Xây dựng công trình thuỷ điện sẽ hạn chế các luồng di cư, bán di cư của các loài cá, làm thay đổi điều kiện sinh sản, có nguy cơ làm kiệt quệ nguồn thức ăn của cá tại các công trình lấy
Trang 1CHUYÊN ĐỀ:
THUỶ ĐIỆN VIỆT NAM Ở HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Trang 2THUỶ ĐIỆN VIỆT NAM Ở HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Tình hình sản xuất điện bằng thuỷ điện tại
VN ở hiện tại và tương
lai
Đánh giáchung
Trang 3I Nguyên lý hoạt động của nhà máy thuỷ điện.
Trang 4Như vậy trong các nhà máy thủy điện, thế năng của nước trong các hồ chứa đã được chuyển hóa thành động năng của tuabin, qua máy phát điện được chuyển thành điện năng.
Trang 5II Những tác động của việc sản xuất điện bằng việc xây dựng
các nhà máy thuỷ điện.
1 Tác động của công trình thuỷ điện đến môi trường xung quanh.
a, Tác động đến nguồn lợi đất và hệ sinh thái trên đất.
Khi xây dựng hồ chứa nước và nhà máy thuỷ điện, Nhà nước
sẽ phải trưng dụng vùng đất để ngập nước, gia cố bờ chắn sóng, đưa một số công trình và khu vực sinh hoạt cho cán bộ, côngnhân xây dựng, xây dựng khu tái định cư cho người dân sinhsống từ trước ở khu vực hồ chứa nước
Trang 6b, Tác động đến thế giới động vật.
Hồ chứa nước của các công trình thuỷ điện chiếm một diện tích rất đáng kể đất ngập nước, đã làm mất đi hệ quần thể thực vật, vốn là thức ăn nuôi sống động vật Hậu quả là nhiều loại động vật cũng bị tiêu diệt hoặc phải di cư đến nơi khác sinh sống
Vì vậy, khi thiết kế xây dựng hồ chứa nước bắt buộc phải có các tính toán về thiệt hại đối với thế giới động vật, tính toán thiệt hại
về kinh tế Và phải tính đến các biện pháp hoàn bù đất, cải tạo, tăng độ phì nhiêu của đất, cải thiện điều kiện cho thực vật phát triển và áp dụng các biện pháp công nghệ sinh học khác để cải tạo đất
Trang 7c, Tác động đến hệ sinh thái dưới nước.
Tác động của các hồ chứa nước và hoạt động của nhà máy thuỷ điện sẽ làm thay đổi hệ sinh thái dưới nước ở khu vực có công
trình thuỷ điện Hệ sinh thái sông sẽ phải nhường vị trí cho hệ
sinh thái hồ tại khu vực hồ chứa nước
d, Tác động của công trình thuỷ điện đến ngư trường.
Xây dựng công trình thuỷ điện sẽ hạn chế các luồng di cư, bán
di cư của các loài cá, làm thay đổi điều kiện sinh sản, có nguy cơ làm kiệt quệ nguồn thức ăn của cá tại các công trình lấy nước tại nhà máy thuỷ điện Kết quả là nguồn thuỷ sản bị giảm, đặc biệt làcác loại cá quý hiếm, trong một số trường hợp còn bị tuyệt chủng
Trang 8e, Hậu quả đối với vi khí hậu.
Các hồ chứa nước lớn sẽ tác động đến vi khí hậu các vùng lân cận, có thể giảm nhiệt độ cực trị của khí quyển Nhiệt độ cao nhất
về mùa hè có thể giảm xuống 2-3oC, mùa đông tăng lên 1- 2oC, độ
ẩm không khí cũng có thể thay đổi
f, Hậu quả về xã hội.
Tác động của công trình thuỷ điện đến tình hình xã hội ở khu vực xây dựng công trình, trước hết là phải di dời dân ra khỏi khu vực công trình và vùng sẽ bị ngập nước Tác động tiêu cực thứhai là sự thay đổi điều kiện khí hậu, sinh thái sẽ gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và hoạt động trong đời sống của nhân dân Ngoài
ra, có thể có những thay đổi điều kiện tác động của công trình thuỷ điện đến môi trường thiên nhiên
Trang 92 Ưu, nhược điểm của việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện.
a, Ưu điểm.
