1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình phân loại khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau tùy theo mục đích công việc và bộ máy tổ chức p5 pps

11 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 602,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về vấn đề thời hạn cho thuê đất hiện hành áp dụng cho các DNVVN ngoài quốc doanh là 30 năm tạo một thiệt thòi cho các DNVVN trong nước và đẩy giá thành sản phẩm của các DNVVN này lên cao

Trang 1

khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Các văn bản pháp quy liên quan đến quyền sử dụng đất, thế chấp đất còn nhiều bất cập, phức tạp và không rõ ràng, có sự phân biệt đối xử giữa những doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Quyền sử dụng phần lớn đất đai chưa được xác định vì phải cung cấp một số lượng rất lớn các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, việc có được những giấy tờ đó hoàn toàn không dễ dàng Hiện vẫn chưa có hệ thống công khai về các quyền hạn cho thuê và thế chấp Giá trị của quyền sử dụng đất do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố xác định chứ không phải theo giá thị trường và được mỗi tỉnh áp dụng theo các cách khác nhau

Về vấn đề thời hạn cho thuê đất hiện hành áp dụng cho các DNVVN ngoài quốc doanh là 30 năm tạo một thiệt thòi cho các DNVVN trong nước và đẩy giá thành sản phẩm của các DNVVN này lên cao hơn so với giá sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn FDI- loại hình có thể thuê đất đến 50 năm

Bên cạnh đó, việc quy định giá trả tiền thuê hàng năm vào khoảng 0,5-0,7% giá trị quyền sử dụng đất như hiện nay rõ ràng là tác động hỗ trợ của Chính phủ trong việc giảm mức đầu tư ban đầu cho doanh nghiệp, Tuy nhiên lại tồn tại một nghịch lý là nhiều doanh nghiệp chỉ muốn nộp tiền thuê đất luôn một lần cho xong

để yên tâm đầu tư ( cho dù có phải đi vay) vì e ngại chính sách giá cho thuê đất hiện nay không ổn định Cho ví dụ các doanh nghiệp

sẽ phải trả một khoản tiền là A để được thuê đất trong 30 năm và mỗi năm nộp 0,5%A, nhưng rất có thể do biến động mà các doanh nghiệp có thể phải nộp thêm một khoản B > A, lúc đó giá thành sản phẩm của doanh nghiệp sẽ phải tính thế nào cho hợp lý ? Do

đó, cần quy định một giá thuê đất ổn định hoặc dao động trong một phạm vi cho phép trong suốt thời gian thuê Đồng thời cũng cần

hạ giá cho thuê đất tại các KCN, KCX để lấp đầy các khu này vì theo con số thống kê hiện nay thì các doanh nghiệp chỉ mới chiếm 19% tổng diện tích

Trang 2

Nhìn chung, Những vấn đề về đất đai cũng là một trong những thách thức lớn nhất đối với các DNVVN Thách thức thể hiện ở việc rất khó có được đất dùng cho mục đích đầu tư, trong khi đó hệ thống xét duyệt của chính phủ đối với việc thực thi các quyền sử dụng đất là rất phức tạp và rắc rối Các DNVVN gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển khi mà cá quyền sử dụng đất đối với các mục đích thương mại và công nghiệp không được quy định rõ ràng và các thủ tục dụng đất để thế chấp không được nới lỏng

4 Tác động của chính sách công nghệ, giáo dục đào tạo

Về công nghệ: Việc tiếp cận đến công nghệ hiện đại có vai

trò rất quan trọng trong việc các doanh nghiệp tham gia vào thị trường quốc tế Tuy vậy, phần lớn các DNVVN Việt nam đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới Máy móc trang thiết bị lạc hậu và thêm vào đó là trình độ quản lí, kỹ năng nghiệp vụ của lao động trong nước chưa đủ khả năng thành thạo với công nghệ hiện đại Khó khăn trong tiếp cận công nghệ của các DNVVN Việt nam thể hiện ở:

Thứ nhất, mặc dù vài năm gần đây đã có những bước tiến

đáng kể nhưng phải thừa nhận là kinh phí cho giáo dục đào tạo hướng nghiệp của Việt nam luôn thấp hơn các nước khác trong khu vực, thiếu nguồn tài chính cho giáo dục đào tạo để cho phép các sinh viên và công nhân Việt nam tiếp thu công nghệ mới

