Thông qua kênh phân phối, sản phẩm của doanh nghiệp được đem đến cho khách hàng một cách nhanh nhất và tiện lợi nhất, góp phần không nhỏ đến sự thành công trong cạnh tranh và tiêu thụ sả
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế Việt Nam ta đang trên đà phát triển, GDP hàng năm tăng cao Và khi đó yêu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp với sự phát triển là một tất yếu Mặt khác, quá trình đô thị hóa của nước ta đang diễn ra một cách nhanh chống và mạnh mẽ, khi ấy nhu cầu vật liệu xây dựng dành cho công trình xây dựng dân dụng và công nghiệplà rất lớn và không ngừng gia tăng Cầu tăng mạnh ắt cung cũng tăng theo
Do đó doanh nghiệp cần có một cơ chế, chính sách, chiến lược phù hợp để giúp doanh nghiệp hoạt động và phát triển bền vững cũng như có thể cạnh tranh được với các đối thủ hiện tại và tiềm năng trong tương lai
Các yếu tố tạo nên sự thành công cho một doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Thạch Bàn Miền Trung là công tác phân phối, cổ động, bán hàng, dịch vụ hậu mãi… Trong đó công tác phân phối có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của công ty
Kênh phân phối thực hiện việc chuyển giao từ sản xuất đến người tiêu dùng Thông qua kênh phân phối, sản phẩm của doanh nghiệp được đem đến cho khách hàng một cách nhanh nhất và tiện lợi nhất, góp phần không nhỏ đến sự thành công trong cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Vì tính chất quan trọng đó, mặc dù hệ thống kênh phân phối hiện nay của Công
ty Cổ phần Thạch Bàn Miền Trung tương đối hoạt động có hiệu quả và ổn định Tuy nhiên trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty không tránh khỏi những bất cập thiếu sót nên em quyết định nghiên cứu vấn đề này nhằm góp phần làm hoàn thiện
hơn hệ thống kênh phân phối tại công ty Đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối tại công ty Cổ phần Thạch Bàn Miền Trung”.
Phần I Những vấn đề lý luận cơ bản về kênh phân phối
Phần II Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng công tác phân phối trong thời gian qua tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Miền Trung
Phần III Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối tại công ty Cổ phần Thạch Bàn Miền Trung
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn, sự giúp
đở nhiệt tình của các anh chị trong công ty giúp tôi hoàn thành chuyên đề này Nhưng
vì kiến thức còn hạn chế, kinh nghiệm thực tiển chưa có chỉ nhìn nhận vấn đề ở tầm nhận thức nên không tránh khỏi những sai sót, rất mong được thầy cô, quý anh chị, bạn đọc góp ý kiến để chuyên đề này được hoàn thiện hơn
Trân trọng cám ơn!
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 5 năm 2009.
Sinh viên thực hiện
Trang 2
PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
KÊNH PHÂN PHỐI
I KHÁI NIỆM VÀ CHỨC NĂNG CỦA PHÂN PHỐI
1 Khái niệm
Phân phối là tổng thể những hoạt động của doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm đến người tiêu dùng và thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu
Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở kinh doanh phụ
thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra và chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng
2 Vai trò và tầm quan trọng của phân phối
- Là công cụ quan trọng nối liền sản xuất và tiêu dùng, tạo nên sự ăn khớp giửa cung và cầu Theo ý nghĩa đó thì phân phối chính là hoạt động sáng tạo ra dịch vụ cho
- Thực hiện sự cải tiến đồng bộ mẫu mã hàng hoá, khắc phục sự hạn chế về mặt hàng, kĩ thuât và tài chính của từng nhà riêng lẻ
- Trong hoạt động marketing, chính sách phân phối của doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, nó là chìa khoá để thiết lập marketing chiến lược và marketing hỗn hợp Tạo nên sự nhất quán, đồng bộ và hiệu quả giữa chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách truyền thông cổ động
- Chính vì vậy, sự lựa chọn kênh phân phối và phương thức phân phối hàng hoá luôn là một nội dung cơ bản và chủ yếu nhất của chính sánh thương mại trong hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường
3 Chức năng của phân phối
Kênh phân phối lấp được khoảng cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu giữa người tiêu dùng với các sản phẩm Những thành viên của kênh phân phối thực hiện một số chức năng chủ yếu sau
- Chức năng thông tin: thu thập thông tin cần thiết để hoạch định marketing và
tạo thuận tiện cho sự trao đổi sản phẩm
- Chức năng cổ động : triển khai và phổ biến những thông tin có sức thuyết
phục về sản phẩm nhằm thu hút khách hàng
- -Tiếp xúc : tìm ra và truyền đến khách hàng tương lai.
