Bên cạnh đó , việc quy định về lãi suất trên chỉ áp dụng đối với các Ngân hàng thương mại quốc doanh song đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần để cạnh tranh thu hút khanh hàng , khôn
Trang 1suất cho vay
suất cơ
sở
khả năng thanh toán
hàng vay dài hạn
Hiện nay ở Việt nam chưa có nghiên cứu nào về mức dự phòng rủi
ro khách hàng mất khả năng thanh toán và rủi ro về kỳ hạn cũng như những rủi ro khác để dựa vào các yếu tố quyết định lãi suất cho vay
Ta cũng có thể tính lãi suất cở sở của các Ngân hàng thương mại theo công thức sau :
Lãi suất
cơ
cở
=
Lãi suất huy động
+
Chi phí kinh doanh ( tiền
hao)
+
Lợi nhuận trước
vọng
Với lãi suất huy động Với lãi suất huy động 12 tháng là 0,6% tháng (7,2% năm ); chi phí kinh doanh là 0,2%tháng hay 3%/ năm , lợi nhuận kỳ vọng là 17%/năm (số hiệu 1995 -> 1999 ta có lãi suất chính sách =7,25% + 3%+1% = 11,27%/năm hay0,93%/ tháng
Mục đích kinh doanh là lợi nhuận , các Ngân hàng Trung ương quốc doanh cần ổn định lãi suất cho vay cao hơn lãi suất cơ sở nhằm bù đắp những rủ ro xẩy ra trong quá trình cho vay và đầu tư, nhưng với mức trầnls cho vay hiện nay 10%/ năm 0,8%/ tháng sẽ lam kết quả kinh
Trang 2doanh của các Ngân hàng thương mại quốc doanh khi muốn đạt được chỉ tiêu lợi nhuận tạm chí chỉ đạt mức hoà vốn hoặt bị lỗ nếu không có các nguồn thu từ các hoạt động khác mang lại
II QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH LÃI XUẤT
1 Việc điều chỉnh lãi xuất trong thời gian gần đây
Từ ngày 1/6.1990 Ngân hàng Nhà nước đã có một số chuyển biến lớn là chỉ quy định một mức trần lãi suất cho vay tối đa bằng đồng Việt Nam là 1,15% / tháng áp dụng cho tất cả các kỳ hạn cho vay Đây cũng
là bước tiến mới cho Ngân hàng Nhà nước thực hiện công bố lãi suất cơ bản
Trong xu hướng toàn cầu hoá và quốc tế hoá nền kinh tế ,Ngân hàng trung ương ở mỗi quốc gia khi tiến hành điều chỉnh lãi suất của mình trước hết phải xem xét với xu huướng diễn biến trong khu vực và trên thế giới trong xu hướng chung về diễn biến lãi suất trên thế giới hơn một năm qua và diễn biến kinh tế trong 6 tháng đầu năm 1999 , ta cùng xem xét việc điều chỉnh lãi suất ở Việt Nam ra sao ?
Tính từ ngày 1-7-1997 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đã tiến hành nhiều đợt điêù chỉnh lãi suất cho vay Hai lần điều chỉnh gần đây nhất là 1/2/1999 thực hiện với 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh cho vay với khách hàng ở khu vực đô thị 1/6 1999 thực hiện đối với các tổ chức tín dụng Ngày 29/1/1999 Thống đốc Ngân hàng Nhà
Trang 3nước cho chỉ thị 01 1/1999 CT - NH NN quy định trần lãi suất cho vay thông thường bằng đồng Việt Nam của các Ngân hàng thương mại quốc doanh đối với khách hàng ở khu vực đô thị là 1,1%/ tháng với các loại cho vay ngắn hạn , 1,15% của các loại vay trung và dài hạn song các Ngân hàng thương mại quốc doanh chiếmtới 71,6% tổng dư nợ cho vay của các Ngân hàng đối với nền kinh tế , chiếm chủ yếu hần cho vay Do
đó, chỉ thị về mức lãi suất trên có ý nghĩa như hạ trần lãi suất cho vay chung của nền kinh tế Bên cạnh đó , việc quy định về lãi suất trên chỉ
áp dụng đối với các Ngân hàng thương mại quốc doanh song đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần để cạnh tranh thu hút khanh hàng , không muốn mất khách hàng truyền thống có uy tín, các ngân hàng thương mại cổ phần cũng buộc phải hạ mức lãi suất cho vay xuống bằng mức lãi suất cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh
Thêm vào đó, lãi suất cho vay vốn các tổng công ty 90-91, các doanh nghiệp lớn và kinh doanh có hiệu quả ,các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ổn định để cạnh tranh và thu hút khách hàng các ngân hàng thương mại đều giảm mức lãi suất cho vay từ 10-15% so với mức trần lãi suất quy định nói trên , chỉ cho vay với lãi suất 1,0 - 1,05% tháng thậm chí hạ tới 0,95% / tháng hoặc 0,90%/ tháng của loại vay ngắn hạn
