3.4.8 Thiết lập phản ứng tạo blunt-end cho sản phẩm PCR Theo nguyên tắc của phản ứng PCR, sau khi kéo dài mạch đơn DNA, enzym Taq polynerase sẽ gắn thêm vào cuối trình tự DNA đơn một hoặ
Trang 13.4.8 Thiết lập phản ứng tạo blunt-end cho sản phẩm PCR
Theo nguyên tắc của phản ứng PCR, sau khi kéo dài mạch đơn DNA, enzym
Taq polynerase sẽ gắn thêm vào cuối trình tự DNA đơn một hoặc nhiều phân tử
Adenin (polyA) để ổn định trình tự DNA, do đó sau khi phản ứng PCR xảy ra chúng ta
sẽ thu được sản phẩm là những đoạn DNA đầu dính Do điều kiện của thí nghiệm phải
thiết lập phản ứng nối đầu bằng giữa plasmid và đoạn DNA từ sản phẩm PCR, chúng
tôi tiến hành thiết lập phản ứng tạo đầu bằng cho đoạn DNA với enzym DNA
polymerase I large fragment (Klenow)
Hình 3.1 Phản ứng tạo đầu bằng (blunt-end) cho đoạn DNA
Thiết lập phản ứng phủ đầu với các thành phần như sau:
DNA từ phản ứng PCR 6µl (1µg)
DNA fragment Klenow 1 unit (1µl)
Thêm nước cho tới 20µl
Ủ phản ứng ở 250C trong 15 phút, sau đó ngừng phản ứng bằng cách thêm
EDTA đến nồng độ 10mmol và ủ ở 750C trong 20phút
Thiết lập phản ứng phủ đầu bằng cho plasmid
Plasmid sau khi cắt bằng HindIII, và thực hiện phản ứng phủ đầu bằng theo qui
Trang 2DNA fragment Klenow 1 unit (1µl)
Thêm nước cho tới 20µl
Ủ phản ứng ở 250C trong 15 phút, sau đó ngừng phản ứng bằng cách thêm
EDTA đến nồng độ 10mmol và ủ ở 750C trong 20phút
3.4.9 Thiết lập phản ứng nối giữa plasmid và đoạn DNA đầu bằng (phản ứng
nối blunt-end)
T4 DNA ligase không giống như E coli DNA ligase, nó có thể xúc tác phản
ứng nối những đoạn DNA đầu bằng (Sgaramella và Khorana 1972, Sgaramella và
Ehrlych 1978) Tuy nhiên phản ứng gắn kết sẽ không có được hiệu suất cao và cần
phải có các yếu tố sau: Nồng độ ATP thấp (0.5mM), (Ferretti và Sgaramella 1981),
nồng độ enzym ligase cao (50unit/ml), lượng DNA insert và vector cao, tỉ lệ về số mol
của vector và đoạn DNA insert khoảng 1: 3-10
Trong phản ứng nối blunt-end có thể thêm vào các chất có phân tử lượng cao như
PEG hay Hexamminecobalt chloride Các chất này có vai trò làm tăng tốc độ phản ứng
ligation từ 1-3 lần, điều đó cho phép lượng DNA và nồng độ ligase giảm xuống và
không ngừng sắp xếp sản phẩm nối, sự nối bên ngoài phân tử được ngăn chặn, khi đó
chỉ có phản ứng nối giữa vector-DNA insert và phản ứng nối giữa vector-vector xảy ra
Từ lượng của vector DNA tính ra lượng của DNA chèn
Thêm nước cho tới 10µl
Ủ phản ứng ở 160C qua đêm, tinh sạch trực tiếp sản phẩm bằng cách sử dụng
cột tinh sạch GFX thu lại bằng 3μl elution buffer
Trang 33.4.10 Chuyển sản phẩm nối vào tế bào vi khuẩn E coli DH5α khả nạp (theo
quy trình của Sambrook và cộng sự, 1989 có chỉnh sửa)
Thực hiện biến nạp theo quy trình sau:
- Hút 10µl dịch huyền phù tế bào competent cell đã được chuẩn bị cho vào
eppendorf 1.5 ml, thêm 3µl DNA plasmid tái tổ hợp vào, đảo nhẹ, giữ lạnh
trong đá trong 20 phút
- Chuyển nhanh eppendorf trên vào bồn nhiệt 420C, giữ trong 90 giây
- Chuyển nhanh eppendorf trên vào bình nước đá, giữ trong 2 phút