Trang 3- Cân đối : định dạng nhu cầu và phân phối sản phẩm thích ứng với nhu cầu
khách hàng
- Thương lượng : cố gắng đạt được những thỏa thuận cuối cùng để chuyển giao
quyền sở hữu
-Phân phối vật phẩm : vận chuyển và tồn kho hàng hoá
- Tài trợ : huy động và phân bổ nguồn vốn cần thiết để dự trữ, vận chuyển, bán
hàng và thanh toán các chi phí hoạt động kênh phân phối
II KÊNH PHÂN PHỐI
1 Khái niệm và chức năng của kênh phân phối
a Khái niệm
Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra và chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
Các dòng lưu chuyển trong kênh phân phối:
- Dòng chảy sản phẩm: Thể hiện sự di chuyển vật chất thực sự của sản phẩm
về không gian và thời gian qua tất cả các thành viên tham gia vào quá trình này từ điạ điểm sản xuất tiêu dùng cuối cùng
- Dòng quyền sở hữu: Thể hiện sự chuyển quyền sở hữu từ người sản xuất đến người tiêu dùng
- Dòng thanh toán: Là quá trình khách hàng thanh toán hoá đơn qua ngân hàng hoặc cơ sở tài chính cho người phân phối, những người phân phối thanh toán cho người sản xuất, người sản xuất thanh toán cho nhà cung ứng
- Dòng thông tin: Là quá trình các bộ phận trong kênh phân phối trao đổi thông tin với nhau của các giai đoạn của tiến trình đưa sản phẩm và dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng
- Dòng lưu chuyển cổ đông: Thể hiện sự hỗ trợ về truyền tin sản phẩm của người sản xuất cho tất cả các thành viên dưới các hình thức quảng cáo, bán hàng cá nhân, khuyến mãi tuyên truyền
b Chức năng của kênh phân phối
- Thông tin: Thu thập và phổ biến thông tin cung cấp nghiên cứu Marketing về khách hàng hiện có và tiềm ẩn, các đối thủ cạnh tranh và những thành viên, những lực lượng khác nhau trong môi trường Marketing
- Cổ động: Triển khai và phổ biến thông tin về hàng hoá nhằm thu hút khách hàng
- Tiếp xúc: Tìm ra và truyền thông tin đến khách hàng tương lai
- Cân đối: Định dạng nhu cầu và phân phối sản phẩm thích ứng với nhu cầu của khách hàng
- Thoả thuận về giá cả và những điều kiện liên quan để có thể thực hiện chuyển giao quyền sở hữu hay sữ dụng sản phẩm
Trang 4- Phân phối vật phẩm: Bảo quản và lưu thông sản phẩm đến khách hàng cuối cùng.
- Tài trợ: Tìm kiếm và phân phối vốn hợp lý để dự trữ hàng hoá ở các cấp khác nhau của kênh phân phối
2.Các kiểu cấu trúc kênh phân phối
a Kênh cấp 0
Kênh phân phối trực tiếp là hình thức phân phối mà ở đó người sản xuất bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng không thông qua các trung gian phân phối Hình thức phân phối này được sử dụng trong trường hợp các nhóm tiêu dùng có đơn đặt hàng hoặc tiêu dùng có tính chất nội bộ, phạm vi mua hàng nhỏ hẹp Ưu điểm của mạng lưới này đẩy nhanh tốc độ lưu thông sản phẩm, nâng cao được sự chủ động của doanh nghiệp trong các quyết định phân phối và thu được lợi nhuận cao Nhưng nó bị hạn chế vì quá trình quản lý khá phức tạp, nguồn vốn và nguồn nhân lực của Công ty
bị phân tán
Sơ đồ kênh phân phối cấp 0 b.Kênh cấp 1
Với hình thức phân phối này thì Công ty bán hàng hoá của mình cho người bán
lẻ và người bán lẻ bán lại cho người tiêu dùng cuối cùng Hình thức phân phối này được áp dụng trong trường hợp phân phối các mặt hàng có tính chất phổ biến nhiều như bột giặt, nước giải khát Ưu điểm của loại hình này là giải phóng được chức năng lưu thông, nâng cao trình độ chuyên môn hoá và năng lực sản xuất
Sơ đồ kênh phân phối cấp 1
c.Kênh cấp 2
Đây là hình thức phân phối được áp dụng rất rộng rải cho các xí nghiệp sản xuất ở một nơi nhất định nhưng cung cấp sản phẩm ở nhiều nơi Loại kênh phân phối này có sự dịch chuyển hàng hoá hơn hai loại trên, nó còn có thể có nhiều trung gian khác tham gia, hiện nay nó được áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp Ưu điểm của loại kênh phân phối này là tạo điều kiện cho nhà sản xuất và các trung gian phân phối nâng cao khả năng chuyên môn hoá Do đó nó tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên nó bị hạn chế do phải qua nhiều trung gian nên việc quản lý và điều hành các trung gian là rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi các nhà quản