Xuất phát từ chỗ tất cả các Ngân hàng đều chủ động hạ lãi suất từ nhiều tháng trước đây lên lãi suất Ngân hàng được điều chỉnh giảm xuống nhưng các Ngân hàng không có cơ sở gì để tiếp tục hạ thêm lãi suất tiền gửi để người gửi tiền không bị ảnh hưởng gì khi Ngân hàng
Trang 4điều chỉnh lãi suất Quyết định điều chỉnh trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước được thực hiện từ ngày 1 /6 /1999 trong đó trần lãi suất cho vay là 1,15% /tháng kể cả ngắn hạn trung hạn và giài hạn lãi suất này tăng 0,05% so mức 1,2% /tháng của loại vay ngắn hạn theo chỉ thị 01/CT – NHNN và tương đương với mức 1,15% /tháng của loại trung
và dài hạn mà dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm tới 60 % tổng mức nợ Do
đó so với mức quy địng thức hiện từ ngày 1/6/1999 thực chất còn tăng hơn chứ không phải là giảm
Như chúng ta đã biết mục tiêu chính của quỹ tín dụng nhân dân cơ
sở là mang ính chất tương trợ về vốn giữa các thành viên song với lãi suất quá cao so với mức lãi suất chính thức các Ngân hàng thì sẽ mất đi tính chất tương trợ Hầu hết những người tìm đến vay vốn quỹ tín dụng
cơ sở là người nghèo hay có hoàn cảnh đặc biẹt khó khăn hay không đủ điều kiện vay vốn Ngân hàng mới tìm đến quỹ tín dụng nhân dân nhưng thực tế lãi suất lại quá cao gây khó khăn cho người vay
Qua cách phân tích trên quyết định trần lãi suất cho vay từ 1/6/1999 có hai mặt tích cực sau
Thứ nhất : Lãi suất cho vay ở nông thôn trước đây đều cao hơn lãi suất cho vay ở thành thị và cao hơn đối tượng khách hàng khác Sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều rủi ro và lợi nhuận thấp nhưng lại chỉ có một phân lãi suất cho vay hộ nông dân được bình đẳng được hưởng về lãi suất so với thành phần kinh tế khác Ước tính đến 5/1999 dư nợ cho
họ nông dân của tất cả loại hình tổ chức tín dụng là 18000 tỷ đồng việc
Trang 5điều chỉnh lãi suất xuống một mức trần chung là 1,15% /tháng bình quân mỗi hộ nông dân giảm được 9-18 tỷ đồng lãi suất phải trả cho Ngân hàng Đó là trên phương diện kinh tế còn về mặt chính trị , xã hội thì nó có ý nghĩa to lớn : lần đầu tiên giai cấp nông dân được hưởng quyền bình đẳng về lãi suất so với thành phần kinh tế khác
Thứ hai : Việc Ngân hàng Nhà nước mức trần mức lãi suất cho vay tối đa 1,15% / tháng đối với cả ngắn hạn , trung hạn và dày hạn và việc Ngân hàng Nhà nước không can thiệp vào các mức lãi suất cụ thể của Ngân hàng thương mại Đây là bước tiến quan trọng của Ngân hàng Nhà nước để hình thành lãi suất cơ bản theo luật Ngân hàng Nhà nước .Xét một cách khái quát việc giảm lãi suất theo xu hướng của thế giới và theo và theo yêu cầu của nền kinh tế lãi suất cho vay của Việt nam vãn còn cao (1,3,8%) nhưng đã có những vai trò tích cực
2 Nguyên nhân của việc điều chỉnh lãi suất
Tình hình chung của nền kinh tế những năm gần đây là tốc độ tăng trưởng GDP chững lại , hiện tượng giảm phát diễn ra và chỉ số giá có xu hướng tăng (có thời gian chỉ số âm) Mặt bằng giá cả hàng hoá trên thế giới và trong khu vực giảm khiến cho giá xuất khẩu , giá nhập khẩu và mặt bằng giá cả của Việt nam giảm theo Mặt khác nhiều mặt hàng thiết yếu trong nước có giá cao hơn trên thế giới Tỷ xuất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế giảm doanh nghiệp không mạnh dạn vay vốn Ngân hàng buộc phải giảm để phù hợp với tỷ xuất lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh và để mở rộng tín dụng