Hạn chế được giá thành nhiên liệu
Tuổi thọ của các nhà máy thuỷ điện tương đối cao,cao hơn các nhà máy nhiệt điện
Ít gây ô nhiễm môi trường
Là nguồn năng lượng được tái tạo vì vậy không sợ bị cạn kiệt
Trang 10hồ chứa nước.
Tái định cư dân chúng trong vùng hồ chứa
Việc xây dựng vị trí không phù hợp có thể gây ra những thảm họa như vụ đập Vajonot tại Ý gây ra cái chết của 2001 người năm 1963
Trang 11III Tình hình sản xuất điện bằng thuỷ điện ở Việt Nam hiện
tại và tương lai.
1 Tiềm năng thuỷ điện Việt Nam
Việt Nam có 2360 con sông với chiều dài 10 km trở lên, trong
đó có 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực từ 10.000 km2
Mật độ sông suối trung bình trên toàn lãnh thổ là 0,6 km/ km2,
có 10 hệ thống sông lớn có tiềm năng phát triển thuỷ điện
Tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch thuỷ điện ở nước ta chothấy tổng trữ năng lý thuyết của các con sông được đánh giá đạt
300 tỷ KWh/năm, công suất lắp máy được đánh giá khoảng34.647 MW
Trữ năng kinh tế- kĩ thuật được đánh giá khoảng 80 – 84 tỷKWh/năm, công suất lắp máy được đánh giá khoảng 19.000 –21.000 MW
Trang 122 Tình hình sản xuất điện bằng thuỷ điện Việt Nam ở hiện tại
Năm 2006, cả nước ta đã hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động thêm 3 nhà máy thuỷ điện, bao gồm Sê San 3, Sê San 3A (tổ máy l), Srok Phu Miệng cùng với 7 nhà máy thuỷ điện nhỏ cótổng công suất lắp 461 MW
Năm 2009, nước ta có thêm 7 nhà máy thuỷ điện và 16 nhà máy thuỷ điện nhỏ lần lượt đi vào vận hành với tổng công suất 1.066
MW
Năm 2010 có thêm 9 nhà máy thuỷ điện và 18 nhà máy thuỷ điện nhỏ có tổng công suất khả dụng 2.052 MW đưa điện lên lưới quốc gia, trong đó có tổ máy số 1 của Nhà máy Thuỷ điện Sơn La công suất 400 MW đi vào hoạt động trước thời hạn Nhà nước quy định một năm, làm lợi cho đất nước hàng trăm tỷ đồng
Trang 13a, Thuỷ điện vừa và nhỏ:
Cùng với việc tiếp tục triển khai xây dựng các nhà máy thủy điện có công suất lớn, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài ngành điện cũng mạnh dạn tự đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện công suất vừa và nhỏ, với gần 300 dự án có tổng công suất lắp máy khoảng 2.500MW đến 3.000 MW, tương ứng với lượng điện hàng năm khoảng 10 tỷ kW giờ
Nói chung, các nhà máy thuỷ điện nhỏ ở nước ta có nhiều lợi ích tổng hợp như: Chống lũ trong mùa mưa, cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh, nhất là các thành phố lớn vàkhu công nghiệp, chống hạn và đẩy mặn trong mùa khô; sản xuất điện với sản lượng lớn và có khả năng tái tạo, nên giá thành điện thương phẩm tương đối thấp so với các nguồn điện khác; góp phần mở rộng du lịch sinh thái và giao thông đường thuỷ; phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Trang 14Tuy nhiên, để có nhiều công trình thủy điện, nhất là thủy điện nhỏ ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, các doanh nghiệp xây dựng mong muốn Nhà nước cần đề ra các chế độ chính sách ưu tiên đầu tư về vốn, thuế đối với các nhà máy thủy điện xây dựng
