1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình hình thành quy trình quản lý chiến lược kinh doanh trong các hoạt động của doanh nghiệp công nghiệp p5 pps

11 574 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 471,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ chế này đã tạo ra sức ỳ trong các doanh nghiệp quốc doanh, các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo những chỉ thị, những kế hoạch từ cấp trên chứ không phảI từ nhu cầu của thị trường.

Trang 1

trọng trong tổng số các doanh nghiệp tham gia hoạt động ngoại thương của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước từ 35% năm 1998 tăng lên 58% năm 1999 Điều đó khẳng định vai trò quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế VN

2 Sự cần thiết phải quản lý chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay

Nước ta có một thời kỳ dài hoạt động theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Cơ chế này đã tạo ra sức ỳ trong các doanh nghiệp quốc doanh, các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo những chỉ thị, những kế hoạch từ cấp trên chứ không phảI từ nhu cầu của thị trường Các chỉ tiêu đều do nhà nước đặt ra, doanh nghiệp chỉ việc nhận vốn, nguyên vật liệu tiến hành sản xuất, việc tiêu thụ đầu ra cũng do nhà nước thực hiện Cơ chế này đã làm thui chột tính sáng tạo của doanh nghiệp Cơ chế cứng nhắc này đã gây ra hiện tượng khan hiếm trong sự dư thừa Tiền lương của giáo viên có thể là than đốt, săm lốp xe đạp, Đây là kết quả của việc không tuân theo các quy luật của thị trường

Hoạt động trong những điều kiện như vậy, doanh nghiệp không cần phải lo đối phó với đối thủ cạnh tranh, không cần biết khách hàng ưa chuộng gì, suy nghĩ gì, suy nghĩ thế nào về sản phẩm của mình Tức là doanh nghiệp hoạt động trong đIều kiện an toàn, môi trường ổn định Vì vậy doanh nghiệp không quan tâm đến chiến lược cũng như quản lý chiến lược theo đúng nghĩa của nó mà cho rằng đây là việc của nhà nước

Mọi việc đã đổi khác từ sau cuộc đại khủng hoảng những năm 86 -

87 Có nhiều sự biến đổi sâu sắc trong đường lối kinh tế, chính trị với quan điểm xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường với

Trang 2

sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bước ngoặt lịch sử này đã chuyển nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế đóng sang nền kinh tế mở Các doanh nghiệp được quyền tự chủ trong kinh doanh

và phải tự tìm ra hướng phát triển riêng phù hợp để có thể tồn tại và phát triển trong giai đoạn mới Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp phải tuân theo các quy luật của thị trường, chấp nhận sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường Doanh nghiệp chỉ sản xuất những gì mà xã hội cần Đồng thời doanh nghiệp phải tự xoay xở để tìm các nguồn đầu vào, vốn, nhân lực, thị trường sản phẩm Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản

lý vĩ mô, chỉ tác động vào môi trường kinh doanh của doanh nghiệp chứ không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp hoàn toàn có quyền quyết sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào

và cho ai? Chính vì vậy các doanh nghiệp phải đối mặt với các đIều kiện kinh doanh ngày càng khó khăn hơn, phức tạp hơn Sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng thích nghi đối với môi trường đầy biến động hay không? Do đó cần có công cụ cho các doanh nghiệp đối phó với sự biến động của thị trường, chớp lấy những cơ hội vàng để phát triển doanh nghiệp, cũng như hạn chế khắc phục các rủi ro xảy ra

Đó chính là chiến lược kinh doanh, một công cụ hữu hiệu định hướng

sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp trong điều kiện biến động không ngừng của môi trường kinh doanh

Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay trước xu thế toàn cầu hoá, phát triển và hội nhập thì chiến lược kinh doanh và quản lý chiến lược kinh doanh đã trở thành đòi hỏi bức thiết từ chính bản thân doanh nghiệp Thị trường đã mở rộng ra ngoài ranh giới quốc gia với các đối thủ cạnh tranh có nhiều ưu thế về thông tin, công nghệ cũng như trình độ quản lý Thực tế này yêu cầu các doanh nghiệp xác định một cách rõ ràng và

Trang 3

đúng đắn những lợi thế của mình nhằm đưa ra định hướng phát triển đúng đắn trong tương lai

Các doanh nghiệp sẽ làm gì khi sắp tới Việt Nam sẽ tham gia vào AFTA, APEC và cũng có thể là gia nhập vào WTO Như vậy không thể duy trì quản lý doanh nghiệp theo phương pháp truyền thống, các phương pháp quá nặng về kinh nghiệm mà phải tăng cường sử dụng các phương pháp quản lý hiện đại, quản lý dựa trên khoa học