lý phải có trình độ và kinh nghiệm cao
Người sản xuất
Người tiêu dùng
Người sản xuất
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Người
sản xuất
Người bán buôn
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Trang 5Sơ đồ kênh phân phối cấp 2 d.Kênh cấp 3
Đây là kênh phân phối dài nhất, được nhiều nhà sản xuất và nhà bán lẻ nhỏ sử dụng Nằm giữa người bán buôn và người bán lẻ còn có một số trung gian đặc biệt, đó
là người bán buôn nhỏ chẳng hạn như đại lý, môi giới Đối với một số loại sản phẩm hay một số nhà sản xuất, việc sử dụng kênh cấp 3 trở nên rất quan trọng.Vì các đại lý bên ngoài thường đông hơn lực lượng bán của nhà sản xuất, họ có nhiều kiến thức thương trường hơn nên có thể bao quát thị trường Với các nhà sản xuất không có lực lượng bán thì đại lý có giá trị đặc biệt thay thế cho lực lượng bán bên ngoài của họ Tuy nhiên đại lý thường là đại diện cho nhiều nhà sản xuất hơn là cho một nhà sản xuất và họ không hiểu rõ những chi tiết kỹ thuật về sản phẩm như lực lượng bán của công ty nên khi sử dụng họ cần có sự huấn luyện chu đáo
Sơ đồ kênh phân phối cấp 3
3 Các loại trung gian trong kênh
a Trung gian bán lẻ
Khái niệm: Người bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh liên quan
trước hết đến bán hàng hoá cho tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình và các dịch vụ cho thuê bổ trợ cho việc bán hàng hoá
Đặc điểm của người bán lẻ:
- Khối lượng hàng hoá cho một lần bán nhỏ
- Địa điểm bán hàng: Có diện tích nhỏ, nhưng phải thuận tiện cho việc thu hút khách hàng
- Bầu không khí của cữa hàng: Là vũ khí quan trọng của người bán hàng lẽ, vì
nó tạo ra nét độc đáo riêng và tạo ấn tượng trong tâm trí của khách hàng
- Họ thường quan tâm đến nhiều chính sách khuyến mãi, quảng cáo của người sản xuất và nó tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của họ
Phân loại: Tuỳ theo phân thức phân loại mà ta có thể có các loại trung gian bán
buôn nhỏ
Trang 6b Trung gian buôn bán
Khái niệm: Bao gồm các doanh nghiệp liên quan đến mua bán hàng hóa để bán
cho những người bán lại hoặc sử dụng kinh doanh như bán cho những người bán lẻ, công ty sản xuất công nghiệp, tổ chức ngành nghề hoặc nhà nước cũng như cho những người buôn bán khác
Địa điểm của trung gian buôn bán:
- Hoạt động trong phạm vi lớn so với nhà bán lẻ
- Họ ít quan tâm đến chính sách khuyến mãi, quảng cáo của người sản xuất vì
họ chủ yếu giao dịch với khách hàng buôn bán
- Địa điểm bán hàng: thường là những nơi có mặt bằng rộng, thuận lợi cho việc vận chuyển, xếp dỡ chi phí cho việc thuê mặt bằng thấp
Người bán sỉ hàng tiêu dùng: chủ yếu bán hàng cho những người bán lẻ và đảm bảo mọi hình thức dịch vụ.Người bán sĩ tư liệu sản xuất: chỉ bán hàng cho những người sản xuất, họ đảm bảo một số dịch vụ như bảo quản hàng hóa dự trữ, cho trả góp
Người bán sỉ kí gửi: chủ yếu là kinh doanh những mặt hàng không phải là thực phẩm Họ kinh doanh theo điều kiện kí gửi, có nghĩa là họ vẫn giữ quyền sở hữu hàng hóa và chỉ đảm bảo những dich vụ như vận chuyển, trưng bày hàng, duy trì hàng dự trữvà tài trợ
Người bán sỉ qua bưu điện: Khách hàng của họ là những doanh nghiệp thương mại nằm ở vùng lân cận Không có lực lượng bán hàng để viếng thăm khách hàng.Hợp tác xã sản xuất: thuộc quyền sở hữu của các trại viên và thu mua sản phẩm của các nông trại để bán trên thị trường địa phương
+ Đại lí và môi giới: Họ không dành quyền sở hữu hàng hóa mà chỉ thực hiện
Trang 7một số ít hức năng Chức năng chính của họ là tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán và hưởng tiền hoa hồng trong giá bán.
