1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc

31 364 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế
Trường học Trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 333,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ban trung tâm thông tin - Văn phòng Tổng Công ty - Ban khoa học công nghệ và môi trường - Ban xuất nhập khẩu Ban tổ chức cán bộ lao động: có chức năng tham mưu giúp việc cho Tổng g

Trang 1

Tổng Công ty, Tổng giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất trong Tổng Công ty

Phó Tổng giám đốc là người giúp Tổng giám đốc điều hành một hoặc một

số lĩnh vực hoạt động của Tổng Công ty theo phân công của Tổng giám đốc

và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được Tổng giám đốc phân công thực hiện

Kế toán trưởng Tổng Công ty giúp Tổng giám đốc chỉ đạo thực hiện công

tác kế toán, thống kê của Tổng Công ty, có các quyền và nhiệm vụ theo qui định của pháp luật

Văn phòng Tổng Công ty, các ban chuyên môn, nghiệp vụ có các chức

năng tham mưu, giúp việc Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong quản lí điều hành công việc

Đơn vị thành viên là doanh nghiệp hạch toán độc lập và Tổng Công ty có

quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Tổng Công ty theo luật định tại điều lệ của Tổng Công ty Thành viên là các đơn vị hạch toán phụ thuộc: có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp của Tổng Công ty chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Tổng Công ty Được kí kết các hợp đồng kinh tế, được chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, tổ chức và nhân sự theo phân cấp của Tổng Công ty Quyền hạn nhiệm vụ của các đơn vị hạch toán phụ thuộc được cụ thể hoá trong điều lệ tổ chức của đơn vị này

Tổng Công ty có 8 ban, bao gồm các ban sau đây:

- Ban tổ chức cán bộ lao động

- Ban kế hoạch đầu tư

- Ban tài chính kế toán

- Ban hợp tác quốc tế

Trang 2

- Ban trung tâm thông tin

- Văn phòng Tổng Công ty

- Ban khoa học công nghệ và môi trường

- Ban xuất nhập khẩu

Ban tổ chức cán bộ lao động: có chức năng tham mưu giúp việc cho Tổng

giám đốc và hội đồng quản trị trong các lĩnh vực tổ chức cán bộ, đào tạo công tác lao động tiền lương và công tác thanh tra, góp phần bảo đảm cho công tác quản lí của Tổng Công ty hoạt động thông suốt và có hiệu quả

Ban kế hoạch tài chính: Là bộ môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu

giúp Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị trong các lĩnh vực kế hoạch, kế hoạch dài hạn, kế hoạch hàng năm trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng toàn Tổng Công ty

Ban tài chính kế toán: Là cơ quan chuyên môn của Tổng Công ty tham

mưu giúp ban lãnh đạo Tổng Công ty thực hiện hai chức năng chủ yếu sau:

- Quản lí các đơn vị thành viên của Tổng Công ty về tài chính, kế toán, giá cả trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ bản, hành chính sự nghiệp

-Tổ chức thực hiện công tác tài chính kế toán, giá cả và tín dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ bản của cơ quan Tổng Công ty

Văn phòng Tổng Công ty: Là bộ môn chức năng tham mưu giúp việc

Tổng giám đốc và hội đồng quản trị trong lĩnh vực hành chính quản trị, tổng hợp, làm cầu nối giữa Nhà nước với Tổng Công ty và kinh doanh trong lĩnh vực đối nội đối ngoại, bảo đảm cho hoạt động của Tổng Công ty được tiến hành có hiệu quả

Ban kỹ thuật đầu tư: Có chức năng tham mưu giúp Tổng giám đốc và hội

Trang 3

tác chất lượng sản phẩm của Tổng Công ty

Ban xuất nhập khẩu: Là bộ môn chức năng tham mưu giúp việc cho Tổng

giám đốc và Hội đồng quản trị trong lĩnh vực quản lí ngành Giúp đỡ các đơn

vị thành viên trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu Trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm tạo nguồn thu và thúc đẩy sự phát triển của Tổng Công

ty

Nhiệm vụ của ban là:

-Xây dựng chiến lược phát triển và mục tiêu phát triển kinh doanh xuất nhập khẩu của Tổng Công ty trong từng giai đoạn