Một bản chiến lược kỹ lưỡng chuẩn bị cho sự chuyển mình của doanh nghiệp vào những năm tới đây là không thể thiếu

3 Quản lý chiến lược hiện nay trong các doanh nghiệp chưa thông dụng và hiệu quả chưa cao

Một đIều rõ ràng là hiện nay các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa ứng dụng nhiều các thành tựu về khoa học quản

lý trong đIều hành doanh nghiệp Điều này cũng là tất yếu bởi mọi nỗ lực của doanh nghiệp đang đổ dồn vào khâu tạo ra sản phẩm Các doanh nghiệp quá trú trọng đến việc tung ra thị trường các sản phẩm chất lượng ngày càng cao, mẫu mã đẹp nhưng lại ít quan tâm đến một lúc nào đó sự thay đổi về lối sống, tâm lý tiêu dùng, khách hàng sẽ không

sử dụng sản phẩm trên nữa Việc doanh nghiệp có sản xuất tốt đến đâu, đẹp đến đâu nhưng không tiêu thụ được thì cũng thất bại mà thôi

Sự quan trọng của chiến lược không phảI là các doanh nghiệp không biết Các khoản chi phí cho quản lý chiến lược đã làm nản chí các nhà quản lý Do sự khan hiếm về vốn các doanh nghiệp đã ưu tiên cho các lĩnh vực khác, những lĩnh vực mà hoạt động đầu tư thêm này cho thấy

rõ hiệu quả, còn chiến lược đem lại kết quả về lâu dài và khó nhận thấy Hơn nữa việc hoạch định chiến lược lại cần yếu tố về con người, doanh nghiệp phải có các chuyên gia chuyên gia chuyên về lĩnh vực

Trang 4

này Một trong những yếu tố cần thiết nữa cho hoạch định chiến lược là

hệ thống thông tin Đối với các tổng công ty, các tập đoàn, họ có một hệ thống thông tin hiện đại, nhưng với doanh nghiệp vừa và nhỏ khả năng

có hệ thống này không dễ Điều này đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước trong việc cung cấp thông tin về môi trường cho doanh nghiệp Nhưng xem chứng ở nước ta hiện này đIều này còn xa vời Để các doanh nghiệp quan tâm sử dụng chiến lược đã khó, làm thế nào để quản lý chiến lược có hiệu quả lại càng khó hơn Sự thiếu kinh nghiệm về lĩnh vực này làm hạn chế một số doanh nghiệp sử dụng chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp không đủ tiền cho việc đầu tư thực hiện chiến lược đến nơi đến chốn Sự cố gắng nửa vời này dẫn doanh nghiệp vào chiều hướng xấu hơn

Nhưng hiện nay nổi lên một số doanh nghiệp sử dụng chiến lược thành công, như công ty bánh kẹo Kinh Đô là một ví dụ Thị trường bánh kẹo vốn đã có nhiều công ty đang hoạt động như Hải Hà, Hữu Nghị, Biên Hoà và không ít doanh nghiệp liên doanh Nhưng do nghiên cứu kỹ thị trường, đồng thời dự đoán được xu hướng tiêu dùng, Kinh Đô

đã không ngần ngại tham gia vào thị trường này Công ty đã thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, sử dụng chiến lược giá nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ Đồng thời chiến lược marketing cũng được thực hiện một cách kỹ lưỡng từ khâu quảng cáo đến khâu nghiên cứu mẫu mã bao bì để phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Sự đầu tư thích đáng vào quản lý chiến lược đã đem lại những thành quả tốt đẹp cho Kinh Đô

4 Những vấn đề mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang phải đối mặt và sự ảnh hưởng của nó đến hoạt động quản lý chiến lược của doanh nghiệp

Trang 5

Sau đây là một số vần đề cơ bản nhất:

4.1 Tín dụng

Trong thời kỳ đương nhiệm, Tổng bí thư Đỗ Mười đã đề cập đến vấn

đề mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt trong quá trình phát triển kinh tế bằng ba chữ "vốn, vốn và vốn" Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam hiện nay cũng có chung quan điểm này Họ cho rằng cản trở lớn nhất đối với sự phát triển của họ là "tín dụng, tín dụng và tín dụng" Qua cuộc phỏng vấn 95 doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy chính những quy định không rõ ràng về quyền sở hữu, những quy định hạn chế của nhà nước trong xuất nhập khẩu, hệ thống thuế bất hợp lý và tệ hành chính quan liêu đã gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh và làm tăng chi phí của các doanh nghiệp này (Theo điều tra của MPDF)