+ Người môi giới: Chức năng chính của người môi giới là đưa người mua đến với người bán và giúp họ thỏa thuận với nhau Bên thuê của họ sẽ trả cho họ một số tiền Họ không dự trữ hàng hóa, không tham gia vào việc tài trợ hay gánh chịu rủi ro
+ Đại lí: Đại lí đại diện cho người mua hay người bán trên cơ sở lâu dài Có một số loại hình đại lí như sau:
Đại lí của nhà sản xuất: Đại diện cho hai hay nhiều nhà sản xuất những loại sản phẩm bổ sung cho nhau Hầu hết các nhà đại lí của những nha sản xuất là những xí nghiệp thương mại nhỏ với một số nhân viên là những người bán hàng giỏi
Đại lí tiêu thụ: họ theo hợp đồng đã kí kết có quyền tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của nhà sản xuất Đại lí tiêu thụ hoạt động như phòng tiêu thụ của nhà sản xuất và có ảnh hưởng lớn đến giá cả, thời hạn và điều kiện bán hàng
Đại lí thu mua: có quan hệ lâu dài với những người mua của mình và thu mua cho họ những hàng hóa cần thiết, tiếp nhận kiểm tra, nhập kho rồi chuyển hàng đến cho người mua
Người bán sỉ ủy thác: là đại lí trực tiếp nắm hàng hóa và đứng ra thỏa thuận về việc tiêu thụ chúng
- Chi nhánh của người sản xuất và người bán lẻ: ngưòi bán lẻ hay người tự tiếp xúc các hoạt động mua bán chứ không thông qua người bán sỉ độc lập, có hai loại :
+ Chi nhánh văn phòng và tiêu thụ: Những nhà sản xuất thường tổ chức những chi nhánh văn phòng tiêu thụ riêng của mình để quản lí chặt chẻ hơn việc tiêu thụ khuyến mãi, dự trữ hàng
+ Văn phòng thu mua: đóng vai trò như người môi giới và đại lí, nhưng là bộ phận thuộc tổ chức của người mua
4 Vai trò của các trung gian phân phối
Ngày nay phần lớn các công ty sản xuất chuyển giao một phần công việc tiêu thụ cho những người trung gian phân phối là do:
- Không đủ nguồn tài chính để tiến hành phân phối trực tiếp sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng
- Ngay cả những ngưòi sản xuất có đủ nguồn tài chính để thiết lập các kênh riêng của mình đều nhận thấy rằng: họ có thể kiếm được nhiều lợi nhuận hơn bằng cách tăng thêm vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh của chính mình thì họ vẫn lựa chọn phân phối qua trung gian
- Khi sử dụng trung gian phân phối khối lượng bán sẽ gia tăng hơn do đảm bảo được việc phân phối hàng hóa rộng khắp và đưa hàng đến các thị trường mục tiêu một cách nhanh chóng
- Nhờ quan hệ tiếp xúc, kinh nghiệm, việc chuyên môn hóa và quy mô hoạt động các trung gian sẽ làm lợi nhiều cho nhà sản xuất hơn khi nhà sản xuất tự đảm nhận việc phân phối
- Sự xuất hiện các trung gian làm giảm bớt các giao dịch trao đổi xét trên phạm
vi toàn xã hội
- Thu thập các thông tin trên thị trường, phát hiện nhu cầu tiêu dùng và truyền
Trang 8những thông tin này trở lại kênh, các thông tin này giúp cho nhà sản xuất xây dựng chính sách Marketing - Mix phù hợp với các khách hàng hơn.