ở vùng sâu, vùng xa; khuyến khích các doanh nghiệp, địa phương đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện nhỏ; có chính sách thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư điện lực; xem xét giá mua và bán điện một cách hợp lý, bình đẳng giữa các nhà đầu
tư, từng bước theo cơ chế thị trường
Sau đây xin giới thiệu một số nhà máy thuỷ điện có công suất vừa và nhỏ tiêu biểu ở nước ta:
Trang 15Nhà máy thủy điện Cần Đơn :
Nhà máy thủy điện Cần Đơn nằm trên địa bàn giáp ranh hai xã
Đa Kia huyện Phước Long và Thanh Hòa huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Theo đồ án thiết kế, Nhà máy thủy điện Cần Đơn nhận nguồn nước lưu vực thượng và trung lưu con sông Bé và lượng nước xả sau tuốc bin của Nhà máy thủy điện Thác Mơ, công suất mỗi tổ máy là 36 MW theo kỹ thuật thủy điện lòng sông, không có hồ tích nước và tuyến ống áp lực
Nguồn điện của Nhà máy thủy điện Cần Đơn sẽ bán cho TCT Điện Việt Nam tính từ nguồn phát đến tiếp điểm lưới quốc gia với giá 4,5 cent/kWh Nhà đầu tư sẽ vận hành, kinh doanh nguồn thủy điện này trong thời hạn 25 năm, sau đó chuyển giao cho ngành điện tiếp tục khai thác
Trang 16Một số thông số kỹ thuật của thuỷ điện Cần Đơn:
Mực nước dâng bình thường:110 m
Mực nước chết: 104 m
Dung tích toàn bộ: 165.5 triệu m3
Dung tích hữu ích: 79.9 triệu m3
Dung tích chết: 85.6 triệu m3
Công trình Thủy Điện Nậm Mu:
Công trình Thủy Điện Nậm Mu do Công ty Cổ phần thủy điện Nậm Mu (Tổng công ty Sông Đà uỷ thác cho CT CP Sông Đà 9 quản lý) đầu tư xây dựng theo hình thức BOO (Xây dựng, sở hữu
và kinh doanh) Công trình được khởi công xây dựng vào ngày 05/7/2002 và hoàn thành ngày 25/3/2004
Trang 17Công trình thủy điện Nậm Mu là công trình cấp III với công suất lắp máy là 12 MW, điện lượng trung bình hàng năm là 55,7 triệu KWh/năm, tổng mức đầu tư là 224,41 tỷ đồng Công trình được xây dựng tại xã Tân Thành, huyện Bắc Quang, tỉnh HàGiang
Trang 18Công trình bao gồm các hạng mục chính như sau:
- Đập dâng kết cấu bằng bê tông trọng lực, chiều dài toàn bộ đập dâng bờ phải và bờ trái 53,8m, chiều cao lớn nhất 22m, chiều rộng mặt đập 8,5m
- Đập tràn kết cấu bằng bê tông trọng lực, lưu lượng xả lũ P1% = 1090m3/s, chiều rộng tràn 40m
- Đường hầm dẫn nước chiều dài 1067m, kết cấu vỏ hầm bằng
bê tông cốt thép, đường kính thông thuỷ 1,8m
- Đường ống áp lực bằng thép dày 12÷26mm, chiều dài 1220m, đường kính trong 1,2m
- Nhà máy kết cấu bằng khung bê tông cốt thép, kích thước nhàmáy 10,4x27m Nhà máy có 03 tổ máy tuabine gáo trục ngang cóhai vòi phun
Trang 19Công trình thủy điện Nà Lơi:
Công trình thủy điện Nà Lơi được khởi công xây dựng ngày 05 tháng 12 năm 2000 và khánh thành ngày 07 tháng 05/ 2003 Do Tổng Công Ty Sông Đà - Bộ xây dựng đầu tư xây dựng theo hình thức B.O.O
Thủy điện Nà Lơi là công trình nằm trên Sông Nậm Rốm thuộc TP: Điện Biên Phủ, là bậc thang dưới của Thủy điện Thác Bay gồm các hạng mục: Nhà máy Thủy điện, Trạm Biến áp 6.3/38.5
KV, đập dâng, đập tràn, cửa nhận nước, đường dẫn nước và tháp điều áp, nhà vận hành và đường dây truyền tải điện 35KV Nà Lơi
- Điện Biên dài 4.7 km Nhà máy thủy điện Nà Lơi gồm 3 tổ máy với tổng công suất lắp máy 9.3 MW, hàng năm cung cấp sản lượng điện 46.3 triệu KW.h lên hệ thống lưới điện Quốc gia, tạo