-Nghiên cứu tình hình thị trường, giá cả, khách hàng, sự biến đổi, xu hướng phát triển của ngành Dệt-May thế giới

-Nghiên cứu hệ thống quản lí, các chính sách và công cụ của nó như quota (giá tối thiểu, giá nhập tối đa) đối với những sản phẩm chính để Tổng giám đốc và hội đồng quản trị duyệt

-Hướng dẫn các đơn vị thành viên thực hiện khung giá, giá đã duyệt, theo dõi tình hình giá cả thị trường để đề xuất Tổng giám đốc và hội đồng quản trị thay đổi kịp thời, đáp ứng yêu cầu kinh doanh trong cơ chế thị trường

-Xây dựng các chính sách của Tổng Công ty đối với thương nhân, khách hàng, chính sách đối với từng khu vực để Tổng giám đốc duyệt phục

vụ cho công tác kinh doanh xuất nhập khẩu

-Phối hợp với ban kế hoạch đầu tư xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩu của cơ quan Tổng Công ty

-Trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu tìm mọi khả năng khai thác nguồn hàng xuất nhập khẩu bằng các hình thức tự doanh, đổi hàng xuất nhập khẩu uỷ thác bảo đảm kế hoạch kinh doanh của Tổng Công ty

-Tổng hợp dự kiến nhu cầu bông xơ, nguyên liệu chính hàng năm, có

Trang 4

kế hoạch nhập bông dự trữ chiến lược đồng thời đảm bảo kinh doanh có hiệu quả

-Thực hiện tốt luật cũng như chế độ chính sách trong kinh doanh xuất nhập khẩu

-Theo dõi tổng hợp, kiểm tra tình hình thực hiện công tác pháp chế trong xuất nhập khẩu của Tổng Công ty

( Sơ đồ cơ cấu tổ chức Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam - Xem trang sau)

Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Tổng Công ty Dệt May Việt Nam

4 Đặc điểm và xu thế ngành may Việt Nam

4.1 Đặc điểm

Ngành may Việt nam có truyền thống lâu đời gắn bó với truyền thống nhân dân từ nông thôn đến thành thị, đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nhằm đảm bảo hàng hoá cho tiêu dùng trong nước, có điều kiện mở rộng thương mại quốc tế, thu hút nhiều lao động tạo ra ưu thế cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu, hàng năm mang về cho Nhà nước một lượng ngoại tệ đáng kể, kim ngạch xuất khẩu chỉ đứng sau dầu khí và đã trở thành một ngành công nghiệp then chốt của nước ta Đây là một ngành phù hợp với điều kiện nền kinh tế nước ta, vì:

Một là: Sản xuất hàng may mặc cần nhiều lao động, không đòi hỏi trình

độ tay nghề cao Trong khi lao động giản đơn ở nước ta thừa rất nhiều Hơn nữa, để đào tạo một lao động trong ngành may mặc chỉ cần từ hai đến hai tháng rưỡi và lao động trong ngành may mặc thường sử dụng nhiều nữ

Hai là: Vốn đầu tư cho một chỗ làm việc ít, đồng thời ngành may mặc

có thể tạo nhiều công ăn việc làm so với các ngành khác với cùng một lượng vốn đầu tư, thời gian thu hồi vốn nhanh Chỉ cần khoảng 700-800 USD là có thể tạo ra một chỗ làm trong ngành may, so với 1500-1700 USD để cho một

Trang 5

năm

Ba là: Thị trường rộng lớn ở cả trong và ngoài nước Ở trong nước thì

đời sống nhân dân được nâng lên, nhu cầu về mặc chuyển từ “ấm” sang “đẹp”,

“mốt” tức là nhu cầu hàng may mặc ngày càng tăng và nhanh biến đổi Còn trên thế giới thì xu thế ngành may mặc phổ thông đang chuyển dần sang các nước đang phát triển do ở những nước này có lợi thế về lao động rẻ hơn những nước phát triển

Bốn là: Nước ta có điều kiện để phát triển trồng bông, đay, thúc đẩy

ngành dệt may phát triển vì nguyên liệu cung cấp trong nước thường rẻ hơn nhập khẩu