- Thêm 200µl môi trường LB lỏng vào eppendorf và ủ ở 370C trong 1 giờ
- Hút 200µl dịch vi khuẩn đã biến nạp cho lên đĩa môi trường LB có chứa
kháng sinh ampicilin nồng độ 100μg/ml, X-gal, IPTG, dùng que trang trang đều
trên bề mặt môi trường
- Để đĩa ở nhiệt độ phòng cho đến khi khô bề mặt
- Lật ngược đĩa, ủ qua đêm ở 370 C (khoảng 14 - 16 giờ)
- Quan sát khuẩn lạc trên đĩa petri, bắt những khuẩn lạc trắng cấy sang môi
trường LB lỏng có kháng sinh Ampicillin (60µg/ml) trong 16-18 giờ
Thực hiện biến nạp theo quy trình trên plasmid chưa tái tổ hợp để làm đối
chứng Bắt những khuẩn lạc xanh cấy sang môi trường LB lỏng có kháng sinh
Ampicillin (60µg/ml) trong 16-18 giờ
Thực hiện tách chiết plasmid theo qui trình ở mục 3.4.6.1
Trang 4PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các quy trình biến nạp plasmid vào tế bào vi khuẩn
Hình 4.1 Biến nạp plasmid vào tế bào vi khuẩn ở thể tích 10:1.5
(A) Biến nạp với tỷ lệ tế bào khả nạp và plasmid theo thể tích (µl) là 10:1.5 phục
hồi trong 500µl môi trường LB lỏng trong 1h, cấy 100µl dịch phục hồi lên đĩa
môi trường LB agar/X-gal/IPTG, ủ qua đêm ở 37 0 C; (B) Hình chụp gần; (C)
Biến nạp chỉ có tế bào khả nạp không có plasmid (thể tích là 10µl tế bào khả
nạp) phục hồi trong 500µl môi trường LB lỏng trong 1h, cấy 100 µl dịch phục
hồi lên đĩa môi trường LB agar/X-gal/IPTG, ủ qua đêm ở 37 0 C
C
Trang 5Hình 4.2 Biến nạp plasmid vào tế bào vi khuẩn ở thể tích 3:0.5
(A)Biến nạp với tỷ lệ tế bào khả nạp và plasmid theo thể tích (µl) là 3:0.5 phục
hồi trong 200µl môi trường LB lỏng trong 1giờ, cấy 10 µl (nồng độ pha loãng ½)
dịch phục hồi lên đĩa môi trường LB agar/X-gal/IPTG, ủ qua đêm ở 37 0 C; (B)
Hình chụp gần; (C) Biến nạp chỉ có tế bào khả nạp không có plasmid (thể tích là
10µl tế bào khả nạp) phục hồi trong 200µl môi trường LB lỏng trong 1h, cấy
100µl (nồng độ pha loãng ½) dịch phục hồi lên đĩa môi trường LB
agar/X-gal/IPTG, ủ qua đêm ở 37 0 C; (D) Biến nạp với tỷ lệ tế bào khả nạp và plasmid
theo thể tích (µl) là 3:0.5 phục hồi trong 200 µl môi trường LB lỏng trong 1h, cấy
100µl (nồng độ pha loãng ½) dịch phục hồi lên đĩa môi trường LB
agar/X-gal/IPTG, ủ qua đêm ở 37 0
C
Trang 6Chọn lọc thể biến nạp theo quy trình 2 (ở thể tích biến nạp là 3:0.5, và dịch biến
nạp đã pha loãng ½ khi trang lên đĩa) cho kết quả tốt hơn chọn lọc thể biến nạp theo
quy trình 1 (ở thể tích biến nạp 3:0.5, và dịch biến nạp không pha loãng khi trang lên
đĩa) và chọn lọc thể biến nạp theo quy trình 3 (ở thể tích biến nạp là 10:1.5)
Biến nạp theo quy trình 1 cho kết quả chỉ vài khuẩn lạc xanh xuất hiện và có rất
nhiều khuẩn lạc màu trắng trên môi trường Điều này có thể giải thích là do trong quá
trình làm thí nghiệm đã có một số tế bào tự bản thân nó có khả năng kháng lại với
kháng sinh hoặc là do thao tác trang X-gal không đều ở xung quanh đĩa nên các tế bào
đã tiếp nhận plasmid nhưng không có X-gal để phân hủy vì vậy chỉ cho khuẩn lạc
trắng hoặc tế bào đã tiếp nhận plasmid nhưng quá trình phục hồi và biểu hiện của gen