III THIẾT KẾ KÊNH PHÂN PHỐI
Là đưa ra những quyết định liên quan đến việc phát triển những kênh phân phối mới ở những nơi trước đó chưa tồn tại hoặc để cải tiến những kênh hiện tại Do vậy, thiết kế kênh được sử dụng ở nghĩa rộng bao gồm từ việc xác định xây dựng kênh phân phối mới cho đến cải tiến những kênh đã có
1 Phân tích yêu cầu của khách khách về mức độ đảm bảo dịch vụ
Để thiết kế kênh phân phối việc đầu tiên chúng ta cần làm là phân tích nhu cầu của khách hàng Phân tích nhu cầu của khách hàng là chúng ta đi phân tích mức sản lượng và dịch vụ mà khách hàng ưa chuộng Chính vì thế mà các nhân viên tiếp thị của công ty phải tìm hiểu xem các khách hàng mục tiêu của công ty cần mức sản lượng nào và đòi hỏi những dịch vụ gì trước và sau khi bán.Và mức sản lượng và dịch vụ đó
có thể là:
a Quy mô lô hàng
Là số những đơn vị mà một mạch tiếp thị cho phép một khách hàng mua trong một lần bán
b Thời gian chờ đợi
Đó là thời gian chờ đợi bình quân mà khách hàng của một mạch tiếp thị chờ đợi
để nhận hàng hoá Thông thường thì khách hàng muốn được nhận hàng ngay và đòi hỏi được cung cấp dịch vụ cao hơn
c Địa điểm thuận tiện
Biểu lộ mức độ theo đó sự tiếp thị làm cho nó trở nên dể dàng hơn cho những khách hàng để mua sản phẩm
d Sản phẩm đa dạng
Thông thường những khách hàng ưa chuộng sự có mặt của nhiều loại sản phẩm của một doanh nghiệp hơn vì nó gia tăng cơ hội khách hàng có được sản phẩm đúng với nhu cầu của mình
e Dịch vụ hỗ trợ:
Đây là những dịch vụ phụ thêm (tín dụng ưu đãi, giao hàng tận nhà, lắp đặt sửa chữa) mà kênh phân phối đảm nhận.Thông thường, dịch vụ hỗ trợ càng nhiều thì công việc mà kênh thực hiện càng nhiều hơn
2 Xây dựng mục tiêu và những yêu cầu bắt buộc của kênh
Việc hoạch định một kênh phân phối hiệu quả bắt đầu bằng sự định rõ cần vươn tới thi trường nào với mục tiêu nào Những mục tiêu có thể là mức phục vụ khách hàng tới đâu và các trung gian phải hoạt động như thế nào Mỗi nhà phân phối triển khai những mục tiêu của mình trong những điều kiện ràng buộc từ phía khách hàng, sản phẩm, các trung gian phân phối, các đối thủ cạnh tranh, chính sách của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh
a Đặc điểm người tiêu dùng:
Trang 9Khi công ty muốn vươn tới số khách hàng sống rải rác thì cần có hệ thống kênh phân phối dài Nếu khách hàng thường mua đều đặn từng lượng nhỏ cũng cần những kênh phân phối dài vì nó đáp ứng nhu cầu ít và đều dặn là rất tốn kém
b Đặc điểm sản phẩm.
Việc thiết kế kênh chịu ảnh hưởng lớn do đặc điểm của sản phẩm Những sản phẩm cồng kềnh như: Vật liệu xây dựng thì đòi hỏi kênh phân phối đảm bảo đến mức thấp nhất cự li vận chuyển và số lần bốc xếp trong quá trình lưu thông hàng hoá từ người sản xuất tới người tiêu dùng Còn đối với những sản phẩm phi tiêu chuẩn như máy móc chuyên dụng thì các đại diện bán hàng của của người sản xuất phải trực tiếp bán những sản phẩm này vì những người trung gian không có đủ kiến thức chuyên môn cần thiết
c Đặc điểm của các trung gian phân phối
Việc thiết kê kênh phân phối phải phản ánh được những điểm mạnh và điểm yếu của các trung gian phân phối trong việc thực hiện các công việc của ho.Ví dụ như
số khách hàng mà một đại diện bán hàng có thể tiếp xúc được trong một thời gian nhất định và trong số đó có bao nhiêu khách hàng thuận lòng mua sản phẩm, hay chi phí tính trên một khách hàng có thể khác nhau ở các trung gian phân phối
d Đặc điểm về cạnh tranh
Công ty cần phải phân tích những ưu thế và những hạn chế chủ yếu của kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh để thiết kế kênh phân phối của mình để có khả năng cạnh tranh cao
e Đặc điểm về doanh nghiệp
Đặc điểm của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn kênh phân phối Qui mô của doanh nghiệp sẽ quyết định qui mô đáp ứng thị trường và khả năng lựa chọn các trung gian phân phối thích hợp Nguồn tài chính của doanh nghiệp
sẽ quyết định nó có thể thực hiện chức năng Marketing nào và chức năng nào phải nhường lại cho các trung gian
f Đặc điểm môi trường kinh doanh
Khi nền kinh tế suy thoái, người sản xuất muốn đưa sản phẩm vào thị trường theo cách nào là ít tốn kém nhất Điều này có nghĩa là họ sẽ sử dụng những kênh phân phối ngắn và bỏ bớt những dịch vụ không cần thiết làm giá bán tăng lên Ngoài những quy định và những điều kiện bắt buộc về mặt pháp lý cũng ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn kênh phân phối
3 Xác định những phương án chính của kênh phân phối
Một khi công ty đã định được thi trường mục tiêu và định vị trí cho sản phẩm của mình, thì công việc tiếp theo là xác định những phương án chính của kênh phân phối Mỗi phương án của kênh phân phối được mô tả bằng ba yếu tố: Các loại trung gian phân phối, số lượng các trung gian phân phối, các điều kiện và trách nhiệm của mổi thành viên trong kênh phân phối
a Các loại trung gian phân phối.