Trang 6Nguồn vốn huy động của các Ngân hàng phát triển mạnh khiến khiến vốn càng thêm ứ đọng Hiện nay lãi suất huy động tuy có giảm nhưng tốc độ giảm chậm hơn tốc độ tăng , chỉ số giá sinh hoạt và các Ngân hàng cũng cạnh tranh trong việc thu hút nguần vốn huy động bằng cách nâng cao lãi suất huy động đặc biệt là các Ngân hàng thương mại
cố phần và một số Ngân hàng nước ngoài Một số doanh nghiệp còn sử dụng vốn nhàn rỗi để gửi Ngân hàng hay mua trái phiếu Các giải pháp kích cầu còn chưa đủ mạnh đôi khi mất tác dụng ( như phát hành công trái kỳ phiếu thu tiền về ) Nó vẫn được coi là vấn đề quan trọng bởi vì trong bối cảnh các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải dựa vào nguần vốn vay Ngân hàng (từ 90%) để sản xuất kinh doanh như hiện nay thì chủ trương giảm lãi suất là hoàn toàn hợp lý
Bên cạnh nguyên nhân lãi suất thực vẫn còn cao như đã nêu trên còn những nguyên nhân khác : Đối với những người có lượng tiền tiết khiệm nhỏ không có khả năng kinh doanh thì lãi suất có thấp vẫn có lãi vốn được bảo toàn (nế no sọ vấn đề tỷ giá thì họ có thể chuyển sang gửi tiết kiệm bằng đô la Mỹ với lãi suất thấp hơn ) những người có lượng tiền tiếp kiệm lớn thì không có cơ hội đầu tư do đầu tư vào sản xuất kinh doanh có tỷ xuất lợi nhuận thấp , rủi ro cao trong khi gửi vào Ngân hàng thì rủi ro thấp (hầu như không có ) và lợi nhuận cao cho dù lãi suất cho vay đã giảm khá mạnh song các doanh nghiệp vẫn không giám vay tiền vì tỷ xuất lợi nhuận của họ vẫn thấp hơn so với tỷ lệ lãi suất cho vay của Ngân hàng Do vậy nếu tiếp tục vay vôna Ngân hàng để sản xuất
Trang 7kinh doanh thì việc lợi nhuận không đủ để trả lãi Ngân hàng sẽ làm cho tình trạng nợ lần của doanh nghiệp càng tăng thêm thêm vào đó là sự giảm giá hàng liên tục trong thời gian qua càng làm cho khả năng thua
nỗ tăng nên Còn với khu vực nông thôn cho dù nhu cầu tiêu dùng nhất
là đối với hàng tư liệu sản xuất là rất lớn song cũng không thể vay được
vì thủ tục phức tạp và không có vật câm cố thế chấp và cũng không có khả năng chả nợ do tỷ lệ lãi suất cho vay không hợp lý
3 Tác dụng của việc điều chỉnh lãi suất
Các nhà kinh tế cho rằng đây là một quyết định quan trọng nhằm khắc phục tình trạng tắc đầu ra tín dụng trong tình hình nền kinh tế đang
có chiều hướng đi xuống như hiện nay Nó góp phần kích thích phát triển nền kinh tế tạo sự chủ động hơn cho công tác tổ chức tín dụng trong việc ấn địng lãi suất huy động tiền gửi và cho vay phù hợp với điều kiện cung cầu vốn trên từng vùng khác nhau và mức độ ruỉ ro của từng khoản vay
Đối với khu vực thành thị lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng
đã thực sự giảm xuống thấp hơn hay bằng với trần lãi suất Đó chính là kết quả của chỉ thị ban hành 29/1/1999 Thống đốc Ngân hàng : Trần lãi suất cho vay của 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh đối với khách hàng thuộc khu vực đô thị giảm xuống còn 11% /tháng đối với cho vay ngắn hạn 1,15% /tháng trung và dài hạn còn mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng cổ phần và cho vay ở các vùng nông thôn vẫn
dữ nguyên Vì thế quy định mới về tràn lãi suất trên thực tế không
Trang 8những tiếp tục giảm lãi suất cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh mà còn cho phép các Ngân hàng này tăng lãi suất trần cho vay của mình nên 0,05%/ tháng
Đối với khu vực nông thôn do tràn lãi suất cho vay hiện đang ở sát mức trần do đó việc điều chỉnh lãi suất này đã được thực sự giảm từ 0.05%/tháng – 0,1%/tháng khu vực nông thôn đã được bình đẳng so với khu vực thành thị và những nhà đầu tư của khu vực này có điều kiện hạ thấp chi phí đầu tư nếu pphải vay vốn Ngân hàng Tuy về phía các tổ chức tín dụng đang hoạt động trên địa bàn nông thôn lại phải chịu thiệt thòi do địa bàn hoạt động khó khăn , số lượng vay nhỏ chi phí hoạt động lớn để đảm bảo kinh doanh có lãi các Ngân hàng này phải nỗ lực rất nhiều dể giảm chi phí