LacZ diễn ra chậm (đối với khuẩn lạc này khi quan sát kỹ sẽ thấy màu xanh nhạt)
Kết quả biến nạp theo quy trình 2 cho nhiều khuẩn lạc xanh hơn và khuẩn lạc
trắng ít hơn rất nhiều so với biến nạp theo quy trình 1 Như vậy cho thấy quy trình 2
hiệu quả biến nạp tốt hơn và thể tích biến nạp như vậy là hợp lí Khuẩn lạc mọc rời
rạc, dễ cho thao tác chọn khuẩn lạc để cấy chuyền sang môi trường lỏng nhân sinh
khối để li trích được plasmid
Kết quả biến nạp theo quy trình 3 cho nhiều khuẩn lạc xanh hơn và cũng cho
nhiều khuẩn lạc trắng hơn so với biến nạp theo quy trình 2 Khuẩn lạc xanh tuy nhiều
nhưng mọc dày rất khó cho việc chọn khuẩn lạc tăng sinh trong môi trường lỏng
Như vậy, qua kết quả chọn lọc thể biến nạp trên môi trường LB
agar/Amp/X-gal/IPTG chúng tôi thấy biến nạp theo quy trình 2 là thích hợp
4.2 Tách chiết DNA plasmid
4.2.1 Tách chiết DNA plasmid
Bắt những khuẩn lạc xanh trên môi trường đĩa và tiến hành cấy sang ống
nghiệm chứa 3ml môi trường LB lỏng với nồng độ kháng sinh là 60µg/ml nuôi cấy lắc
ở 370C qua đêm, chọn ống có sinh khối và tiến hành tách chiết plasmid thu được kết
quả như sau:
Trang 7Kết quả tách chiết plasmid lần 1 còn lẫn rất nhiều DNA của genome vi khuẩn
Có thể điều này là do khi thêm dung dịch III vào để lâu nên cả DNA plasmid và DNA
của bộ gen đều hoàn tính
Với nhận định trên tôi đã tiến hành tách chiết plasmid lần 2 để khẳng định lại
quy trình Nhờ khắc phục những sai sót của lần 1 kết quả của lần tách chiết này cho
thấy đã loại đƣợc DNA của genome, thu đƣợc plasmid Nhƣ vậy, đây là quy trình tách
chiết plasmid chuẩn, mọi sai sót xảy ra đều có thể khắc phục Kết quả tách chiết chủ
yếu phụ thuộc nhiều vào thao tác, hóa chất sử dụng đơn giản Sản phẩm tách chiết có
thể dùng để thực hiện phản ứng cắt với enzyme cắt giới hạn, đây là cơ sở để kiểm tra
kết quả biến nạp
DNA genome
DNA
plasmid
3.0kb
Hình 4.3 Sản phẩm tách chiết plasmid trên gel agarose 1% (lần 1)
Trang 8Những điểm cần lưu ý khi chiết tách plasmid
Khi thêm dung dịch II chỉ đảo ngược eppendorf khoảng 5-6 lần sau đó phải
thêm dung dịch III ngay để trung hòa dung dịch II
Khi thêm dung dịch III vào phải ly tâm ngay nếu không DNA của bộ gen sẽ
phục hồi cấu trúc vì vậy trong sản phẩm plasmid chiết tách sẽ có lẫn DNA của bộ gen
Ở bước 7 và 8 trong quy trình tách chiết, sau khi ly tâm xong phải lấy ra nhẹ
nhàng và cẩn thận hút phần dịch nổi bên trên không được hút xuống phần bên dưới
4.2.2 Tách chiết DNA plasmid bằng Aurum TM
Plasmid Mini Kit
Tách chiết plasmid bằng Kit cho hiệu quả tách chiết cao hơn, lượng plasmid thu
được nhiều hơn, tinh sạch hơn, thao tác đơn giản, nhanh Sản phẩm tách chiết không
cần phải qua bước tinh sạch để sử dụng cho các bước tiếp theo trong quá trình cloning
4.3 Phản ứng cắt plasmid bằng enzyme cắt giới hạn EcoRV
DNA
plasmid
3.0kb
Hình 4.5 Kết quả điện di sản phẩm tách chiết DNA plasmid bằng Kit
trên gel agarose 1%
Trang 9Kết quả ở hình trên cho thấy plasmid đã cắt hoàn toàn đúng kích thước, vector
