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng cũng như nâng cao sức khỏe và xác định YHCT như một nhân tố quan trọng bảo đảm sự thành công chiến lược CSSKBĐ Đội ngũ cán bộ YHCT có ảnh hưởng rất lớn đến sử dụng YHCT
Họ đóng vai trò là người cung cấp dịch vụ về YHCT và tạo niềm tin cho người dân khi lựa chọn YHCT [50]
Thách thức lớn nhất của YHCT là thiếu mạng lưới các thầy thuốc YHCT,
sự kiểm soát chất lượng và hiệu quả của thuốc cổ truyền Do vậy cần phải tăng cường phát triền YHCT, đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề cho các thầy thuốc YHCT, bảo vệ, duy trì kiến thức YHCT là nguồn dược liệu thiên nhiên Đây chính là những yếu tố cần thiết để duy trì sự cung cấp dịch vụ YHCT [59]
Trang 14Việc hành nghề và sử dụng YHCT tại các nước chắc chắn đóng vai trò quan trọng và đáng kể trong nhu cầu CSSKBĐ và cải thiện tình trạng kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia Vì vậy TCYTTG khuyến khích tất cả các nước thành viên hỗ trợ về YHCT và công tác đánh giá thường xuyên, xây dựng chính sách quốc gia và phương pháp tiếp cận cơ cấu thích hợp đối với việc hành nghề và sử dụng thuốc YHCT được tốt nhất, phù hợp với hệ thống CSSK đặc thù của mỗi quốc gia cho lợi ích y tế, tiến bộ kinh tế xã hội và tầm quan trọng thương mại phù hợp với mục tiêu của từng quốc gia [59]
Ở Brunei: Với việc xây dụng tầm nhìn chiến lược y tế đến năm 2035 và cùng hướng tới một quốc gia khỏe mạnh Brunei là một nước có đội ngũ cán
bộ được đào tạo từ các nước Trung quốc, Malaysia và Singapore và họ làm việc tại các trung tâm y tế, trạm xá hay khám bệnh tại nhà Phần lớn các hoạt động của đội ngũ cán bộ y tế về YHCT tập trung vào các dịch vụ mát xa, xông hơi, chăm sóc sắc đẹp [11]
Ở Campuchia: YHCT Khmer ra đời từ lâu trước khi thuốc tây có nguồn gốc ở Châu Âu phát triển và lan rộng với sự ra đời của khoa học hiện đại và công nghệ Năm 1998, một văn bản quy phạm pháp luật dưới Nghị định về Chính sách thuốc Quốc gia đã được thông qua và nói rằng YHCT cần được đẩy mạnh, đặc biệt trong CSSKBĐ, thông qua đào tạo, nghiên cứu khoa học
và công nghệ để phát triển sản phẩm YHCT Trong tháng 7 năm 2004, Thủ tướng đã tuyên bố rằng, “Chính phủ Hoàng gia Campuchia sẽ tiếp tục khuyến khích việc sử dụng các sản phẩm YHCT với thông tin thích hợp và sẽ kiểm soát việc kết hợp với sử dụng thuốc tây” Chính phủ Hoàng gia Campuchia công nhận việc hành nghề Y dược học cổ truyền và sử dụng thuốc YHCT trong hệ thống y tế cùng với YHHĐ Sự lồng ghép việc thực hành YHCT Với YHHĐ chỉ có thể xảy ra nếu các cán bộ y tế có kiến thức đầy đủ về YHCT, lợi thế và hạn chế của YHCT, tự tin vào sự an toàn, chất lượng và hiệu quả của thuốc YHCT [11]
Trang 15Lào: YHCT là một phần của nền văn hóa Lào kể từ thời xa xưa, nhân dân Lào đã có một hệ thống khám chữa bệnh bằng cổ truyền của riêng họ được truyền từ đời này sang đời khác bằng nhiều phương pháp khác nhau Từ khi thành lập nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, sự kết hợp YHCT với YHHĐ trong khám chữa bệnh là một chính sách liên tục của nhà nước Chính phủ nhận thức rõ vai trò quan trọng của YHCT và khuyến khích việc sử dụng YHCT một cách rộng rãi, cả trong khu vực y tế Nhà nước cũng như khu vực y
tế tư nhân Nhận thức tầm quan trọng của YHCT, Chính phủ Lào đã thành lập Viện YHCT vào năm 1976 Đây là viện YHCT duy nhất trên cả nước đang tiến hành nghiên cứu cây thuốc và YHCT Lào Một số bệnh viện tuyến tỉnh, huyện thành lập bộ phận YHCT để cung cấp dịch vụ CSSK cho người dân địa phương [11]
Malaysia: Bộ y tế Malaysia thừa nhận công tác thực hành về YHCT thông qua đạo luật về y tế năm 1971 Năm 2001 Chính sách Quốc gia về YHCT và y học bổ sung được Bộ Y tế ban hành Trong chính sách quốc gia, hoạt động giáo dục và đào tạo YHCT cũng là một điểm được nhấn mạnh Malaysia phát triển các tiêu chuẩn về chương trình giáo dục trong YHCT bắt đầu với sự phối hợp giữa đội ngũ hành nghề YHCT và các viện sỹ Chương trình giáo dục YHCT được thiết kế theo chuẩn Malaysia, trong đó nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc thẩm định chương trình đào tạo ở cơ quan thẩm định chuyên môn Malaysia Mỗi chương trình đào tạo tập trung cho cử nhân phải đủ ít nhất 120 giờ học tín chỉ, và 90 tín chỉ đối với đào tạo tập trung cho văn bằng Tỷ lệ lý thuyết và thực hành cũng khác nhau giữa các chương trình Theo đó ở trình độ cử nhân, lý thuyết chiếm 40%, thực hành chiếm 60% trong khi ở trình độ văn bằng, lý thuyết chiếm 30%, thực hành 70% Nhiều cơ sở đào tạo có trình độ đại học ở các địa phương khác nhau cũng tiến hành đào tạo cán bộ YHCT đạt chất lượng cao [11]
Trang 16Myanmar: Năm 1976, Viện Y học cổ truyền Myanmar được thành lập với mục đích đào tạo các học viên có trình độ YHHĐ và YHCT Hằng năm, số lượng học viên của học viện khoảng 100 người Đến năm 2001 Trường đại học Y cổ truyền được thành lập với số lượng sinh viên hằng năm của trường