Với những đặc điểm trên mà ngành may Việt Nam đã ngày càng phát triển, thu hút được nhiều lao động xã hội - gần 50 vạn người, chiếm 22,7% lao động công nghiệp toàn quốc, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo sự ổn định chính trị-kinh tế-xã hội, do đó được Đảng và Nhà nước quan tâm Hiện nay ngành may vẫn đang chiếm một vị trí quan trọng về ăn mặc của nhân dân, quốc phòng và tiêu dùng trong các ngành công nghiệp khác

4.2 Thực trạng ngành may Việt Nam

Do có những đặc điểm phù hợp với điều kiện nước ta, nên ngành may Việt nam và may xuất khẩu phát triển rất cao trong thời gian qua cả về mặt sản lượng và kim ngạch xuất khẩu Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu chỉ đứng sau dầu thô và liên tục tăng, có thể thấy rõ qua bảng dưới đây:

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng qua các năm

Trang 6

khắp mọi miền đất nước, đặc biệt là lao động nữ Số lao động công nghiệp của ngành vào loại đứng đầu trong cả nước: khoảng 300 lao động chính và nhiều lao động phụ khác

Về mặt hàng: Sản phẩm ngành may rất đa dạng, có tính chất thời trang vừa

có tính quốc tế vừa có tính dân tộc Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu hàng may mặc lại càng phong phú và chất lượng cao hơn Bên cạnh những mặt hàng truyền thống, thông qua gia công cho các nước, các doanh nghiệp may Việt Nam có điều kiện làm quen với công nghệ may các mặt hàng phức tạp, thời trang của thế giới Công nghiệp may Việt Nam tiến bộ nhanh, từ chỗ may quần áo lao động xuất khẩu, các loại quần áo đơn giản như

vỏ chăn, áo gối, quần áo ngủ, quần áo học sinh đến nay đã may được nhiều mặt hàng cao cấp được nguời tiêu dùng chấp nhận, khách nước ngoài tín nhiệm đặt hàng đi tiêu thụ tại các thị trường khó tính trên thế giới

Tính đến năm 1995, sản phẩm may Việt Nam đã xuất khẩu sang 46 nước, riêng thị trường EU chiếm 40%, tiếp sau là Nhật Bản 16%, Đài Loan 11%, Hàn Quốc 9%, các nước SNG 6%, các nước khác 8% Ngoài ra còn có Nauy

và Canada cấp hạn ngạch xuất khẩu hàng may cho ta Việc có được hạn ngạch may là rất có ý nghĩa, đặc biệt là hiệp định may với EC (European community), nay đổi là EU (European Union) bởi vì:

Thứ nhất: EU là thị trường rất rộng lớn, khả năng tài chính, tiêu thụ

cũng rất lớn Một thị trường với hơn 350 triệu dân có mức sống cao, nhu cầu

về hàng may mặc hàng năm lên tới 22-23 ngàn tấn vải, quả là một thị trường lý tưởng cho ngành may Việt Nam

Thứ hai: là hiệp định may tạo ra thị trường ổn định để phát triển ngành

may, trị giá hạn ngạch lên tới 300-400 triệu USD/năm Đồng thời thị trường hạn ngạch thường hiệu quả hơn vì có giá ổn định và cao hơn Ví dụ: giá gia công một chiếc Jackét ( cat 21) ở thị trường EC là 4,2-4,6 USD thì ở thị trường khác chỉ 2,5-2,8 USD

Thứ ba: là phần nào khẳng định uy tín chất lượng của hàng may mặc

Trang 7

Việt Nam trên thị trường thế giới Có hạn ngạch tức là khách hàng sẽ tìm đến chứ không chỉ người sản xuất Việt Nam đi tìm khách như trước nữa