Doanh nghiệp có thể xác định các loại trung gian có sẳn trên thị trường để tạo thành kênh phân phối cho mình Ngoài lực lượng bán hàng trực tiếp của doanh nghiệp,
có thể xem xét để đưa vào kênh phân phối các trung gian như đại lý của những người
Trang 10sản xuất khác, những người phân phối độc quyền, đại lý bán lẻ phụ tùng, những người bán lẻ và thị trường đặt hàng qua bưu điện hay Internet v v Các doanh nghiệp cũng tìm kiếm những kênh phân phối mới, nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng nhiều hơn
so với kênh phân phối hiện có
Đôi khi doanh nghiệp lại chọn phát triển một kênh khác thường vì lí do khó khăn hay quá tốn kém khi sử dụng kênh thông thường và đạt được thành công Ưu điểm của kênh khác thường là chỗ doanh nghiệp sẽ gặp phải một mức độ cạnh tranh yếu hơn do mới tham gia vào kênh này
b Số lượng trung gian phân phối
Doanh nghiệp cần phải quyết định số lượng những nhà trung gian cần ở mỗi cấp trong hệ thống kênh phân phối
- Đối với đại lý độc quyền: Một số doanh nghiệp tìm cách hạn chế số lượng
trung gian bán hàng của mình khi họ muốn duy trì quyền kiểm soát chặt chẽ đối với mức độ đảm bảo dịch vụ và khối lượng dịch vụ do người bán thực hiện Hình thức phân phối này gọi là hình thức phân phối độc quyền có nghĩa là người bán đại lý không được bán hàng của những doanh nghiệp khác, nó cũng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa người bán và người bán lại Những đại lý này thường được áp dụng cho việc phân phối các sản phẩm trong các lĩnh vực như ô tô, máy móc thiết bị quan trọng và thời trang cao cấp
- Đối với các trung gian có chọn lọc: Đây là các trung gian được áp dụng cho
hình thức phân phối chọn lọc Doanh nghiệp chỉ sữ dụng một số chứ không phải hầu hết các trung gian phân phối nào chấp nhận bán hàng cho doanh nghiệp Việc lựa chọn các trung gian này giúp cho doanh nghiệp không phải phân tán nguồn lực của mình cho qua nhiều cửa hàng, giúp cho doanh nghiệp xây dựng được mối quan hệ làm việc tốt với các trung gian đã được tuyển chọn và trông đợi một mức bán hàng trên mức trung bình Mặt khác việc lựa chọn số lượng các trung gian này cho phép doanh nghiệp bao quát thị trường một cách thích đáng mà vẩn kiểm soát được nhiều hơn và chi phí ít hơn
- Đối với các trung gian không có chọn lọc: Đôi khi doanh nghiệp sử dụng tất
cả các trung gian có nhu cầu bán sản phẩm của mình Với các trung gian này thì mục đích của doanh nghiệp là tìm cách đưa sản phẩm của mình vào thị trường càng nhiều càng tốt Nguyên nhân của vấn đề này là do các trung gian này chỉ áp dụng cho những mặt hàng thiết yếu như: thuốc lá, xăng dầu, thực phẩm, bánh kẹo Vì người tiêu dùng những sản phẩm này đòi hỏi địa điểm mua hàng phải hết sức thuận tiện.Chính vì thế mà điều quan trọng là phải đảm bảo phân phối với cường độ lớn hơn
c Điều kiện và trách nhiệm của các thành viên trong kênh phân phối
Trong hệ thống kênh phân phối các doanh nghiệp cần phải định rõ các điều kiện
và trách nhiệm của các thành viên tham gia kênh phân phối, bao gồm việc cân nhắc các yếu tố chính: chính sách giá, điều kiện bán hàng, quyền hạn theo lãnh thổ, trách nhiệm về dịch vụ hỗ trợ mà mỗi thành viên trong kênh phải thực hiện
- Chính sách giá đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng một bảng giá và bảng chiết khấu mà những người bán hàng trung gian thừa nhận là công bằng và đầy đủ
- Điều kiện bán hàng bao gồm những điều kiện thanh toán như: tín dụng mua hàng, các khoản chiết khấu tiền mặt, chiết khấu theo số lượng, giảm giá khi hàng rớt
Trang 11giá Và trách nhiệm bảo hành của doanh nghiệp như: đổi hàng có khuyết tật, đảm bảo chất lượng qui định.