là 125 người Nhằm thúc đẩy sự phát triển của Y học cổ truyền ở Myanmar, các hội nghị cho các bác sỹ YHCT đã được tổ chức hằng năm Các bác sỹ YHCT từ các khu vực khác nhau trên cả nước thu nhập và trao đổi kiến thức của mình tại hội nghị, các chính sách mới và mục tiêu được đề xuất, thảo luận
và cũng nhắc lại sự thống nhất của các bác sỹ về việc giữ gìn và tuyên truyền YHCT Myanmar [11]
Singapore: Ở Singapore mặc dù y học phương Tây được công nhận như là hình thức chính của nền y học ở đây, nhưng YHCT vẫn chiếm được tính phổ biến đáng kể Trước năm 1996, công tác đào tạo YHCT đã không được chuẩn hóa và một số trường đào tạo về YHCT địa phương thực hiện chương trình đào tạo không tập trung trong thời gian 3, 4 hay 5 năm theo các tiêu chuẩn khác nhau Từ năm 2006 các trường đào tạo YHCT ở nhiều địa phương cũng
đã liên kết với các trường đại học YHCT ở Trung Quốc đào tạo cấp bằng đại học và sau đại học về YHCT Bộ Y tế nước này đã làm việc với cộng đồng địa phương cùng với Đại học y dược học Bắc Kinh tiến hành khóa học đào tạo chính thức tại địa phương trong chiết xuất thảo dược Để chuẩn bị cho việc đăng ký hành nghề YHCT trong tương lai những học viên và sinh viên tốt nghiệp khóa học phải tự nguyện vào danh sách Hội đồng [11]
Thái Lan cũng là những nước có truyền thống sử dụng YHCT trền toàn Quốc Từ năm 1950 đến năm 1980 YHCT của Thái Lan gần như bị tê liệt hoàn toàn do coi trọng YHHĐ quá mức Điều đó đã ảnh hưởng đến chất lượng CSSKBĐ ở Thái Lan Từ 1980 chính phủ và ngành y tế Thái Lan đã kịp nhận ra những sai lầm này và có những biện pháp hữu hiệu khôi phục lại
Trang 17nền YHCT Hiện nay tại Thái Lan đã tiến hành đào tạo hệ cử nhân YHCT bên cạnh đào tạo bổ sung YHCT cho các cán bộ y tế làm YHHĐ [52]
Hàn Quốc là một quốc gia mà địa vị chính trị, xã hội của YHCT ngang bằng với YHHĐ Trong suốt chiều dài lịch sử hệ thống YHCT phương đông
đã và đang được sử dụng phổ biến, rộng rãi và chiếm được lòng tin của người dân Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc chú trọng đến phát triển nhiều loại hình cán bộ YHCT Đối với đội ngũ cán bộ y, bác sỹ đào tạo chính quy về YHCT, Hàn quốc có tới 11 trường đại học YHCT trong tổng số 59 trường đại học Y trong cả nước, hàng năm cung cấp khoảng 500 bác sỹ YHCT cho mạng lưới YHCT cả nước Theo công bố của bộ Y tế Hàn Quốc [36] năm 2000 tình hình nguồn nhân lực và số gường bệnh YHCT/YHHĐ như sau:
Trang 18Ở Châu Phi YHCT có vai trò lớn trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Người dân ở đây được giáo dục, tuyên truyền chiếm từ 80-85% từ những người cung cấp dịch vụ YHCT Nguồn nhân lực YHCT chiếm tỷ lệ khá cao
so với nguồn nhân lực YHHĐ, cụ thể như sau:
Một số nước khác thì vai trò của các lương y khá được coi trọng trong mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế Tại Ghana và Senegal đã triển khai các chương trình đào tạo thí điểm các lương y về YHCT với nội dung truyền đạt những kinh nghiệm đơn giản, phổ thông để phòng và chữa bệnh phổ cập ở cộng đồng [43] Tại Philipin có các hội thảo được tổ chức cho các lương y và những người hành nghề YHCT để chia sẻ kinh nghiệm trong sử dụng YHCT
để CSSK Đồng thời chính các lương y này cũng đóng góp các ý kiến trong việc soạn thảo và chế bản các tài liệu YHCT dùng trong truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân sau này [57]
Trong chiến lược phát triển YHCT năm 2002-2005, Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) tiếp tục khẳng định vai trò và giá trị của YHCT trong CSSKBĐ cho nhân dân[58] TCYTTG đã tích cực và nỗ lực và hỗ trợ cho các hoạt động
Trang 19phát triển nguồn nhân lực YHCT ở các nước như tổ chức các khóa đào tạo cho lương y ở Lào, Mông cổ, Philipin, Việt nam và các Quốc đảo tây Thái Bình Dương Mặt khác hỗ trợ nâng cao năng lực nghiên cứu về YHCT cho các nước thông qua tổ chức các hội thảo khu vực, các khóa đào tạo chuyên gia Trong tương lai TCYTTG sẽ tiếp tục hỗ trợ cho các nước thành viên khu vực tây Thái Bình Dương để hình thành và hoàn thiện chính sách quốc gia về YHCT Đồng thời những nghiên cứu mang tính khoa học về YHCT cũng sẽ được đẩy mạnh nhằm nỗ lực cải thiện tiếp cận thông tin, tạo điều kiện thử nghiệm và đào tạo nhân lực YHCT [48], [61]
1.1.2 Ở Việt Nam
Dân tộc Việt Nam đã có trên 4.000 năm lịch sử, có nhiều truyền thống xây dựng đất nước, đánh giặc giữ nước, phát triển văn hóa Nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm phòng bệnh và chữa bệnh bảo vệ sức khỏe và đã có một nền YHCT không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử [39]