Ngành may Việt nam cũng đẩy mạnh xuất khẩu theo hình thức gia công hoặc phương thức thương mại thông thường với một số nước có nền công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Canada, các nước công nghiệp mới như Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapo và gần đây khi Mỹ bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ đối với Việt Nam, hàng may của ta có thêm thị trường Mỹ Tuy có những thuận lợi trong việc mở rộng thị trường nhưng thử thách đối với hàng may của ta với thị trường thế giới còn rất lớn Đó là khả năng thích ứng

về mẫu mốt, chất lượng, giá cả, thời hạn giao hàng theo thời vụ và tập quán buôn bán còn rất hạn chế Số lượng sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu nguời tiêu dùng ở các nước phát triển chưa nhiều Thị trường truyền thống có dung lượng lớn như Liên Xô và các nước Đông Âu chưa tìm được phương thức làm ăn thích hợp, nhất là phương thức thanh toán

Cho đến nay, ngành may Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hơn 200 Công ty thuộc hơn 40 nước trên thế giới và khu vực Tuy vậy, thị trường xuất khẩu vẫn không ổn định, đặc biệt là đối với thị trường phi hạn ngạch

5 Mục tiêu và định hướng phát triển

Theo quy luật của sản xuất hàng hoá, thị trường là yếu tố quyết định của sản xuất Để đạt được mục tiêu chiến lược phát triển, hoà nhập được vào thị trường may của khu vực và thế giới, trong những năm tới ngành may Việt Nam coi trọng phương châm “hướng ra xuất khẩu-coi trọng thị trường nội địa” để tổ chức sản xuất

Sau khi mất thị trường truyền thống là Liên Xô và Đông Âu cũ, ngành may

đã cố gắng khai thác thị trường mới là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, EU song còn nhiều hạn chế Để duy trì và phát triển sản xuất-xuất nhập khẩu, Tổng Công ty phải tổ chức tìm kiếm thị trường một cách chủ động, khắc phục tính thụ động ngồi chờ, giữ vững, khai thác, mở rộng các thị trường hiện có, nhanh chóng tìm kiếm, khai thác thị trường mới, đặc biệt là thị trường Mỹ và thị trường truyền thống cũ Trước mắt có thể làm gia công, nhưng phải chuẩn bị

Trang 8

các điều kiện để chuyển dần từng bộ phận, từng doanh nghiệp khi đủ khả năng sang phương thức xuất FOB

Trong hai thập kỷ tới, ngành may Việt Nam vẫn hướng ra xuất khẩu để thu hút ngoại tệ, tự cân đối để tồn tại và phát triển, đồng thời coi trọng thị trường nội địa để làm cơ sở cho sự phát triển

Trên thực tế hiện nay, có thể tạm chia thị trường may Việt Nam thành hai khu vực

5.1 Thị trường nội địa

Trên lĩnh vực này, ngành may Việt nam cũng gặp phải không ít những khó khăn khi phải thi đấu với những đối thủ trên sức mình Vì Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức và thực hiện các điều khoản của hiệp định AFTA, thị trường nội địa là “sân chơi” của các nước trong khu vực Trong khi ngành dệt Việt Nam đang ở mức thấp hơn so với các nước trong khu vực: về phần cứng ta sau bạn từ 7-8 năm, về phần mềm thì sau 15-20 năm Như vậy, để giữ được thị trường trong nước, không để hàng các nước trong khu vực tràn vào cạnh tranh, ngành dệt may phải có những bước đi và giải pháp thích hợp trong thời gian tới

5.2.Thị trường xuất khẩu

Đây là thị trường có nhu cầu lớn nhưng lại có yêu cấu rất cao về chất lượng

và mẫu mã, đặc biệt là thị trường Mỹ, Nhật Bản và EU Để vào được thị trường này, ngành may phải đi từng bước từ dễ đến khó, từ gia công đến xuất hàng FOB ( năm 2010 hàng vào EU là 70% FOB ) và thương mại Với tình hình thực tế ngành may của ta hiện nay, chỉ có thể đi vào các chủng loại mặt hàng chất lượng thấp và trung bình, một số ít mặt hàng đạt đến khá Các loại mặt hàng cao cấp của thị trường này ta chưa thể làm được và rất khó cạnh tranh Đặc biệt vào năm 2005, thị trường Mỹ sẽ không còn hạn ngạch, với lợi thế nhân công rẻ, ngành may Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội thâm nhập vào thị trường này

Trang 9

Thâm nhập và tìm kiếm thị trường là nhiệm vụ hàng đầu, là công việc khó khăn phức tạp nên phải phát huy khả năng của mọi doanh nghiệp để mở rộng

và phát triển thị trường Đồng thời ngành may Việt nam cũng phải từng bước đầu tư hợp lý, tổ chức lại quản lý sản xuất để tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh và uy tín trên thị trường