ra cảnh quan và môi trường tốt cho khu vực và góp phần thúc đẩy
sự phát triển Kinh tế - Xã hội vùng Tây Bắc
Trang 20Trải qua hơn 2 năm xây dựng các cán bộ, công nhân các công
ty tham gia xây dựng đã không quản ngại khó khăn gian khổ để đào hơn 2 km đường hầm trong lòng núi, đào và xúc chuyển hơn
200 nghìn m3 đất đá, đổ 27 nghìn m3 bê tông, lắp dựng 915 tấn cốt thép, gia công và lắp đặt 74 tấn thiết bị thủy công, 380 tấn đường ống áp lực và lắp đặt 300 tấn thiết bị thủy lực và thiết bị điện
b, Thuỷ điện lớn:
Nhà máy Thuỷ Điện Hoà Bình:
Trang 21Nhà máy Thuỷ Điện Hoà Bình được xây dựng từ 1979 đến
4/1994, với 8 tổ máy đạt công suất 1.920MW cung cấp 1/3 sản lượng điện toàn Việt Nam Ngoài ý nghĩa là một công trình công nghiệp quan trọng, nhà máy thuỷ điện Hoà Bình còn là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn đối với du khách Nhiều hạng mục
công trình có giá trị như: Tượng đài chủ tịch Hồ Chí Minh uy
nghi trên đồi ông Tượng, bằng đá granít cao tới 18m; nhà truyền thống nơi lưu giữ bức thư thế kỷ gửi thế hệ mai sau; đài tưởng
niệm những công dân Việt Nam và chuyên gia Liên Xô hi sinh trên công trình Thuỷ Điện
Cùng với các chức năng về xã hội, kinh tế, nhà máy thuỷ điện Hoà Bình đã và đang trở thành điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách thăm quan
Trang 22Nhà Máy Thuỷ Điện Hoà Bình
Trang 23Nhà máy Thủy điện Hoà Bình được xây dựng tại hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, trên dòng sông Đà thuộc miền bắc Việt Nam Cho đến nay đây là công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á Nhà máy do Liên Xô giúp đỡ xây dựng và vận hành.
Quá trình xây dựng
Ngày 6 tháng 11 năm 1979 khởi công xây dựng
Ngày 12/01/1983: Ngăn sông Đà đợt 1
Ngày 09/01/1986: Ngăn sông Đà đợt 2
Ngày 31/12/1988: Tổ máy số 1 hòa lưới điện quốc gia
Ngày04/04/1994: Tổ máy số 8 hòa lưới điện quốc gia
Ngày 20/12/1994, sau 15 năm xây dựng công trình, trong đó có 9 năm vừa quản lý vận hành vừa giám sát thi công các tổ máy, Nhàmáy thuỷ điện Hoà Bình đã được khánh thành
Trang 24* Phát điện:
Nhà máy thủy điện Hòa Bình là nguồn cung cấp điện chủ lực của toàn bộ hệ thống điện Việt Nam
* Tưới tiêu, chống hạn cho nông nghiệp
*Giao thông thủy:
Cải thiện việc đi lại bằng đường thủy ở cả thượng và hạ lưu
Trang 25Công trình thủy điện Yaly:
Công trình thủy điện Yaly nằm trên sông Sê San, thuộc địa phận tỉnh Gia Lai Đây là công trình trọng điểm quốc gia lớn thứ
2 sau thủy điện Hòa Bình
Thác Yaly nổi tiếng ngày xưa, nay được thay bằng cảnh đẹp của đập dâng, đập tràn xả lũ và một hồ nước rộng lớn trong xanh nằm giữa núi rừng Tây Nguyên
Với diện tích bề mặt hồ rộng 64,5km² và dung tích 1,03 tỷ m³(ứng với mực nước dâng bình thường 515m) công trình thủy điện Ialy đã được xây dựng tại đây Thủy điện Yaly với công suất lắp đặt 720Mw và sản lượng điện trung bình năm 3,7 tỷkwh Quá trình xây dựng và vận hành nhà máy thủy điện Yaly đã ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội… của Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng Đặc biệt nguồn điện
đã đem lại ánh sáng cho bao buôn làng góp phần nâng cao dân trí cho đồng bào trong vùng