Thứ hai, các DNVVN khó tiếp cận đến các khoản tín dụng

trung và dài hạn nhằm giúp họ đầu tư mua thiết bị mới, công nghệ mới, đào tạo người lao động

Ngoài ra, khung pháp lý với công nghệ còn nhiều bất cập:

Thứ nhất, các quy định hạn chế nghiêm ngặt được quy định trong

Luật Dân sự ở các hợp đồng chuyển giao công nghệ phần nào ngăn

cản việc chuyển giao công nghệ cao mà nước ta đang cần Thứ hai,

mỗi hợp đồng chuyền giao công nghệ được Bộ Khoa học-Công nghệ-Môi trường phê duyệt phải mất12 tháng, thời gian này cũng

đủ để công nghệ chuyển giao sắp lạc hậu Thứ ba, Hệ thống cấp

giấy phép công ty và đầu tư làm giảm sức cạnh tranh- vốn là một

Trang 3

động cơ thúc đẩy đổi mới công nghệ- và làm nảy sinh tình trạng kinh doanh không ổn định-một khó khăn lớn đối với việc đổi mới công nghệ

Các quy định pháp lý hiện nay tạo ra nhiều khó khăn và tốn kém trong việc nhập khẩu vác thiết bị và máy móc đã qua sử dụng vào Việt nam Theo quy định của Bộ Khoa học-Công nghệ-Môi trường buộc các doanh nghiệp phải được sự chấp thuận từ cơ quan nhà nước có liên quan và chứng chỉ của một cơ quan giám định hợp pháp ( thường là VINACONTROL của Việt nam và SGS của Thuỵ sỹ) là thiết bị còn mới 80% giá trị, không phải phế liệu hoặc chát đốt tiêu thụ không được quá cao hơn 10% so với máy mới và các máy móc thiết bị đó phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về an toàn và môi trường Các DNVVN, nếu không thể mua máy móc thiết bị mới, thì cũng chật vật trong việc nâng cấp lên thiết bị đã qua sử dụng Đành rằng là cần tránh tình trạng biến Việt nam thành bãi rác công nghệ những nếu quy định qúa khắc nghiệt thì cũng rất khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận công nghệ mới

Trong tình trạng như vậy thì hoạt động cho thuê tài chính (leasing)-một hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao, linh hoạt

trong kinh doanh-có thể được xem như cứu cánh cho vấn đề công nghệ của các DNVVN, tuy vậy việc xúc tiến hoạt động này chưa phát triển lắm Nghị định số 64/CP ngày 9/10/1995 đã được Chính phủ ban hành về Qui chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam nhằm mở đường cho các công ty cho thuê tài chính tiến hành hoạt động, tạo một kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho các DNVVN, nhưng kết qủa vẫn chưa thu được bao nhiêu Cho thuê tài chính ở Việt nam vẫn còn là một cái gì đó xa lạ

Về giáo dục đào tạo, Những năm gần đây, Chính phủ cũng

đã có rất nhiều cố gắng nỗ lực để tạo cho các doanh nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng một đội ngũ nhân lực có tay nghề

và trình độ Ngành giáo dục đào tạo và nhiều cơ quan của các ngành đã mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng cho chủ doanh nghiệp

Trang 4

theo các khoá, trường lớp với nhiều hình thức, phương thức đào tạo khác nhau Mặc dù đó mới chỉ ban đầu hình thành do nhu cầu bức thiết của các DNVVN nhưng nó đã giúp cho việc đào tạo đội ngũ nhân lực trong khu vực DNVVN tích cực và thiết thực Hàng nghìn lớp học ngắn hạn và các hội thảo đã được tổ chức ở khắp nơi trên cả nước Tuy nhiên, việc đào tạo, bồi dưỡng cho chủ doanh nghiệp như vậy còn chưa được thực hiện đúng mức, chương trình còn nghèo nàn, nội dung còn hạn chế, chưa đáp ứng được các yêu cầu cho loại đối tượng này