Từ thời vua Hùng dựng nước, nhân dân Việt Nam đã biết dùng thuốc có nguồn gốc thiên nhiên, khoáng vật, thực vật và động vật để phòng và chữa bệnh Thoạt tiên việc tìm kiếm thu hái, chế biến, chữa trị còn mang tính kinh nghiệm, truyền miệng từ đời này sang đời khác Dần dần các kinh nghiệm tích lũy nhiều thêm được đúc kết thành kinh nghiệm riêng của từng khu vực, cộng thêm ảnh hưởng của triết học phương đông, đặc biệt là nền YHCT của Trung Quốc làm cho ngành YHCT Việt Nam không ngừng phát triển Đó là kinh nghiệm quý báu và phong phú của các dân tộc trên đất nước Việt Nam Trong việc phòng và chữa bệnh [39]
Vào thời nhà Lý(1010-1224), triều đình đã tổ chức Ty thái y chăm lo việc bảo vệ sức khỏe cho vua quan trong triều có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp lo việc chữa bệnh cho nhân dân, phát triển việc tổ chức trồng thuốc
Trang 20Vào thời nhà Trần (1225-1399), Nho giáo phát triển mạnh, chống mê tín
dị đoan làm cho y học phát triển thêm một bước Ở triều đình, Ty lương y đổi thành Viện thái y Năm 1362 triều đình đã tổ chức trồng, hái thuốc dùng cho quân đội và nhân dân, đặc biệt là phát thuốc cho dân ở các vùng có dịch Thời
kỳ này đã xuất hiện một số danh y nỗi tiếng và một số tác phẩm y học Đó là các đại danh y như Tuệ Tĩnh Ông được nhân dân ta suy tôn là vị “Thánh thuốc nam” Vào thời kỳ mà đa số các nước Đông Nam Á đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của y dược học Trung quốc thì Tuệ Tĩnh đưa ra quan điểm “Nam dược trị Nam nhân” Đây là một quan điểm vừa mang tính khoa học, tính nhân văn, nhân bản, vừa thể hiện được ý chí độc lập, tự chủ, lòng tự tôn dân tộc và tiềm năng trí tuệ của người Việt Nam trong phòng và chữa bệnh Tuệ Tĩnh cho rằng con người Việt Nam sống trên đất nước Việt Nam phải chịu ảnh hưởng của khí hậu, nước ăn, cây cỏ, động vật tại chỗ Để cho dân dễ hiểu,
dễ nhớ các phương pháp chữa bệnh bằng thuốc nam, Tuệ Tĩnh đã soạn sách bằng thơ phú để truyền bá YHCT [18], [39]
Dưới triều Lê Hữu Trác (1720-1791), là đại danh y của nước ta, ngoài việc chữa bệnh tận tụy, tài giỏi, ông còn soạn “ Hải thượng Y tông Tâm lĩnh” thể hiện một quan niệm y học chặt chẽ, nhất quán, được khái quát cao, đánh dấu một bước phát triển lớn của sự nghiệp YHCT Việt Nam Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển gồm 5 phần: lý luận cơ bản, bệnh học và phương tễ học, phần bệnh án, phần dinh dưỡng vệ sinh, dưỡng sinh Đây là tài liệu tương đối toàn diện phản ánh trình độ y dược, đến cuối thế kỷ 18 của Việt Nam và được coi
là bách khoa toàn thư của YHCT Việt Nam [15]
Dưới triều Tây Sơn (1789-1802) Lương y Nguyễn Hoành soạn tập thuốc Nam có trên 500 vị cây cỏ ở địa phương và 130 vị các loại động, khoáng vật làm thuốc với công cụ đơn giản theo kinh nghiệm của dân gian
Trang 21Từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến YHCT, tạo điều kiện cho YHCT phát triển
Năm 1946 các Hội YHCT được thành lập để phát triển Y dược dân tộc phục vụ chế độ mới Vào thời kỳ Nam Bộ kháng chiến, ban nghiên cứu Đông
y Nam bộ được thành lập với mục đích phục vụ nhân dân và bộ đội, đã xây dựng “Toa căn bản” trị bệnh thông thường Tập “Tủ thuốc nhân dân” được soạn để phổ biến và sử dụng thuốc YHCT
Tại Hội nghị cán bộ y tế ngày 27 tháng 2 năm 1955, Bác Hồ đã gửi thư cho ngành y tế Trong thư Bác viết: “Trong những năm bị nô lệ thì y học của nước ta cũng như các ngành khác bị kìm hãm Nay chúng ta đã độc lập tự
do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu chữa bệnh của nhân dân ta Y học phải dựa trên nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng Ông cha ta ngày trước đã có nhiều kinh nghiệm quý báu chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây ” [16]
Những chị thị số 101/TTg, 210 TTg/Vg, 21CP đã đề cập đến các vấn đề sau: “ Trên cơ sở khoa học, thừa kế và phát huy những kinh nghiệm tốt của Đông y kết hợp tây y, tăng cường khả năng phòng bệnh, tiến tới xây dựng nền
y học Việt Nam; cần xác định bệnh nào chữa bằng Đông y, bệnh nào chữa bằng Tây y, bệnh nào chữa bằng Đông Tây y kết hợp, theo phương hướng đó xây dựng nền y học Việt Nam Phải kết hợp Đông tây y trong toàn bộ công tác y tế, trong công tác tư tưởng tổ chức, đào tạo cán bộ phòng bệnh chữa bệnh, sản xuất pha chế thuốc, nghiên cứu khoa học, phải làm một cách có hệ thống từ thấp tới cao, từ Trung ương tới xã “Phải khẩn trương nắm lực lượng
Trang 22y học cổ truyền dân tộc, có kế hoạch thu hút và sử dụng tất cả các lương y hiện có vào mạng lưới y tế chung, đồng thời phải tích cực đào tạo đội ngũ cán
bộ kết hợp Đông Tây y” [1], [2]
Năm 1957 Hội Đông Y và vụ YHCT được thành lập với mục đích đoàn kết giới lương y và những người hành nghề y dược Đông y và Tây y Đồng thời phát huy các cơ sở YHCT, tạo điều kiện kết hợp YHCT và YHHĐ trong phòng và chữa bệnh [34]
Đến năm 1978, có 33/44 tỉnh thành có bệnh viện YHCT, có 259 khoa YHCT trong các bệnh viện đa khoa quân dân y chuyên trách việc kết hợp YHCT và YHHĐ có 4000 nghìn cơ sở y tế Các cơ quan, công nông trường
xí nghiệp, các trạm y tế xã dùng thuốc nam, châm cứu kết hợp YHCT và YHHĐ trong phòng chữa bệnh, sản xuất thuốc men, phục vụ kịp thời nhân dân trong vùng [45]