Trang 273 Tình hình sản xuất điện bằng thuỷ điện Việt Nam ở tương lai
Theo quy hoạch phát triển thuỷ điện cả nước đến năm 2015 cóxét đến năm 2025 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, công suất lắp đặt các nhà máy thuỷ điện đến năm 2015 vào khoảng hơn 18.000 MW với sản lượng điện trung bình hằng năm trên 80 tỷ kWh
Trang 28Trong đó, riêng 9 hệ thống sông Lô Gâm, sông Đà, sông Mã Chu, sông Cả, sông Vu Gia, sông Ba, sông Sê San, sông Srepok
-và sông Đồng Nai đã được quy hoạch phát triển các nhà máy thuỷ điện có tổng công suất khả dụng 15.383 MW với sản lượng điện trung bình hằng năm 63,87 tỷ kWh (chưa kể các nhà máy thuỷ điện nhỏ tái tạo) Các nhà máy thuỷ điện của 4 hệ thống sông
Đà, sông Đồng Nai, sông Sê San và sông Vu Gia đã có tổng công suất lắp đặt 12.214 MW với sản lượng điện trung bình 50,38 tỷ kWh/năm Đến nay, chưa kể các nhà máy thuỷ điện nhỏ tái tạo,
11 nhà máy thuỷ điện hiện có trên các hệ thống sông Đà, sông Đồng Nai, sông Lô-Gâm, sông Sê San, Sông Ba và sông Vu Gia đang hoạt động với tổng công suất lắp đặt 4.153 MW, cung cấp cho đất nước trung bình mỗi năm trên 18,06 tỷ kWh, đứng thứ 2 sau sản lượng do các nhà máy điện chạy khí thiên nhiên sản xuất
Trang 29Trong số đó đáng kể nhất là các nhà máy thuỷ điện Thác Bà, Hoà Bình, Trị An, Yaly, Hàm Thuận - Đa My đã từng giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc cung ứng điện cho đất nước những năm đầu đổi mới đầy ắp khó khăn và thiếu điện nghiêm trọng.
Năm 2011, cả nước tiếp tục đưa vào hoạt động 7 nhà máy thuỷ điện, 2 tổ máy số 2 và số 3 của nhà máy thuỷ điện Sơn La và 16 nhà máy thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp đặt 1.901 MW Năm 2012, sẽ đưa thêm 7 nhà máy thuỷ điện cùng với 16 nhàmáy thuỷ điện nhỏ năng lượng tái tạo đưa vào vận hành 13 nhàhtuỷ điện cùng với 42 nhà máy thuỷ điệnnhỏ năng lượng tái tạo
có tổng công suất 3.615 MW, kết thúc giai đoạn tăng tốc đầu tư xây dựng thuỷ điện ở cả 3 miền của đất nước Trong đó, đáng kểnhất là nhà máy thuỷ điện Lai Châu công suất lắp đặt 600 MW, thuỷ điện Thượng Kon Tum công suất 220 MW, thuỷ điện ĐăkMi 1 công suất 210 MW… Và 42 nhà máy thuỷ điện nhỏ năng lượng tái tạo có tổng công suất 1.006 MW
Trang 30IV Đánh giá chung.
Hơn nửa thế kỉ qua, công cuộc phát triển thuỷ điện ở nước ta đãtrải qua một chặng đường đầy khó khăn, gian khổ nhưng đã manglại hiệu quả vô cùng to lớn cho nền kinh tế quốc dân
Các công trình đưa vào vận hành có vai trò to lớn trong sảnxuất điện năng, phòng chống lũ, cấp nước… phục vụ phát triểnkinh tế- xã hội
Đến năm 2010 đã có khoảng 50 nhà máy đưa vào vận hành vàđến năm 2020 sẽ có khoảng 80 nhà máy thuỷ điện lớn nhỏ đượcđưa vào vận hành trong hệ thống điện
Trang 31Các nhà máy thuỷ điện được xây dựng hầu hết ở vùng núi, nơi kinh tế xã hội phát triển còn chậm Việc xây dựng các công trình thuỷ điện còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của các khu vực ấy.
Về mặt kinh tế, tỷ lệ thuỷ điện cao trong hệ thống đã đem lại giáthành điện năng hạ xuống đáng kể
Về mặt kĩ thuật, thuỷ điện đã tăng cường chất lượng điện trong
hệ thống, vận hành linh hoạt