- Quyền hạn theo lãnh thổ của các trung gian phân phối cũng là một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các trung gian phân phối Các trung gian phân phối cần phải biết rõ phạm vi và lãnh thổ thị trường mà họ được quyền bán hàng
Ngoài ra các doanh ngiệp cần phải làm rõ trách nhiệm giữa mình và các trung gian phân phối về các dịch vụ hỗ trợ như quảng cáo, hợp tác, tư vấn quản trị, huấn luyện nhân viên
IV QUYẾT ĐỊNH VỀ QUẢN TRỊ KÊNH PHÂN PHỐI
1 Tuyển chọn các thành viên trong kênh phân phối:
Giống như việc lựa chọn nhân viên cho một công ty, việc lựa chọn kênh có ảnh hưởng quan trọng đến sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của kênh Quyết định tuyển chọn các thành viên là thường xuyên, cần thiết ngay cả khi những thay đổi trong cấu trúc kênh không xảy ra Nghĩa là quyết định tuyển chọn có thể không phải là những kết quả của những quyết định thiết kế kênh
Một nguyên nhân phổ biến khác nữa đối với việc tuyển chọn không liên quan đến quyết định thiết kế kênh là thay thế các thành viên đã bỏ khỏi kênh
Phân tích các tiêu chuẩn lựa chọn:
Các doanh nghiệp thường đánh giá lựa chọn các nhà phân phối thông qua các tiêu chuẩn sau:
Điều kiện về tài chính tín dụng: Đây là tiêu chuẩn được sử dụng nhiều nhất để chấp nhận các thành viên kênh tương lai
Sức mạnh bán hàng: Khả năng bán hàng của các trung gian, đặc biệt là các trung gian bán buôn và thậm chí quan trọng hơn là số người bán thực sự hoặc sự trợ giúp kĩ thuật của các lực lượng bán
Dòng sản phẩm: Phải xem xét bốn khía cạnh dòng sản phẩm của nhà kinh doanh, các sản phẩm cạnh tranh, các sản phẩm so sánh, các sản phẩm được ưa chuộng, chất lượng dòng sản phẩm
Danh tiếng của nhà sản xuất: Loại bỏ các trung gian có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến danh tiếng của nhà sản xuất
Chiếm lĩnh thị trường: Nhà sản xuất luôn cố gắng đạt được sự chiếm lĩnh thị trường tốt nhất
Hoạt động bán: Các trung gian có thể chiếm lĩnh thị phần lớn như nhà sản xuất mong đợi, thường các nhà sản xuất tìm thấy dữ liệu này thông qua hiệu quả hoạt động của họ, hoặc từ các phòng tín dụng của các nhà phân phối cạnh tranh trong khu vực
Quá trình lựa chọn các thành viên gồm 3 bước :
Tìm kiếm các thành viên có khả năng
Dùng các tiêu chuẩn lựa chọn để đánh giá khả năng phù hợp với các thành viên kênh
Đảm bảo các thành viên kênh trong tương lai này chắc chắn tham gia kênh
Trang 122 Kiểm soát các thành viên trong kênh
Mức kiểm soát mà các nhà sản xuất thực hiện đối với các thành viên kênh đóng vai trò quyết định phạm vi và tần suất của nó Nếu kiểm soát thoả thuận bằng giao kèo chưa chắc các thành viên kênh, các nhà sản xuất sẽ ở trên một địa vị để yêu cầu sự cung cấp thông tin tốt nhất về hoạt động trong kênh với thực sự hầu hết các khía cạnh của các hoạt động trong thành viên kênh Hơn nữa, các nhà sản xuất đó thích có sự chấp nhận cao với sản phẩm của họ hay một vị trí khống chế thị trường có tác dụng đòn bẩy cao với các thành viên trên Nó tạo dễ dàng cho nhà sản xuất để lấy dữ liệu về
hoạt động của các thành viên để họ có thể đánh giá toàn diện hơn
3 Đánh giá các thành viên trong kênh
Người ta định kì phải đánh giá kết quả công tác của những người trung gian theo những tiêu chuẩn nhất định, làm cơ sở cho việc áp dụng các chính sách thưởng phạt như:
Mức dự trữ bình quân
Thời gian giao hàng cho khách hàng
Cách xữ lí hư hỏng và mất mát
Sự hợp tác với các chương trình khuyến mãi
Hoạt động đào tạo và huấn luyện nhân viên
Các dịch vụ của trung gian giành cho khách hàng
Người sản xuất phải xác định những mức chiết khấu chức năng, và theo đó thanh toán những khoản tiền đã định cho từng dịch vụ Những người trung gian làm việc kém cần được góp ý, huấn luyện hay đôn đốc thêm Tuy nhiên nếu họ không tiến
bộ tốt hơn thì sẽ chấn dứt quan hệ với họ
4 Khuyến khích các thành viên trong kênh