Từ năm 1978, các Trường Đại Học y dược Hà Nội và y dược Thành Phố Hồ Chí Minh đã đào tạo cán bộ YHCT trên đại học Ngoài ra còn có những lớp bổ túc YHCT cho các bác sĩ, dược sĩ bên y dược học hiện đại, theo chương trình dài hạn hay theo từng chuyên đề [26]
Tính đến tháng 12 năm 2005 cả nước ta đã có 54 viện và bệnh viện YHCT Trong đó có 2 bênh viện đầu ngành (Bệnh viện YHCT Trung ương, bệnh viện Châm cứu trung ương), 2 bệnh viện ngành (Quân đội, công an), và
50 bệnh viện YHCT tỉnh và thành phố Có 62/64 bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố có khoa YHCT và trên 50% các bệnh viện đa khoa khu vực và các bệnh viện huyện, thị có khoa hoặc bộ phận YHCT lồng ghép Tuy nhiên hầu hết các bệnh viện YHCT tỉnh, thành phố mới chỉ đạt bệnh viện hạng III với số giường bệnh thấp, biên chế còn rất thiếu Theo báo cáo của vụ YHCT, từ nay đến năm 2010 ngành y tế nước ta thiếu gần 3000 bác sỹ YHCT [21], [43]
Trang 23Nếu xét về mặt tổ chức hoạt động thì YHCT Việt Nam có một hệ thống tương đối hoàn chỉnh nhưng chưa đủ mạnh để thực hiện các yêu cầu của đảng cũng như nhu cầu của nhân dân [41], [42] Do vậy vấn đề đáp ứng cán bộ làm YHCT đủ năng lực đủ kiến thức và trình độ cho tất cả các tuyến y tế từ trung ương tới cơ sở trở nên cấp bách
Để củng cố và phát triển mạng lưới YHCT nói chung và mạng lưới YHCT tuyến cơ sở nói riêng, vào những năm cuối của thập kỷ 90, Đảng và Nhà nước đã có những quan tâm sát thực Ngày 30/08/1999 Chính phủ đã
có chỉ thị số 25/1999/CT-TTg về việc đẩy mạnh công tác YHCT nhằm phát triển mạnh YHCT trong tình hình mới [30] Ngày 03/11/2003 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 222/2003/QĐ-TTg ban hành chính sách quốc gia về YHCT và chiến lược phát triển YHCT đến năm 2010 [31] Tiếp đó đến ngày 2/2/2005 Thủ tướng Chính Phủ đã có quyết định số 30/2005/QĐ-TTg về việc thành lập học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam [8] Mục tiêu của “kế hoạch thực hiện chính sách quốc gia về y, dược học cổ truyền, kết hợp YHCT và YHHĐ trong chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, đảm bảo cung cấp dịch vụ YHCT từ Trung ương đến địa phương” Trong đó có đề cập đến giải pháp về phát triển nguồn nhân lực bao gồm: phát triển mạng lưới đào tạo nguồn nhân lực; tổ chức đào tạo liên tục để cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ YHCT Một trong những giải pháp để đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch
vụ YHCT là tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ YHCT [29] Để thực hiện giải pháp này có hiệu quả, cần thiết
có sự đánh giá thực trạng, kiến thức thực hành của cán bộ YHCT
Trang 241.2 Khái quát một số thực trạng về kiến thức, thực hành của mạng lưới cung cấp dịch vụ YHCT
Những nghiên cứu về vai trò và trình độ chuyên môn của các thầy thuốc YHCT có tầm quan trọng trong hoạt động cung cấp dịch vụ CSSKBĐ Đặc biệt là ở các nước nghèo và được TCYTTG rất coi trọng và khuyến cáo bởi kết quả của những nghiên cứu này sẽ hổ trợ tích cực cho công tác quản lý, giám sát hoạt động của đội ngũ cán bộ YHCT cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ này thông qua tổ chức các hoạt động đào tạo mới và đào tạo lại cho các thầy thuốc YHCT một cách phù hợp và hiệu quả với điều kiện cụ thể của mỗi Quốc gia [57], [61] Do vậy nhiều nước đã triển khai những nghiên cứu riêng về đội ngũ cán bộ YHCT của mình (bao gồm loại hình số lượng và trình độ chuyên môn) Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp cho việc xây dựng những định hướng, kế hoạch cũng như lựa chọn các biện pháp
kỹ thuật phù hợp để đào tạo phát triển nguồn nhân lực này một cách hiệu quả cho ngành YHCT của quốc gia đó [55], [59]
Trung quốc và Ấn Độ thông qua thực hiện chủ trương trên đã triển khai nhiều nghiên cứu về hiện trạng và nhu cầu của đội ngũ cán bộ YHCT tại đất nước họ Các kết quả nghiên cứu được áp dụng để thiết kế các chương trình đào tạo nguồn cán bộ YHCT và đã đạt những thành công to lớn [58]
Ở Thái Lan, để tăng cường hoạt động YHCT nhất là ở tuyến cơ sở, bên cạnh những điều tra, khảo sát và phát triển nguồn dược liệu, YHCT Thái Lan
đã triển khai nhiều nghiên cứu về kiến thức, thực hành YHCT của các thầy thuốc cũng như mức độ và hiệu quả của việc ứng dụng kiến thức này trong hệ thống dịch vụ y tế Đồng thời những nghiên cứu về hệ thống YHCT cũng như các vấn đề liên quan đến tổ chức và quản lý hệ thống này cũng được đặc biệt quan tâm [52]
Trang 25Một nghiên cứu phân tích về thực hành YHCT tại Thái Lan đã được tiến hành tại các bệnh viện công lập tỉnh Nakhorn Pathom của Thái Lan năm
2001 Mục đích của nghiên cứu là đánh giá mức độ kiến thức, thực hành và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành sử dụng YHCT trong các bệnh viện công [52]