Tóm lại việc điều chỉnh lãi suất chỉ có tác dụng về mặt giải quyết chính xác lãi suất , thống nhất lại trần lãi suất co tất cả các tổ chức tín dụng tạo ra sự bình đẳng lãi suất cho vay giữa khu vực thành thị và nông thôn Còn tác dụng kích thích nền kinh tế phát triển thì chỉ ở mức
độ nào đó bởi vì trước hết nó chỉ trực tiếp giúp giảm chi phí và tăng đầu
tư với khu vực nông thôn
Nhưng dư nợ ở khu vực nông thôn không lớn trong đó các khoản vay chính sách cho vay trương trình của chính phủ chiếm phần không nhỏ nên tác dụng kích thích khu vực nông thôn của việc điều chỉnh lãi suất lần này không lớn Hơn thế nữa việc hạ lãi suất mới chỉ giải quyết của vấn đề , tác dụng của nó chỉ thực sự được phát huy khi nó được gắn
Trang 9niền với các chính sách tài chính khác để khuyến khích các doanh nghiệp vay ở Ngân hàng để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
Công cuộc công nghiệp hoá , hiện đại hoá không tránh khỏi việc tập chung nguần lực vào những nghành mũi nhọn của nền kinh tế và ưu tiên cho những vùng chiến lược cho nên tình hình nguần vốn còn rất hạn chế việc sử dụng công cụ lãi suất một cách có chủ đích là vô cùng cần thiết trong trường hợp này các tác nhân đầu tư có thể tiếp cận đến nguần tín dụng với lãi suất ưu đãi (lãi suất thấp ) của các quỹ hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho đầu tư kinh doanh tại các vụng khó khăn và đặc biệt khó khăn
Hàn Quốc là một ví dụ điển hình về sự thành công trong chính sách tập trung vốn với lãi suất thấp nhằm phát triển các nghành công nghiệp chiến lược của mình trong thập niên 70
III THÀNH THỰU VÀ NHỮNG TỒN TẠI CỦA QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT
1 Thành tựu
Trong thòi gian vừa qua , Ngân hàng Nhà nước liên tục thực hiện việc kiểm soát lãi suất trên thị trường tiền tệ bằng việc quy địng trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đối với các tổ chức kinh tế và dân
cư , thống nhất giũa trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành thị và nông thôn , tiếp tục duy trì chính sách tự do hoá lãi suất tiền gửi và bỏ việc quy định về khống chế lãi suất cho vay và huy động vốn bình quân là 0,35% / tháng (4,2%/ năm) như thời gian trước
Trang 10đây (năm 1996và 1997) Từ ngày 20/01/1998, theoquy định tại quyết định 39/1998 quy định- Ngân hàng Nhà nước 1 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước , trần lãi suất cho vay bằng VNĐ tiếp tục được điều chỉnh Cho vay ngắn hạn tăng từ 1%/ tháng lên 1,2%/tháng (tăng 0,2%/tháng) cho vay trung hạn dài hạn tăng tư 1%/ tháng lên 1,2%/ tháng Trần lãi suất cho vay của tín dụng nhân dân cơ sơ cho vay thành viên là 1,57%/tháng Các quy định về trần lãi suất như trên phù hợp với quân
hệ cung cầu về vốn tín dụng đối với nền kinh tế Hơn thế việc nông trền lãi suất cho vaycủa các tổ chức tín đụng đối với nền kinh tế là cơ sở để các tổ chức tín dụng tăng lãi suất huy động vốn tương ứng , tạo điều kiện huy động đủ vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu cho vay phát triển kinh tế xã hội
Qua theo dõi tình hình việc thực hiện các quy định về trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng thoừi giân qua như sau:
+Tiền gửi không kỳ hạn 0,4 – 0,5%/ tháng
+Tiền gửi có kỳ hạn 3 tháng ; 0,7 – 0,8%/ tháng
+ Tiền gửi có kỳ hạn 6 tháng : 0,8 –0,9%/ tháng
+Tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng : 0,95 –1,05%/ tháng
Trong đó lãi suất huy đọng vốn của các Ngân hàng thương mại cổ phần cao hơn các lãi suất huy động vốn của các Ngân hàng thương mại quốc doanh lãi suất huy đọng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn (ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, quỹ tín dụng nhân