Bên cạnh đó, cũng đã có một số trung tâm xúc tiến, hỗ trợ DNVVN được thành lập và thực hiện các hoạt động đào tạo và các hoạt động khác do các nguồn quỹ quốc tế tài trợ Có thể kể đến trong số đó là Trung tâm dịch vụ và hỗ trợ doanh nghiệp (BPSC) hình thành trên khuôn khổ dự án hợp tác giữa Liên minh Hợp tác

xã Việt nam (VCA) và tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ), trung tâm liên tục tổ chức các lớp học trong đó bao gồm cả những lớp học đào tạo giảng viên Ngoài ra còn có các lớp học liên tục được

tổ chức tại Trung tâm hỗ trợ DNVVN của VCCI-SME PC với sự

hỗ trợ của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các lớp học của Trung tâm hỗ trợ DNVVN của Tổng cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng( SMEDEC) Tuy nhiên các trung tâm này không đủ để đáp ứng việc đào tạo hướng nghiệp và các dịch vụ tư vấn ở quy mô các DNVVN yêu cầu Vấn đề là có một cơ quan Chính phủ ủng hộ hoạt động của các trung tâm này cũng như sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế, như vậy các trung tâm đó mới thực sự phát huy vai trò hỗ trợ các DNVVN

5 Tác động của chính sách hợp tác quốc tế về các DNVVN

Việt nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và nền kinh tế toàn cầu, thành công của tiến trình này phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của khu vực doanh nghiệp mà chủ yếu là các DNVVN Khu vực này chỉ thực sự phát triển được nếu có sự hỗ trợ kịp thời, có những điều kiện ưu đãi thích hợp, không chỉ từ phía đối nội mà còn cần nhiều những hỗ trợ quý báu từ bên ngoài

Trang 5

về nguồn vốn viện trợ phát triển, về các kinh nghiệm trong việc phát triển các DNVVN Quan hệ hợp tác của Việt nam với nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều định chế tài chính vì vậy mà không ngừng được tăng cường và phát triển, dưói đây là một vài thành quả điển hình

Cùng chung một mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp thông qua những dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh cho các DNVVN Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam(VCCI) và Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật Đức(GTZ-German Technican Corporation) cùng hợp tác và xây dựng và phát triển những dịch vụ thông tin cập nhật với chất lượng cao Văn bản hợp tác giữa VCCI và GTZ kí vào 10/2001, kế đó việc phát triển

hướng đi của SMEnet( Small and Medium Enterprises) được ghi

nhận và thông qua vào 11/2001 và kinh phí được hỗ trợ vào 12/2001 Sau đó SMEnet được thử nghiệm vào 3/2002 và chính thức hoạt động từ 4/2002

SMEnet-thành quả đầu tiên là trang Web http://www.SMEnet.com.vn vào tháng 4/2002, đây thực sự là một bước tiến lớn lao khi mà các DNVVN có thể tiếp cận được rất nhiều nguồn thông tin quý báu về hoạt động kinh doanh của mình, khi mà các thông tin về DNVVN được công bố công khai Tại đó, các DNVVN có thể có những thông tin cập nhật về thị trường, sản phẩm, bạn hàng, đối tác, các thông tin về tư vấn pháp luật, khởi sự doanh nghiệp, và nhiều thông tin hữu ích khác qua đó các DNVVN Việt nam có thể tăng sức cạnh tranh của mình.Tuy mới hoạt động nhưng trang Web này thực sự đã là công cụ hiệu qủa cho phát triển DNVVN

Cũng theo kế hoạch hợp tác giữa VCCI và GTZ, Dự án thúc đẩy phát triển DNVVN sẽ dần dần chuyển giao SMEnet cho Trung tâm thông tin VCCI quản lí, trong quá trình chuyển giao đó, hai bên sẽ cùng hợp tác phát triển SMEnet như một cổng thông tin về kinh tế cho các DNVVN

Phía Việt nam cũng đã có sự hợp tác với Italia về phát triển

các DNVVN, hai bên đã ký “Biên bản ghi nhớ về sự hợp tác về

Trang 6

các DNVVN Việt nam- Italia” giữa Bộ công nghiệp, thương mại

và thủ công nghiệp nước Cộng hoà Italia và Bộ công nghiệp nước công hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam vào 5/10/1999 Italia cũng đã

cụ thể hoá bằng nhiều chương trình hợp tác hỗ trợ, cụ thể là “Hội thảo DNVVN trong công nghiệp- kinh nghiệm của Italy và Việt nam” do bộ công nghiệp Việt nam, Đại sứ quán Italy tổ chức ngày

22/5/2002 Hay là dự án hỗ trợ kỹ thuật cho các DNVVN việt nam trong công nghiệp đá ốp lát, và nhiều hoạt động khác