Tại Việt Nam, một nghiên cứu về thực trạng YHCT trên toàn quốc đã được tiến hành năm 1996 Kết quả khảo sát cho thấy có sự phân bố nhân lực YHCT không đều từ trung ương đến địa phương, giữa khu vực y tế Nhà nước (19,05%) và khu vực y tế tư nhân (80,9%), giữa YHCT và YHHĐ Trong khu vực y tế Nhà nước, khối bệnh viện YHCT chiếm 48,7% tổng số nhân lực YHCT Tỷ trọng nhân lực YHCT quá chênh lệch so với cán bộ y tế nói chung,
cứ 19,01 bác sĩ thì có 1 bác sĩ YHCT trên 1000 dân [20] Do vậy cần thiết phải tăng cường đào tạo cán bộ YHCT để đáp ứng cho sự phát triển và đảm bảo cán
bộ có chất lượng Hệ thống lương y được hình thành một cách tự phát, trình độ văn hóa thấp, chủ yếu học YHCT ở Hội Y học cổ truyền tỉnh, huyện đào tạo ngắn ngày, không theo một tài liệu chuyên môn thống nhất [32]
Để góp phần thực hiện tốt những chủ trương, chính sách của Nhà nước
và thúc đẩy sự phát triển của YHCT, có nhiều nghiên cứu trên những vùng địa lý khác nhau, của cán bộ YHCT và nhân dân ở vùng đó về kiến thức, thực hành sử dụng YHCT Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Phương, Phó Đức Thuần (1999), đã chỉ ra rằng cần có đội ngũ cán bộ y tế thích hợp cho sự nghiệp y tế cộng đồng Việt Nam Đội ngũ này cần được trang bị các kiến thức về YHHĐ
và YHCT, về dân tộc học, y xã hội học, có khả năng thâm nhập cộng đồng để học hỏi những kinh nghiệm quý của người dân và có khả năng giúp đỡ cộng đồng một cách hữu hiệu trong CSSK [28]
* Nghiên cứu của Thái Văn Vinh (1999) ở 3 xã miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên cho thấy chỉ có một trạm y tế xã có sử dụng YHCT chữa bệnh,
Trang 26trong đó có 1 lương y và 1 y sĩ đông y khám chữa bệnh bằng phương pháp YHCT [44]
* Nghiên cứu của Lê Xuân Đệ (2000), “Thực trạng hành nghề YHCT tại tỉnh Hưng Yên” cho kết quả ở 160 trạm y tế xã phường trong toàn tỉnh thì chỉ
có 4% cán bộ YHCT, còn 96% cán bộ YHHĐ [14]
* Nghiên cứu của Trần Thúy và cộng sự (2001-2002) trong đề tài “ Tình hình YHCT ở một tỉnh Đồng Bằng Sông Hồng” cho thấy tại 50 trạm y tế chỉ
có 18 cán bộ YHCT (4 bác sỹ,13 y sỹ và 1 lương y) chiếm tỷ lệ 7,41% [32]
* Nghiên cứu của Phạm Nhật Uyển (2000) về thực trạng YHCT của Thái Bình cho thấy số lượng người cung cấp dịch vụ YHCT thấp hơn nhiều so với lượng người cung cấp dịch vụ YHHĐ Việc cung cấp dịch vụ YHCT chủ yếu
là do lực lượng y tế tư nhân cung cấp Điều này dẫn đến sự cần thiết phải tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa chính sách về đào tạo nguồn nhân lực YHCT [40]
* Nghiên cứu của Đặng Thị Phúc (2000) về thực trạng YHCT của tỉnh Hưng Yên cho thấy đội ngũ cán bộ YHCT ở cơ sở công lập chiếm 15,3%, y tế ngoài công lập chiếm 84,7% Lực lượng YHCT ở khu vực y tế nhà nước rất thấp Vì vậy việc đáp ứng nhu cầu CSSKBĐ cho người dân bằng YHCT trong
y tế công lập là chưa thực sự đáp ứng được, nhưng bên cạnh đó thì dịch vụ YHCT tư nhân lại rất phát triển [25]
* Nghiên cứu của Đỗ Thị Phương (2005), “Kiến thức, Thực hành sử dụng YHCT của cán bộ Y tế Huyện Phú lương tỉnh Thái Nguyên cho thấy đội ngũ cán bộ YHCT chiếm 6.7% trong khi đó 93.3% Bác sỹ YHHĐ [27]
* Nghiên cứu của Hoàng Thị Hoa Lý (2006) về thực trạng nguồn nhân lực ở một số địa phương tỉnh Bắc Ninh cho thấy: Nhân lực YHCT trong các cơ sở y tế công lập thấp, chiếm tỷ lệ 11.9% trong tổng số nhân lực của tỉnh [21]
Trang 27Kiến thức về YHCT tại cơ sở y tế công lập đạt loại khá, tốt khá cao chiếm 96,8% ở tuyến tỉnh, huyện, còn ở tuyến xã, phường tỷ lệ này rất thấp
do không được đào tạo bài bản, chính quy mà chỉ bổ túc về YHCT, cơ hội về tập huấn đào tạo lại cũng ít [15]
Kỹ năng thực hành: kỹ năng châm cứu, kê đơn loại tốt, khá tương đối cao, trong khi đó kỹ năng sử dụng thuốc dùng ngoài và tư vấn hầu hết chỉ đạt loại trung bình
Kết quả thăm dò nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng kiến thức YHCT của cán
bộ y tế tỉnh Bắc Ninh cho thấy, nhìn chung đều có nhu cầu học thêm về YHCT và 58% thống nhất với quan điểm nên sử dụng YHCT trong CSSK cộng đồng [17]
1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về YHCT của cán
bộ YHCT
Nghiên cứu của Nimal tiến hành tại các bệnh viện công lập tỉnh Nakhorn Pathom của Thái Lan năm 2001 chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành của cán bộ YHCT bao gồm: Tuổi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm lâm sàng [52]
Nghiên cứu của Tôn Thị Tịnh [33] và Hoàng Thị Hoa Lý [21], về các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành YHCT của cán bộ y tế chuyên ngành YHCT đã cho thấy:
+ Các CBYT có tuổi đời trên 40 và có kinh nghiệm thực hành YHCT thì
có kiến thức về YHCT tốt hơn các CBYT trẻ và mới thực hành về YHCT + Những CBYT được đào tạo nhiều hơn về YHCT thì kiến thức tốt hơn
so với những cán bộ ít được đào tạo
+ Những CBYT có lượng bệnh nhân càng nhiều (trên 20 bệnh
Trang 28nhân/tháng) thì kiến thức và kỹ năng thực hành về YHCT tốt hơn so với CBYT có lượng bệnh nhân ít (dưới 20 bệnh nhân / tháng)