Trong những năm tới, ngành may Việt Nam phải đầu tư phát triển để đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân 1996-2000 là 15%/năm Đến năm 2000 xuất khẩu hàng may mặc đạt 1,2-1,3 triệu USD, tăng ba lần so với năm 1995 Sản phẩm xuất khẩu bằng vải do Việt Nam sản xuất chiếm khoảng 40-50% Tạo việc làm cho khoảng một triệu lao động

Đến năm 2010 xuất khẩu hàng may mặc đạt 3 tỷ USD, tăng gấp hai lần so với năm 2000 Sản phẩm xuất khẩu bằng vải do Việt nam sản xuất chiếm 60-70% Tạo ra công ăn việc làm cho gần hai triệu lao động với mức thu nhập bình quân trên 100 USD/1tháng/1người

Trang 10

II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA TỔNG CÔNG TY DỆT- MAY THỜI KỲ 1995-1998

Mặt hàng may mặc Việt nam trong nhiều năm qua chiếm một vị trí quan trọng trong đóng góp cho xuất khẩu và nâng cao giá trị sản lượng của toàn bộ ngành công nghiệp Việt nam Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc tăng vọt từ năm 1993, là năm bắt đầu thực hiện Hiệp định may mặc giữa Việt nam với EC (Europed Community) Hiệp định này đã đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc cả về

số lượng, chất lượng và thị trường của sản phẩm may mặc "Made in Vietnam" trên thị trường thế giới

Nếu như năm 93 kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đạt 350 triệu USD thì năm 94 tăng lên 554 triệu USD, chiếm 85% kim ngạch hàng công nghiệp nhẹ

và tiểu thủ công nghiệp, chiếm khoảng 13-14% tổng kim ngạch xuất khẩu của

cả nước Năm 95 vẫn giữ tỉ trọng này nhưng về mặt giá trị đã tăng lên 750 triệu USD Với sự ra đời của Tổng Công ty Dệt- May Việt nam trên cơ sở thống nhất Tổng Công ty Dệt Việt nam và Liên hiệp các xí nghiệp sản xuất- xuất nhập khẩu hàng may mặc đã phát huy được sức mạnh tổng hợp, tạo được thế và lực Từ năm 95 tới nay, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc không ngừng tăng lên và đã đứng hàng thứ hai trong danh mục hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam Cụ thể qua bảng sau:

Bảng 3: Giá trị xuất khẩu hàng may Việt nam 1991-1998

(Đơn vị: triệu USD)

1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 Giá trị XK

Trang 11

(Nguồn: Dự án qui hoạch tổng thể ngành công nghiệp Dệt- May đến năm

2010, tr 17.)

Trong số 10 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam phải kể đến hàng Dệt-May Tuy đứng ở vị trí thứ hai sau dầu thô, nhưng đây là mặt hàng có nhiều lợi thế so sánh và có khả năng phát triển cao Năm 1997 tỷ

lệ xuất khẩu hàng Dệt-May chiếm 14,1% so với toàn quốc đến năm 1998 tỷ lệ này tăng lên 14,7% mặc dù bị ảnh hưởng không ít bởi cơn khủng hoảng tài chính ở Đông Nam á Đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của toàn Tổng Công thuốc thú y, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Điều này góp phần giải quyết việc làm, tích cực đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam

1 Tình hình xuất khẩu hàng may mặc theo mặt hàng

Trong những năm qua, Tổng Công ty Dệt-May Việt nam thực hiện kinh doanh đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, khách hàng có xu hướng tăng lên Tổng Công ty có khả năng tạo nguồn hàng với khối lượng lớn và đang mở

ra một hướng kinh doanh mới phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế trong nước và thế giới

Các hình thức xuất khẩu hàng may mặc của Tổng Công ty chủ yếu là xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu trả nợ, liên doanh với các đơn vị để xuất, giao hàng đổi thiết bị, mua bán đứt đoạn Các nhóm mặt hàng chủ yếu bao gồm:

- Nhóm mặt hàng mặc thường ngày: sơ mi, quần âu, áo váy

- Nhóm mặt hàng lót nam, nữ

- Nhóm mặt hàng thường dùng ở nhà: các loại bộ ngủ nam, nữ; vỏ chăn,

ga, gối

- Nhóm quần thể thao: quần áo vải thun, quần áo bò (Jean)

- Nhóm thời trang hiện đại (quần áo mode)

- Nhóm trang phục đặc biệt: quân đội, bảo hộ lao động cho các loại

Trang 12

ngành nghề

Các nhóm hàng trên với nhiều chất liệu vải và phụ liệu, với tay nghề tốt, khéo léo nên sản phẩm xuất khẩu ra đạt yêu cầu về chất lượng của khách hàng

Trang 13

Bảng 4: Cơ cấu hàng xuất khẩu qua các năm

Tr

USD

% TKN

Tr

USD

% TKN

Tr

USD

% TKN

2.Jacket và áo khoác

3 Quần các loại 58,630 7,82 110,4

83

9,61 157,14

2 12,57

Qua bảng trên cho thấy, tình hình xuất khẩu các mặt hàng may mặc nói chung có triển vọng tốt, chẳng hạn đối với mặt hàng sơ mi năm 1996 giá trị đạt hơn 100 triệu USD, chiếm 14,52% tổng kim ngạch thì năm 1997 đã tăng lên hơn 200 triệu USD, chiếm 20,52% và năm 1997 là 20,56% Trong cơ cấu hàng may mặc xuất khẩu trên thì xu hướng hàng may mặc sẵn có xu hướng tăng lên nhiều bởi Tổng Công ty ngoài việc thực hiện xuất khẩu còn thực hiện làm hàng trả nợ cho các nước SNG và Đông Âu Bằng sự tranh thủ mọi nguồn vốn và sự

hỗ trợ của các đối tác, Tổng Công ty không ngừng đầu tư đổi mới trang thiết

bị, dây truyền công nghệ, thay thế các thiết bị cũ, lạc hậu, lắp đặt các thiết bị hiện đại Chính vì vậy mà chất lượng sản phẩm được nâng cao, sản phẩm đa

Trang 14

dạng (sơ mi, jacket, đồ thể thao ) từng bước đáp ứng nhu cầu thị trường Đặc biệt đối với mặt hàng sơ mi nam cao cấp đã có mặt và đứng vững trên thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Bắc Mỹ

Đối với mặt hàng dệt kim, những năm trước kia có giá trị xuất khẩu rất lớn,

do khi đó chưa đòi hỏi kỹ thuật cao cấp và nhu cầu ở các nước bạn hàng rất lớn Còn hiện nay, hàng dệt kim đòi hỏi kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, trên thị trường lại có nhiều đối thủ cạnh tranh gay gắt Do đó mặt hàng này hiện nay xuất khẩu chủ yếu là để trả nợ Bên cạnh đó, mặt hàng này phần lớn là được xuất sang các nước SNG, vì vậy khi các nước này tan rã, thì thị trường cho mặt hàng này bị thu hẹp nhanh chóng Nếu như năm 1993 xuất khẩu chiếm 39,1% thì từ năm 1995 đến nay chỉ đạt từ 7 đến 8%

Trên đây là các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Tổng Công ty Hiện nay Tổng Công ty đang tiếp tục củng cố và tiến tới nâng cao tỉ trọng hàng dệt kim, hoàn thiệnvà phát triển hàng may mặc, đảm bảo chất lượng cao, chủng loại đa dạng phong phú, giá thành giảm dần