Nhưng những vấn đề này vẫn được xếp sau vấn đề tín dụng cụ thể là thiếu tín dụng

Những trở ngại chính theo ý kiến của giới kinh doanh vừa và nhỏ Không thể

tìm vốn đầu

Thiếu thông tin

Không đủ vốn lưu động

Khoa học

kỹ thuật công nghệ

Chính sách nhà nước không rõ ràng

(Tạp chí nghiên cứu kinh tế tư nhân: Việt Nam chuẩn bị cất cánh - 1999)

Khu vực ngoài quốc doanh đã đạt mức tăng trưởng thị phần rất lớn trong thị phần tín dụng nội địa từ 6% năm 1990 tăng lên 40% năm 1996, trong khi tỷ trọng đóng góp vào GDP (1996) xấp xỉ 60%

Trang 6

Tỷ trọng tín dụng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.( % ) Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 Khu vực

kinh tế

ngoài

quốc

doanh

6.2 7.2 16.2 28.4 32.5 38.5 40.7

(WB - 95-96 ,Tạp chí nghiên cứu KTTN, 1999 )

Nhưng sự thay đổi theo chiều hướng tích cực này lại có ít tác dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bởi vì tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại là các khoản vay ngắn hạn từ 3 - 6 tháng Hơn nữa thời hạn vay vốn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp, nó chịu sự tác động của vòng quay vốn Nếu như một dự án mà vòng quay vốn tương đối lớn mà không có các khoản tín dụng dài và trung hạn sẽ gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp

(Số liệu: Điều tra tiền tệ ngân hàng nhà nước Việt Nam - MPDF)

Sự tiếp cận với các khoản tín dụng trung và dài hạn trong nước đã khó, họ lại càng khó có khả năng tiếp cận được với các nguồn tín dụng nước ngoài Luật VN không cho phép người nước ngoài được sở hữu cổ phần của doanh nghiệp tư nhân

4.2 Hệ thống thuế

3 8 0 %

4 0 0 %

4 2 0 %

4 4 0 %

4 6 0 %

4 8 0 %

5 0 0 %

5 2 0 %

Trang 7

Hiện nay hệ thống thuế của nước ta còn nhiều bất cập, gây nhiều trở ngại cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Vấn đề tồn tại của hệ thống thuế VN và những ảnh hưởng của nó đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ không phải

là ở mức thuế Mức thuế ở VN thực ra là tương đối thấp so với tiêu chuẩn quốc tế

Vấn đề chính là sự bất hợp lý của hệ thống thuế và cách quản lý thuế

Sự bất hợp lý là ở chỗ có quá nhiều loại thuế và nhiều mức thuế khác nhau Ví dụ các doanh nghiệp tư nhân phải nộp ba loại thuế chính là thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, và thuế thu nhập và nhiều loại thuế khác Với mỗi loại thuế lại có những mức thuế khác nhau cho từng loại hình kinh doanh, từng nhóm mặt hàng khác nhau Thuế VAT có thể từ 0% - 20%, thuế thu nhập từ 20% - 45%, đặc biệt là thuế tiêu thụ đặc biệt

có thể lên đến 100%, 200% Do có nhiều loại thuế và có nhiều mức thuế nên trong quá trình quản lý thuế, nhiều trường hợp nhà chức trách có thể

tự ý quyết định mức thuế cho doanh nghiệp Điều này buộc các doanh nghiệp thực hiện nhiều hệ thống sổ sách tài chính, nói chung là tránh công khai tài chính của họ, nhằm trốn thuế Hậu quả là không những công tác thu thuế kém hiệu quả, thiếu công bằng mà còn tác động xấu đến công tác kế toán và lưu trữ hồ sơ tài chính, một trong những yếu tố quan trọng để xây dựng một hệ thống tài chính vững chắc

4.3 Cơ chế thương mại

Tốc độ tăng trưởng thương mại hàng năm là 30%, gấp ba lần tốc độ tăng trưởng GDP (1995 - 1996) chứng tỏ VN có một nền kinh tế mở Tuy nhiên một loạt các biện pháp hạn chế thương mại vẫn còn tồn tại và trong phần lớn các trường hợp này lại rơi vào doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 8