+ Những cán bộ công tác tại cơ sở y tế có bảo hiểm về YHCT (bệnh nhân được miễn phí tiền thuốc điều trị bằng YHCT) thì có mức kiến thức và thực hành cao hơn những CBYT công tác tại khoa YHCT trong các cơ sở đa khoa (bệnh nhân phải tự túc tiền thuốc YHCT)
Từ kết quả của các nghiên cứu nêu trên cũng cho thấy có một số yếu tố tác động khá rõ nét đến trình độ chuyên môn (bao gồm kiến thức và kỹ năng thực hành YHCT) của đội ngũ cán YHCT Các yếu tố này liên quan đến một
số đặc điểm về nhân khẩu học của cán bộ y tế như tuổi, giới, dân tộc, đồng thời liên quan đến việc cung cấp kiến thức cho đội ngũ cán bộ YHCT thông qua việc đào tạo tập huấn, quá trình công tác của họ (thâm niên công tác), cuối cùng là yếu tố về sự quản lý của tuyến trên và cơ sở vật chất, trang thiết
bị hỗ trợ cho việc cung cấp các dịch vụ này
1.4 Khái quát vài nét về mạng lưới YHCT tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, là quê hương của Đại Y tôn Hải Thượng Lãn Ông Hưng Yên hiện nay có khoảng 12% số hộ gia đình nghèo Đối với họ sản xuất thường không đủ ăn, khả năng tiếp cận đối với các nguồn thông tin y tế thấp, phương tiện đi lại thiếu, nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhiều hơn người giàu do chế độ dinh dưỡng thấp, môi trường kém vệ sinh, lao động nhiều và quá sức, khi bị bệnh thường đến khám muộn với nhiều biến chứng và di chứng, uống thuốc thường không đủ liều, đi làm ngay khi sức khỏe chưa phục hồi [25]
Trình độ văn hóa thấp liên quan đến nhận thức về YHCT và sử dụng YHCT trong CSSKBĐ là không đầy đủ, ý thức tiếp cận với dịch vụ chăm sóc
Trang 29sức khỏe bằng YHCT còn bị hạn chế, hay bị ảnh hưởng của những người xung quanh [14]
Nhìn chung hoạt động y tế của tỉnh Hưng Yên cho đến nay vẫn còn nhiều khó khăn bất cập do thiếu nguồn nhân lực, thiếu phương tiện và kinh phí hoạt động Do vậy mà hoạt động của dịch vụ YHCT cũng bị ảnh hưởng theo cán
bộ được đào tạo chính quy về YHCT rất ít, không được đào tạo cập nhật thường xuyên về kiến thức YHCT [14] Chính vì vậy dịch vụ chăm sóc sức khỏe bằng YHCT trong các cơ sở y tế nhà nước là chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Hưng Yên có một bệnh viện chuyên ngành YHCT có 150 giường bệnh với 13 bác sỹ, 6 tháng đầu năm khám và điều trị trên 5000 lượt người Khoa YHCT bệnh viện đa khoa tỉnh có 02 bác
sỹ 61 xã phường có trạm y tế trong đó có 05 bác sỹ (theo niên giám VN 2008) Trong đó đội ngũ thầy thuốc YHCT trong khu vực nhà nước chiếm 15,3% khu vực tư nhân 84,7% Nhìn vào đội ngũ của cán bộ YHCT nhà nước chúng ta thấy lực lượng này rất thấp so với lực lượng YHCT tư nhân Do vậy việc đáp ứng CSSKBĐ cho người dân bằng dịch vụ YHCT trong các cơ sở y
tế nhà nước là chưa thực sự đáp ứng được, nhưng bên cạnh đó thì dịch vụ YHCT tư nhân lại rất phát triển [19]
Từ khi Hội YHCT tỉnh Hưng Yên được thành lập (1959), hằng năm đã
mở lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn về YHCT cho những người hành nghề YHCT trong toàn tỉnh, đồng thời động viên họ đem hết khả năng của mình phục vụ cho sức khỏe nhân dân Hội YHCT tỉnh Hưng Yên luôn xác định nâng cao chuyên môn cho những người hành nghề YHCT là nhiệm vụ quan trọng của hội để đảm bảo uy tín và chất lượng trong điều trị Xuất phát
từ nhận thức đó mà hằng năm hội thường xuyên chiêu sinh mở lớp bồi dưỡng chuyên môn tại trụ sở tỉnh hội và ở các huyện thị cho hội viên YHCT Do trình độ châm cứu của hội viên rất yếu, đa phần là không biết châm cứu mà
Trang 30chỉ biết dùng thuốc trong điều trị, nên đầu năm 2002 tỉnh hội đã mở lớp châm cứu 3 tháng do viện châm cứu trung ương giảng dạy và cấp chứng chỉ cho hơn 50 học viên tham dự Ngoài ra hội còn phát động các hội viên tham gia tuyên truyền, viết tin gửi các đài báo, ở địa phương về các cây thuốc hay sẵn
có trong dân, bài thuốc hay dễ kiếm, dễ dùng để chữa các chứng bệnh thông thường cho nhân dân [19]
Sự ra đời của bệnh viện YHCT tỉnh Hưng Yên năm 2000 đã nói lên sự quan tâm đến vai trò của YHCT trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân của ngành y tế và của ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên Đây là bệnh viện được xây dựng mới, với những trang thiết bị mới sẽ đáp ứng tốt cho nhu cầu khám chữa bệnh bằng YHCT cho nhân dân tỉnh Các số liệu về mô hình bệnh tật, bệnh viện YHCT xây dựng kế hoạch, trang bị thuốc và chỉ đạo tuyến cơ
sở là chưa có đầy đủ
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Gồm 2 nhóm:
Nhóm 1: Là các cán bộ chuyên ngành YHCT tỉnh Hưng Yên
Nhóm 2: Cán bộ quản lý ngành y tế địa phương về YHCT
Trong đó:
* Nhóm 1:
- Lựa chọn tất cả các cán bộ chuyên ngành YHCT (bao gồm các y, bác sỹ) đang trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ YHCT tại các cơ sở YHCT công lập tuyến tỉnh, và tuyến huyện / thị
* Nhóm 2:
- Cán bộ quản lý: Bao gồm đại diện lãnh đạo Sở Y tế Hưng Yên, lãnh đạo bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh, các Bệnh viện đa khoa tỉnh Các trung tâm y tế huyện trên địa bàn tỉnh
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại các cơ sở YHCT công lập trên địa bàn tỉnh Hưng Yên từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện
* Cơ sở công lập: Gồm có:
- Cơ sở chuyên khoa (CSCK): Bệnh viện YHCT tỉnh Hưng Yên
- Cơ sở đa khoa (CSĐK) : Toàn bộ 12 khoa YHCT trong các Bệnh viện
Đa khoa tuyến Huyện/ thị
Thời gian nghiên cứu từ tháng 6/2010 đến tháng 12/ 2010
Trang 322.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để nghiên cứu nguồn nhân lực kiến thức, thực hành về Y học cổ truyền của cán bộ chuyên ngành Y học cổ truyền trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
- Sử dụng phương pháp phân tích định tính, để tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành về YHCT của y, bác sỹ YHCT tỉnh Hưng Yên
2.2.2 Các biến số nghiên cứu:
1 Tuổi Là số tuổi của đối tượng NC tính theo năm dương lịch
2 Giới Là giới tính của đối tượng NC gồm có Nam / Nữ
3 Dân tộc Gồm có: dân tộc Kinh hoặc dân tộc thiểu số
4 Nơi đào tạo Là nơi đào tạo ở cấp đại học (đối với BS) hoặc
trung học (đối với YS)
5 Thâm niên
công tác
Là thời gian công tác về YHCT tại CSYT công lập, tính bằng năm
6 Tuyến công tác Là CSCK (Bệnh viện YHCT tỉnh)
Là CSĐK (Khoa YHCT nằm trong bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, TTYT huyện / thị)
7 Tập huấn Các khóa đào tạo do bệnh viện hoặc sở Y tế / Bộ Y
tế, Trường Đại Học Y, Dự án, Hội đông y tổ chức
Trang 332.2.3 Phương pháp thu thập thông tin:
Phương pháp thu thập thông tin được sử dụng trong nghiên cứu này là :
- Phỏng vấn sâu các lãnh đạo bằng bộ câu hỏi
- Phỏng vấn các cán bộ Y học cổ truyền bằng phiếu phỏng vấn cá nhân
- Quan sát kỹ năng thực hành kê đơn, xoa bóp, chân cứu của các y, bác
sỹ theo bảng kiểm dựa trên quy trình kỹ thuật YHCT do Bộ Y tế ban hành năm 2009 [10]
2.2.4 Công cụ thu thập thông tin:
- Phiếu phỏng vấn sâu các lãnh đạo Sở Y tế, lãnh đạo các bệnh viện, các TTYT huyện về quan điểm, chính sách, giải pháp về phát triển nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ YHCT nói chung và phát triển nguồn nhân lực Y học
cổ truyền nói riêng (Xem phụ lục 2)
- Bộ câu hỏi phỏng vấn cá nhân về kiến thức, thái độ/ quan điểm về Y học
cổ truyền của y, bác sỹ chuyên ngành YHCT (Xem phụ lục 1)
- Bảng kiểm về đánh giá kỹ năng thực hành về YHCT của y, bác sỹ YHCT truyền gồm có:
+ Bảng kiểm lượng giá kỹ năng thực hiện quy trình kê đơn điều trị theo YHCT (Xem phụ lục 3)
+ Bảng kiểm lượng giá kỹ năng châm cứu (Xem phụ lục 4)
+ Bảng kiểm lượng giá kỹ năng xoa bóp bấm huyệt (Xem phụ lục 5)
Trang 342.2.5 Phân loại và đánh giá mức độ kiến thức và thực hành về Y học cổ truyền của các cán bộ YHCT
1 Kiến thức về các nguyên tắc điều trị theo YHCT
Cho điểm theo thang điểm từ 1- 10
Loại A: 7- 10 Lọai B: 5- < 7 Loại C: 0- < 5
2 Kiến thức về chỉ định bài thuốc cổ phương
Cho điểm theo thang điểm từ 1- 10
Loại A: 7- 10 Lọai B: 5- < 7 Loại C: 0- < 5
3 Kiến thức về các vị thuốc cổ phương
Cho điểm theo thang điểm từ 1- 10
Loại A: 7- 10 Lọai B: 5- < 7 Loại C: 0- < 5
4 Kiến thức về các vị thuốc nghiệm phương
Cho điểm theo thang điểm từ 1- 10
Loại A: 7- 10 Lọai B: 5- < 7 Loại C: 0- < 5
5 Kiến thức về chế phẩm thuốc YHCT
Cho điểm theo thang điểm từ 1- 10
Loại A: 7- 10 Lọai B: 5- < 7 Loại C: 0- < 5
thang điểm từ 1- 10
Loại A: 7- 10 Lọai B: 5- < 7 Loại C: 0- < 5
8 Kỹ năng châm cứu Cho điểm theo
thang điểm từ 1- 10
Loại A: 7- 10 Lọai B: 5- < 7 Loại C: 0- < 5
Trang 35* Mô tả các chỉ số Kiến thức về Y học cổ truyền:
+ Đối tượng đánh giá: Các cán bộ trực tiếp tham gia công tác khám, chẩn đoán, điều trị bằng Y học cổ truyền tại các cơ sơ y tế công lập (theo quy định chức năng nhiệm vụ của cán bộ chuyên ngành YHCT tuyến tỉnh do Bộ
Y tế ban hành) [3]
+ Cách lượng giá kiến thức: Tại nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các chỉ số để đánh giá kiến thức về YHCT tại các cơ sở y tế đó là:
1 Kiến thức về các nguyên tắc điều trị theo YHCT
2 Kiến thức về chỉ định bài thuốc cổ phương: Nêu tên các bài cổ phương đó để điều trị một số chứng bệnh hay gặp, lựa chọn bài thuốc cổ phương phù hợp nhất để điều trị một số chứng bệnh hay gặp
3 Kiến thức về các vị thuốc cổ phương: Nêu tên các vị thuốc cổ phương để điều trị một số bệnh hay gặp
4 Kiến thức về các vị thuốc nghiệm phương: Nêu tên các vị thuốc kinh nghiệm để điều trị một số bệnh hay gặp
5 Kiến thức về chế phẩm thuốc YHCT: Kể tên ít nhất 2 chế phẩm thuốc YHCT (Theo danh mục thuốc thiết yếu của Bộ Y tế) để điều trị một số chứng bệnh thường gặp
6 Kiến thức về huyệt vị trong điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc: Nêu tên các huyệt và động tác xoa bóp để điều trị một số chứng bệnh hay gặp