đã được mở vòng tại vùng MCS trở thành dạng thẳng, nhưng chỉ có sản phẩm tách
chiết plasmid ở mẫu đối chứng 1 là được cắt Do đó chúng tôi tiến hành phản ứng cắt
lần 2 để kiểm tra hoạt tính cắt của enzyme EcoRV thu được kết quả như sau:
Mẫu (1) và (2) sản phẩm tách chiết plasmid đã không bị cắt bởi enzyme EcoRV
trong khi mẫu (3), (4) được cắt hoàn toàn
Vì vậy chúng tôi tiến hành phản ứng cắt với enzyme HindIII để kiểm tra sản
phẩm tách chiết có phải là plasmid mong muốn hay không thì thu được kết quả như
Trang 10Plasmid đã cắt hoàn toàn và đúng như kích thước của plasmid đối chứng Do đó
có thể suy ra rằng, trong quá trình làm thí nghiệm plasmid đã bị hư site cắt EcoRV trên
vùng MCS hoặc enyme EcoRV bị giảm hoạt tính nên không thể nhận biết được vị trí
site cắt EcoRV trên vùng MCS
Vì vậy để tiến hành các thí nghiệm tiếp theo chúng tôi quyết định chọn sản
phẩm cắt bằng HindIII, phủ đầu bằng để thực hiện phản ứng nối
Một số điều cần chú ý khi thực hiện phản ứng cắt
RE sẽ giữ được hoạt tính trong một dung dịch đệm chứa 50% glycerol nếu luôn
luôn được bảo quản ở -200C Khi tiến hành phản ứng thủy giải, chỉ lấy RE ra vào phút
chót sau khi đã đủ các thành phần khác và giữ trong đá trong thời gian càng ngắn càng
tốt trước khi cất trở lại vào -200C
Nên tiến hành phản ứng trong một thể tích càng nhỏ càng tốt để tạo thuận lợi
cho sự tiếp xúc enzyme-cơ chất Tuy nhiên để đảm bảo RE không vượt quá 1/10 thể
tích phản ứng vì glycerol ức chế hoạt động enzyme
4.4 Tinh sạch đoạn DNA và plasmid sau khi cắt bằng HindIII
4.4.1 Tinh sạch đoạn DNA
Trong đề tài này, chúng tôi thực hiện chèn đoạn DNA từ sản phẩm PCR vào
plasmid vì vậy chúng tôi tiến hành phản ứng tạo đầu bằng cho đoạn DNA sau đó tinh
sạch đoạn DNA trên
Kết quả điện di cho thấy quá trình tinh sạch đã loại hết các thành phần tạp trong
sản phẩm PCR Tuy nhiên, phương pháp tinh sạch trực tiếp đoạn DNA từ sản phẩm
PCR chỉ nên sử dụng khi sản phẩm PCR muốn tinh sạch không có band phụ, nếu sản
phẩm PCR có band phụ thì phải tinh sạch từ gel
Phản ứng tạo đầu bằng cho đoạn DNA bằng enzyme Klenow Fragment không
kiểm tra được bằng phương pháp điện di trên gel agarose, kết quả này chỉ có thể kiểm
tra khi đã chèn vào được plasmid và biến nạp vào vi khuẩn
Trang 11Một số điều cần lưu ý khi thực hiện tinh sạch đoạn DNA : Khi nhỏ elution
buffer phải nhỏ ở giữa cột, từng giọt một, khi rửa hoặc thêm capture buffer nhỏ trên
thành của cột, cân eppendorf trước khi để gel cắt vào, gel phải được cắt vụn ra sau khi
cân, sau quá trình ủ 60oC agarose phải tan hết, sử dụng agarose có nhiệt độ nóng chảy
thấp (low melting agar)
Chuẩn bị trước khi tinh sạch: máy điện di cần được rửa sạch, bảng gel cần được
rửa sạch, sử dụng dung dịch dệm TAE riêng, sau mỗi lần chạy điện di thay buffer mới
Sử dụng ethidium bromide loãng hơn ½ nồng độ thường, phải đựng hộp riêng, phải
thay mới khi nhuộm mẩu, tính toán số mẩu trước khi chạy điện di, đổ gel tương ứng số
mẫu và giữ trong buffer
4.4.2 Tinh sạch plasmid
Plasmid sau khi dùng enzyme HindIII cắt mở vòng mới tinh sạch