Về xuất khẩu hiện giờ cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đều xuất khẩu trực tiếp nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn gặp nhiều vấn đề với hải quan khi làm thủ tục xuất khẩu, nhất là vấn đề thời gian quá dài làm giảm khả năng nắm giữ cơ hội trên thị trường quốc tế

Về nhập khẩu, khó khăn còn lớn hơn nhiều và thường ở ba cấp độ

Thứ nhất, doanh nghiệp bị hạn chế quyền nhập khẩu các mặt hàng

không có trong giấy phép kinh doanh Các doanh nghiệp cần giấy phép của Bộ Thương mại cho từng chuyến hàng hoặc yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh có liệt kê các mặt hàng nhập khẩu thích hợp Cả hai trường hợp đều không dễ đối với doanh nghiệp

Thứ hai, nhiều loại hàng hoá đầu vào nhập khẩu là đối tượng hạn chế

phi thuế quan và cần có các giấy phép khác cho nhập khẩu

Thứ ba, Thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu còn mất thời

gian và tốn kém

4.4 Quyến sở hữu và quyền sử dụng đất

Yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, là khả năng tiếp cận, sở hữu

và dễ dàng sử dụng đất đai, cũng như sử dụng đất đai làm tài sản thế chấp Đã có hai tiến bộ đáng kể trong quyền sử dụng đất (1999) Thứ nhất, các doanh nghiệp của VN bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân được phép đóng góp quyền sử dụng đất dưới dạng vốn cổ phần trong các doanh nghiệp liên doanh khi họ đã trả toàn bộ chi phí sử dụng đất của mình Thứ hai, các công ty nước ngoài đầu tư trong các khu công nghiệp, khu chế xuất được quyền sử dụng đất

Tuy nhiên vẫn còn ba vấn đề cần được giải quyết

Thứ nhất, vẫn còn sự phân biệt về quyền sử dụng đất tùy theo tính chất pháp lý của người sử dụng đất Ví dụ các hộ gia đình có thể dễ

Trang 9

dàng cầm cố và thế chấp đất đai, nhà cửa trên phần đất cư trú, còn các doanh nghiệp hoạt động trên đất thuê thì không có quyền này Tương tự các doanh nghiệp nhà nước (Nghị định 66) có thể chuyển nhượng nhà cửa phân xưởng cho bất kỳ một doanh nghiệp nào thuộc khu vực đã quy định, còn các doanh nghiệp thuê đất thì không

Thứ hai, quyền sử dụng đất đối với đất thuê và bất động sản sẽ không được chuyển nhượng nếu không có sự chấp thuận của chính phủ trong từng trường hợp Việc hạn chế chuyển nhượng gây ra khó khăn cho việc xây dựng nhà xưởng, bất động sản và sau đó bán các bất động sản này Hiện nay nước ta đang tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, nhưng một khó khăn đang diễn ra là việc đánh giá tài sản của doanh nghiệp Bất hợp lý là việc đánh giá này lại không tính đến quyền

sử dụng đất Do đó đã xảy ra hiện tượng đánh giá tài sản của các doanh nghiệp lại thấp hơn quyền sử dụng đất

4.5 Các tổ chức hỗ thị trường còn yếu kém

Các tổ chức nhằm hỗ trợ thị trường hiện nay đang trong quá trình hình thành và phát triển Cụ thể là toà án, các cơ quan thông tin đại chúng, các dịch vụ kế toán, các tổ chức xúc tiến mậu dịch và các trường đại học mới chỉ bắt đầu các hoạt động hỗ trợ Tuy nhiên cần phải hình thành nhiều tổ chức hỗ trợ khác như hiệp hội doanh nghiệp, các kênh thông tin từ bên ngoài và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác

Sự ảnh hưởng đến hoạt động quản lý doanh nghiệp nói chung và chiến lược nói riêng

Qua một số hạn chế trên cho thấy môi trường kinh doanh còn chưa thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Những bất lợi trên có thể coi là những đe doạ từ môi trường bên ngoài Để môi trường kinh doanh thuận lợi nhà nước cần phải nhanh chóng giải quyết những vấn đề trên,

Trang 10

tạo ra môi trường kinh doanh ổn định thông thoáng Đặc biệt nhà nước

có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về thị trường quốc

tế, dự báo những biến động trong nước và quốc tế nhằm tạo ra những căn cứ vững chắc trong quá trình quản lý chiến lược của doanh nghiệp Chiến lược hoá trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhiệm vụ của nhà nước

Ngày đăng: 28/07/2014, 02:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w