+ Cho điểm, phân loại kiến thức: Cơ sở cho điểm và phân loại mức độ kiến thức của cán bộ YHCT dựa trên tham khảo một số tài liệu: Bài giảng Y Học Cổ Truyền, Châm cứu học, Phương pháp xoa bóp y học dân tộc, Phương
tễ học, Danh mục thuốc thiết yếu của Bộ Y tế [7], [9], [13], [23], [26],[37], [38], [39], [40]
Trang 36Đánh giá và cho điểm theo thang điểm 10
Kiến thức được phân loại theo 3 mức như sau:
Loại A: Từ 7- 10 điểm (Khá, Giỏi)
Loại B: Từ 5- < 7 điểm (Trung bình)
Loại C: Từ 0- < 5 điểm (Yếu)
Đồng thời chúng tôi cũng tính điểm trung bình của mỗi loại kiến thức về tổng điểm kiến thức
* Đánh giá kỹ năng thực hành về YHCT
+ Đối tượng đánh giá : Các y, bác sỹ trực tiếp tham gia thực hành điều trị bằng YHCT (theo quy định chức năng nhiệm vụ của y, bác sỹ YHCT tuyến tỉnh
do Bộ Y tế ban hành) [2] Riêng kỹ năng thực hiện quy trình kê đơn thuốc YHCT để điều trị một số bệnh của các CBYT (như phần đánh giá kiến thức) + Cách lượng giá gồm các kỹ năng sau:
1 Kỹ năng thực hiện quy trình kê đơn điều trị theo YHCT thông qua phân tích các bệnh án do Y/ Bác sỹ làm
2 Kỹ năng thực hành châm cứu: Chấm điểm qua 10 bước thực hiện kỹ năng châm cứu theo bảng kiểm Mỗi bước thực hiện đúng, đủ, thành thạo được 1 điểm, làm đúng ở mức đạt yêu cầu được 0,5 điểm, làm không đúng / không làm được 0 điểm
3 Kỹ năng thực hành xoa bóp: Chấm điểm qua 10 bước thực hiện kỹ năng xoa bóp theo bảng kiểm Mỗi bước thực hiện đúng, đủ, thành thạo được
1 điểm, làm đúng ở mức đạt yêu cầu được 0,5 điểm, làm không đúng/ không làm được 0 điểm
- Cho điểm, phân loại kỹ năng thực hành: Cơ sở cho điểm và phân loại mức độ thực hành của cán bộ YHCT dựa trên tham khảo một số tài liệu: Bài
Trang 37giảng y học cổ truyền, Châm cứu học, Phương pháp xoa bóp y học dân tộc, danh mục thuốc thiết yếu của Bộ y tế [7], [9], [13], [23], [26], [37], [38], [39], [40] Đánh giá và cho điểm theo thang điểm 10 Kỹ năng thực hành về YHCT được phân làm 3 loại theo thang điểm cụ thể như sau:
Loại A: Từ 7- 10 điểm (Khá, Giỏi)
Loại B: Từ 5- < 7 điểm (Trung bình)
Loại C: Từ 0- < 5 điểm (Yếu)
Tính điểm trung bình của mỗi loại kỹ năng thực hành và tổng điểm các
+ Ngoài ra kết hợp phân tích theo phương pháp phân nhóm tổng hợp đối với số liệu định tính để tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng
2.2.7 Khống chế sai số
* Sai số ngẫu nhiên: Nghiên cứu này lựa chọn tất cả các cán bộ chuyên ngành YHCT tỉnh Hưng Yên do vậy không gặp sai số ngẫu nhiên do chọn mẫu nghiên cứu
* Sai số hệ thống:
- Tập huấn kỹ cho các điều tra viên về kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng điền thông tin để tránh sai sót thông tin Giải thích kỹ cho đối tượng phỏng vấn, ý
Trang 38nghĩa cũng như nội dung phỏng vấn nhằm phục vụ tốt cho công tác đào tạo nâng cao ý thức, kỹ năng cho cán bộ tích cực tham gia nghiên cứu
- Tập huấn cho các điều tra viên về kỹ năng quan sát và đánh giá theo bảng kiểm
- Điều tra thử, chỉnh sửa trước khi điều tra chính thức
- Thiết kế bộ câu hỏi có phần lặp lại các thông tin quan trọng để kiểm tra
độ chính xác
- Các phiếu điều tra của cán bộ y tế đều khuyết danh
- Tổ chức giám sát quá trình điều tra
2.3 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu:
- Thông tin thu thập được chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu
- Được sự đồng ý của chính quyền và ngành y tế địa phương
Những đối tượng nghiên cứu sẽ được hỏi ý kiến và đồng ý tự nguyện tham gia vào nghiên cứu Những đối tượng nào không đồng ý sẽ không đưa vào nghiên cứu và không có bất kỳ đối xử đặc biệt nào đối với các đối tượng này
Các thông tin về các đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật bằng cách
mã hóa
- Khách quan trong đánh giá, cho điểm, phân loại
- Trung thực trong xử lý số liệu
- Đề xuất một số ý kiến nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ YHCT, trên
cơ sơ đó phục vụ tốt hơn công tác CSSK cho nhân dân
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Mô tả hiện trạng nguồn nhân lực cán bộ YHCT tại các cơ sở YHCT công lập
≥ 40 tuổi
Tỷ lệ %
Tuyến
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm phân bố về tuổi
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu từ 94 CBYT chuyên ngành YHCT cho thấy: Tuổi của CBYT dưới 30 chiếm tỷ lệ cao nhất (37,23%) đặc biệt là CSĐK lứa tuổi này chiếm (41,33%), tiếp đó là nhóm tuổi trên 40 chiếm tỷ lệ (34,05%), thấp nhất là nhóm tuổi 30-39 là (28,72%)
Trang 40Biểu đồ 3.2 Đặc điểm phân bố về giới
Nhận xét: Qua biểu đồ 3.2 cho thấy ở CSCK cán bộ y tế nam chiếm
(68,42%), CBYT nữ chiếm (31,58%), ở CSĐK cán bộ y tế nữ chiếm (58,67%), CBYT nam chiếm (41,33%) và nhìn chung CBYT nữ chiếm tỷ lệ (53,19%) cao hơn CBYT nam (46,81%)
97,87%
2,13%
Kinh Thiểu số
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm phân bố về dân tộc
Nhận xét: Trong tổng số 94 CB có (97,87%) là dân tộc kinh, còn (2,13%)
là dân tộc thiểu số chỉ có ở CSCK không có ở CSĐK