Kết quả điện di cho thấy sản phẩm sau khi tinh sạch đã loại hết tạp trong sản
phẩm
Hình 4.10 Kết quả điện di sản phẩm
tinh sạch đoạn DNA bằng phương pháp
cắt gel và thu hồi lại bằng cột GFX
(1), (2): sản phẩm PCR kích thước
900bp; (3): ladder 100bp
Hình 4.11 Kết quả điện di sản phẩm tinh sạch đoạn DNA bằng phương pháp
cắt gel và thu hồi lại bằng cột GFX
(1): sản phẩm PCR kích thước 223bp;
(2), (3): sản phẩm PCR kích thước 900bp
Trang 12Từ sản phẩm trên tiến hành phản ứng phủ đầu bằng cho plasmid và tinh sạch lại
bằng qui trình tinh sạch sử dụng RNAse
Sau đó tiến hành pha loãng chuẩn bị cho phản ứng nối
4.5 Biến nạp plasmid tái tổ hợp
Thực hiện phản ứng phủ đầu bằng cho sản phẩm PCR và plasmid sau khi cắt
HindIII, tinh sạch sản phẩm, nối 2 đoạn sản phẩm PCR vào plasmid Biến nạp plasmid
đã nối này vào vi khuẩn E coli DH5α khả nạp,và thực hiện tương tự với plasmid chưa
tái tổ hợp để làm đối chứng thu được kết quả như sau:
Cả hai trường hợp biến nạp đọan DNA 900bp và 223bp đều cho toàn khuẩn lạc
màu trắng trên môi trường LB agar/Amp/X-gal/IPTG
TS
DC
Hình 4.12 Kết quả điện di sản phẩm tinh sạch trên gel agarose1%
(DC) plasmid cắt bằng HindIII chưa tinh sạch; (TS) plasmid cắt bằng
HindIII tinh sạch bằng cột GFX
Hình 4.13 Biến nạp plasmid tái tổ hợp
(A) Biến nạp plasmid đã chèn đoạn 223bp; (B) Biến nạp plasmid
đã chèn đoạn 900bp; (C) Biến nạp plasmid chưa tái tổ hợp
C
Trang 13Kết quả trên có thể là đã biến nạp hoàn toàn plasmid tái tổ hợp vào vi khuẩn
hoặc những khuẩn lạc màu trắng trên là do các tế bào vi khuẩn bị đột biến kháng
kháng sinh tạo thành
Còn trên đĩa đối chứng xuất hiện cả khuẩn lạc màu xanh và trắng
4.6 Tách chiết plasmid tái tổ hợp
Chọn lọc những khuẩn lạc trắng, mọc rời rạc cấy sang môi trường LB
lỏng/ampicillin (60µg) nhân sinh khối qua đêm tiến hành tách chiết theo qui trình ở
mục 3.4.6.1 Chạy điện di chỉ thu được toàn genome của vi khuẩn
Còn kết quả li trích plasmid của khuẩn lạc xanh trên đĩa đối chứng thì thu được
DNA plasmid
Như vậy biến nạp plasmid tái tổ hợp vào vi khuẩn E coli DH5α chưa thành công
Điều này có thể là do nồng độ plasmid sau khi cắt và nối sử dụng để biến nạp là chưa phù
hợp, vì chúng tôi đã không thể tính toán được nồng độ plasmid hao hụt sau khi thực hiện
phản ứng cắt và nối Hoặc cũng có thể thời gian sốc nhiệt quá ngắn nên plasmid không thể
biến nạp vào tế bào vi khuẩn
Do đó, trong quá trình phủ đầu bằng cho đoạn DNA và plasmid phải luôn chú ý
cẩn thận tính toán các thành phần trong phản ứng cho phù hợp Còn trong quá trình thiết
lập phản ứng nối phải chú ý đến việc tính toán tỉ lệ thể tích giữa vector và đoạn DNA,
nhiệt độ ủ của phản ứng sao cho phù hợp và nên thêm các chất xúc tác cho phản ứng nối
như: PEG hay Hexamminecobalt chloride Biến nạp vào vi khuẩn nên sốc nhiệt ở thời
gian lâu hơn, thử nghiệm nhiều qui trình khác nhau về thời gian sốc nhiệt và kèm theo
đối chứng
Vì thời gian giới hạn chúng tôi đã không thử nghiệm nhiều quy trình khác
nhau nên đã không cho ra được kết quả như mong muốn