Việt nam cũng luôn tham gia và thậm chí trực tiếp tổ chức các hội nghị quốc tế về phát triển các DNVVN Điều này thể hiện quyết tâm thực sự của Chính phủ trong phát triển các DNVVN Tại Bắc Kinh, việt nam tham gia Hội nghị cấp bộ trưởng APEC về các DNVVN ngày1/9/2001 với sự tham gia của 21 quốc gia APEC, hội nghị đã thông qua tuyên bố chung về phát triển các DNVVN Tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8/10/2002 đã diễn ra

“Hội nghị lần 7 các thành phố đối tác khu vực châu á-Thái Bình Dương về chính sách hỗ trợ DNVVN” Hội nghị cũng thông qua

chương trình hành động TP Hồ Chí Minh về phát triển DNVVN

III THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG TỒN TẠI CỦA CÁC DNVVN TẠI VIỆT NAM

1 Vốn của các DNVVN

Hiện nay các DNVVN gặp phải tình trạng khó khăn về vốn

để mở rộng sản xuất kinh doanh Thị trường cung ứng vốn cho các DNVVN chủ yếu là thị trường tài chính phi chính thức Các chủ doanh nghiệp thường vay vốn của thân nhân, bạn bè, và vay của những người cho vay lấy lãi Hầu như các DNVVN, nhất là các DNVVN ngoài quốc doanh, không tiếp cận được với nguồn tín dụng chính thức của ngân hàng Thực trạng này do nhiều nguyên nhân như: Hệ thống ngân hàng, chủ yếu dành các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước; các DNVVN không đáp ứng được các đòi hỏi của ngân hàng về các thủ tục như lập dự án khả thi, thủ tục thế chấp và mức lãi suất Hiện nay, các thủ tục vay vốn tín dụng của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng còn rất phức tạp, dẫn đến chí phí giao dịch cao làm cho những khoản tín dụng

Trang 7

này trở nên quá đắt đối với các DNVVN Thủ tục phức tạp và chi phí giao dịch cao lại cũng làm cho các ngân hàng không muốn cho các DNVVN vay Bởi vì dưới góc độ của các ngân hàng, thủ tục cho vay các khoản vốn nhỏ cũng không kém phần phức tạp so với các khoản vốn lớn mà lợi nhuận lại ít và các quy định quá khắt khe

về tài sản thế chấp và dự án khả thi cũng đội các chi phí lên cao Chính vì thế ngân hàng thì nhận được ít lợi nhuận đi còn các DNVVN thì lại không đáp ứng được các điều kiện vay vốn, cho nên các ngân hàng không muốn cho họ vay Trong khi đó, các DNNN thì lại vay vốn mà không cần phải thế chấp tài sản Đây là một trong những phân biệt đối xử lớn hiện nay

Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác như các phương pháp định giá tài sản thế chấp còn không rõ ràng, thường đánh giá rất thấp giá trị của các tài sản thế chấp so với giá trị thực của nó,

và các quy định của các ngân hàng về vấn đề này còn rất tuỳ tiện Bên cạnh đó, một số chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh không muốn vay ngân hàng vì như vậy khó trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế

Các khoản hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài của các quốc gia, các

tổ chức, các dự án là rất hiệu quả nhưng chưa thấm tháp vào đâu với nhu cầu của các DNVVN Các chính sách tài chính tín dụng chưa được tiến hành đồng bộ và thực thi hiệu quả nên tác động chưa thật tốt đến nhu cầu bức xúc về vốn của các DNVVN hiện nay

2 Tình hình thiết bị công nghệ

Trình độ thiết bị, công nghệ trong các DNVVN rất lạc hậu Chỉ trừ một số ít các doanh nghiệp mới thành lập, còn phần lớn sử dụng thiết bị lạc hậu tới 20-50 năm so với các nước trong khu vực Năng lực công nghệ và kỹ thuật hạn chế, trang bị vốn thấp ( chỉ bằng 3%) mức trang bị kỹ thuật trong các doanh nghiệp công nghiệp lớn Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị thấp Nếu lấy thành phố Hồ Chí Minh- trung tâm công nghệ cao nhất cả nước làm ví dụ thì tỷ

lệ này cũng chỉ là khoảng 10% một năm tính theo vốn đầu tư Trong khi đó, nhiều sản phẩm công nghệ hiện nay như các sản phẩm điện tử, viễn thông, hóa thực phẩm có chu kỳ sống rất ngắn

Trang 8

Với tốc độ đổi mới máy móc thiết bị như trên thì không tránh khỏi tụt hậu; do đó mà năng suất thấp, giá thành cao, rất khó cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Có thể thấy tình hình tại thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Trang 9