Bên cạnh những thành công đạt được, vẫn còn một số hạn chế, tồn tại cần giải quyết Tuy kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc cao nhưng hình thức xuất khẩu hàng gia công là chủ yếu, do đó hiệu quả chưa cao (75-80% là gia công xuất khẩu) So với các nước nói chung, mặt hàng may mặc của ta chưa cạnh tranh được (trong đó có Trung Quốc, Thái Lan) Một trong những mục tiêu phấn đấu của Tổng Công ty là từng bước giảm gia công, tăng bán sản phẩm hoàn chỉnh Để thực hiện được mục tiêu này, Tổng Công ty hướng ưu tiên đầu

tư cho khâu kéo sợi, dệt vải, in, nhuộm để tạo ra nhiều loại vải có chất lượng cao (hiện nay, vải đủ tiêu chuẩn chỉ có 10-15% nhu cầu chủng loại) và đầu tư vào sản xuất phụ liệu, khâu thiết kế mẫu mã, nhãn mác và phải đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường, tìm kiếm khách hàng mua sản phẩm hoàn chỉnh của Việt Nam Năm 1996 toàn Tổng Công ty xuất khẩu sản phẩm theo điều kiện FOB được khoảng 30%, năm 1997 đã tăng lên 40% Đây là một cố gắng lớn của Tổng Công ty

Trang 15

2 Tình hình xuất khẩu hàng may mặc theo thị trường

Thâm nhập tìm kiếm thị trường là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Tổng Công ty Dệt-May Việt nam Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc luôn được Tổng Công ty chú trọng nhằm mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài Đến nay Tổng Công ty đã có quan hệ buôn bán với trên 40 nước Tổng Công ty đang củng cố vị thế và mở rộng thị trường hơn nữa Giá trị hàng may mặc không ngừng tăng lên qua các năm

Bên cạnh đó, nhu cầu hàng may mặc không ngừng tăng lên ở các nước trên thế giới vì sau nhu cầu ăn là nhu cầu về mặc Tổng khối lượng lưu chuyển hàng hoá này chiếm tỉ trọng lớn trong cán cân thương mại quốc tế, chỉ đứng sau khoáng sản tài nguyên và chế tạo máy, điện tử Khi trình độ khoa học kỹ thuật của con người ngày càng phát triển ở mức độ cao sẽ dẫn tới sự phân hoá thế giới về sản xuất Các nước phát triển sẽ chuyển sang các ngành công nghiệp hiện đại, nhường chỗ cho các nước đang phát triển trong công nghiệp sản xuất hàng may mặc Nhu cầu may mặc cũng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn, mẫu mã, chất liệu phong phú hơn, đặc biệt xã hội càng văn minh lịch sự bao nhiêu thì yêu cầu về mặc lại càng được chú ý cầu kỳ bấy nhiêu Nhận biết được các yếu

tố đó đã giúp cho Tổng Công ty trong hoạt động xuất khẩu đạt được những kết quả đáng khích lệ Để hiểu rõ hơn hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Tổng Công ty sang các thị trường trong thời gian qua, ta hay xem xét qua bảng

Tr

USD

% TKN

Tr

USD

% TKN

Ngày đăng: 27/07/2014, 22:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng qua các năm - Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng qua các năm (Trang 5)
Bảng 3: Giá trị xuất khẩu hàng may Việt nam 1991-1998. - Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc
Bảng 3 Giá trị xuất khẩu hàng may Việt nam 1991-1998 (Trang 10)
Bảng 4: Cơ cấu hàng xuất khẩu qua các năm - Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc
Bảng 4 Cơ cấu hàng xuất khẩu qua các năm (Trang 13)
Bảng 5: Cơ cấu xuất khẩu hàng may mặc theo thị trường chủ yếu - Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc
Bảng 5 Cơ cấu xuất khẩu hàng may mặc theo thị trường chủ yếu (Trang 15)
Bảng 6: Tình hình tài chính của Tổng Công ty năm 1995-1998. - Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc
Bảng 6 Tình hình tài chính của Tổng Công ty năm 1995-1998 (Trang 22)
Bảng 8: Doanh lợi theo doanh thu thời kỳ 1995-1998. - Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc
Bảng 8 Doanh lợi theo doanh thu thời kỳ 1995-1998 (Trang 26)
Bảng 9: Doanh lợi theo vốn lưu động năm 1995-1998. - Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc
Bảng 9 Doanh lợi theo vốn lưu động năm 1995-1998 (Trang 28)
Bảng 10: Chu chuyển vốn lưu động năm 1995-1998. - Luận văn tốt nghiệp " Vai trò của ngành dệt may và thực trạng xuất khẩu hiện nay trong kinh tế " phần 2 doc
Bảng 10 Chu chuyển vốn lưu động năm 1995-1998 (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w