Bảng : Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị đang sử dụng tại

các DNVVN ở TP Hồ Chí Minh so với trình độ chung của thế giới

Trình độ công nghệ, máy móc, thiết bị (%) Loại doanh nghiệp

Hiện đại Trung bình Quá lạc hậu, lạc

hậu

2 Ngoài quốc

Nguồn: Báo cáo định hướng chiến lược và khuyến nghị chính sách

phát triển DNVVN đến năm 2010 ở Việt Nam, Trang 22

Thực trạng trên cũng không có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì các

DNVVN đươc định nghĩa với tiêu chí vốn tương đối thấp và gặp

rất nhiều khó khăn trong việc vay vốn tín dụng trung và dài hạn

cần thiết cho việc đầu tư nâng cấp công nghệ Đặc biệt các doanh

DNVVN còn đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thị

trường quốc tế trong lĩnh vực công nghệ, máy móc và thiết bị do

thiếu thông tin về thị trường này Những tồn tại căn bản trong tình

hình công nghệ lạc hậu hiện nay ở khu vực DNVVN là :

- Thiếu vắng chiến lược công nghệ cho DNVVN, do đó đổi

mới công nghệ diễn ra một cách tự phát, cá biệt, thiếu định hướng,

hướng dẫn và hỗ trợ của Nhà nước hoặc của doanh nghiệp lớn

- Thiếu thông tin hướng dẫn và điều kiện tiếp cận công nghệ,

năng lực tài chính hạn hẹp Việc đổi mới công nghệ vẫn chỉ là việc

làm tự thân của DNVVN

- Tiến trình thay đổi công nghệ diễn ra chậm chạp, chưa

tương xứng với tốc độ gia tăng của thị trường Việc đổi mới công

Trang 10

nghệ chỉ tập trung vào một số ngành và chủ yếu ở các thành phố lớn, các ngành này đã đạt được những tiến bộ nhất định về công nghệ và từ đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường (ngành may mặc, thủ công mỹ nghệ, hóa mỹ phẩm, chất tẩy rửa, sản xuất đồ nhựa, sản xuất công cụ chế biến lương thực, đồ gia dụng )

- Thiếu những giải pháp đồng bộ trong việc tiếp thu công nghệ ngoại nhập, thiếu thông tin tư vấn, trình độ và tổ chức đánh giá thẩm định cho nên khoảng 70% máy móc thiết bị mua về ở mức trung bình, trong đó một bộ phận đáng kể ở dạng second-hand Việc quản lý công nghệ nhập còn nhiều sơ hở, quy chế giám định công nghệ chưa chặt chẽ gây tổn thất lớn về kinh tế

- Vai trò hướng dẫn quản lý của các ngành kinh tế- kỹ thuật, của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tư vấn về công nghệ còn thiếu và lúng túng Cơ chế chính sách, cơ chế chuyển giao công nghệ không đồng bộ; quy trình, quy phạm, thiếu sự hỗ trợ trong chính sách tài chính tín dụng do đó DNVVN không đủ sức đổi mới công nghệ hoặc tiếp thu công nghệ mới kém hiệu quả,

cơ chế kiểm soát chuyển giao công nghệ chưa chặt chẽ

- Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu triển khai với các DNVVN, tiềm năng nghiên cứu của các viện, trung tâm, các trường đại học chưa được khai thác phục vụ cho các chương trình đổi mới công nghệ, thiếu sự hỗ trợ về công nghệ giữa các doanh nghiệp lớn với DNVVN

- Thiếu đội ngũ chuyên gia, công nhân lành nghề, thợ bậc cao, những nhà hoạch định chính sách và tổ chức ứng dụng công nghệ mới

- Thiếu những điều kiện chuẩn bị cho quá trình thay đổi công nghệ một cách cơ bản, đồng bộ để thích ứng với sự biến đổi của thị

trường khi hội nhập đầy đủ với các nước ASEAN vào năm 2006

Kế đó, còn có một số nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến hoạt động chuyển giao công nghệ cuả các DNVVN như:

- Các doanh nghiệp chưa được phép khấu hao nhanh máy móc thiết bị do đó chưa khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Ngày đăng: 28/07/2014, 02:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  : Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị đang sử dụng tại - Giáo trình phân loại khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau tùy theo mục đích công việc và bộ máy tổ chức p5 pps
ng : Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị đang sử dụng tại (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w