Để khuyến khích các thành viên trong kênh làm việc tốt hơn, phải bắt đầu từ việc tìm hiểu nhu cầu và ước muốn của những trung gian:
Người trung gian thường quan tâm đến việc bán những sản phẩm mà khách hàng mong muốn mua của họ
Họ cố gắng gắn tất cả các mặt hàng của mình thành một, để họ có thể bán kèm với nhau như một bộ trọn gói cho từng khách hàng
Họ sẽ không duy trì việc ghi chép số liệu tiêu thụ riêng theo nhãn hiệu đã bán trừ khi được khuyến khích
Các nhà sản xuất thường vận dụng 3 kiểu quan hệ:
Quan hệ hợp tác cùng có lợi: Họ sử dụng những động lực tích cực như lợi nhuận cao, tiền thưởng bớt giá vì hợp tác quảng cáo đồng thời họ cũng áp dụng các biện pháp trừng phạt như đe dọa giảm mức lợi nhuận, ngừng giao hàng hay chấm dứt quan hệ Nhược điểm của chính sách này là người sản xuất không nghiên cứu thấu đáo những yêu cầu, vấn đề điểm mạnh, điểm yếu của người trung gian
Quan hệ công tác: Nhà sản xuất có môí quan hệ công tác lâu dài với những người phân phối của mình Người sản xuất sẽ trình bày một ý niệm rất rõ ràng về những gì mà họ mong muốn ở những người phân phối về mặt bao quát thị trường, công tác kế toán, tư vấn
Trang 13Xây dựng kế hoạch phân phối: Đó là việc xây dựng một hệ thống marketing dọc, có kế hoạch, được quản lý theo đúng nghiệp vụ, kết hợp được cả nhu cầu của người sản xuất lẫn người phân phối.
Trang 14PHẦN II
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN PHỐI TRONG THỜI GIAN QUA TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN THẠCH BÀN MIỀN TRUNG.
I Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp:
1 Tổng quan về công ty:
a Giới thiệu tóm tắt về Công ty Cổ phần Thạch Bàn:
Công ty Thạch Bàn là doanh nghiệp thành viên thuộc Tổng Công ty thuỷ tinh
và gốm xây dựng, trụ sở thuộc Xã Thạch Bàn- Huyện Gia Lâm- Thành phố Hà Nội.Được thành lập năm 1959
Hoạt động chính của Công ty Thạch Bàn hiện nay là sản xuất kinh doanh gạch
ốp lát granite, gạch ngói đất sét nung; chuyển giao công nghệ lò nung tuynel; xây lắp công trình công nghiệp và dân dụng
Năm 1996, Công ty Thạch Bàn là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam đầu tư dây chuyền sản xuất gạch ốp lát granite nhân tạo Ðến nay sản phẩm đã có mặt tại tất
cả các tỉnh và thành phố trong cả nước, đã được xuất khẩu sang các nước như Ucraina, Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy, Australia vv Được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao 7 năm liền (1997-2003), liên tiếp đạt các huy chương vàng trong các hội chợ trong nước và quốc tế: Huy chương vàng hội chợ quốc tế hàng công nghiệp năm 1997; Sản phẩm Việt nam được ưa thích nhất năm 1999 và 2000; Sản phẩm ấn tượng nhất năm 2001; Quả cầu vàng hội chợ hàng Việt Nam năm 2001
Trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, từ năm 1993 đến 2003, Công ty Thạch Bàn đã chuyển giao công nghệ lò nung tuynel cho hơn 50 doanh nghiệp trong cả nước, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới tận gốc nghề làm gạch ở Việt Nam Các công trình đã hoạt động đảm bảo chất lượng tốt, được các đối tác đánh giá có hiệu quả kinh
tế cao
Trong tổ chức quản lý, Công ty Thạch Bàn đang tổ chức đổi mới theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con
b Sơ lược về Công ty Cổ phần Thạch Bàn Miền Trung:
Tên giao dịch: CÔNG TY CỔ PHẦN THẠCH BÀN MIỀN TRUNG
Tên viết tắt: TBC.T
Giám đốc: Nguyễn Hồng Sơn
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 3203000599 của sở kế hoạch và đầu
Trang 15Kho hàng: Đường Nguyễn Công Hoan- Quận Cẩm Lệ- Thành phố Đà NẵngTel: 05113680555-05112640555
Chi nhánh tại Nha Trang: T457/14 Cù Chính Lang- tp Nha Trang
Tel: 0583731080
Fax: 0583730881
Là một trong 9 công ty cổ phần con hoạt động độc lập trong hệ thống công ty
Cổ Phần Thạch Bàn TBC ( công ty mẹ) Xây dựng và phát triển hệ thống đại lý, cửa hàng tại Đà Nẵng và các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên từ năm 1997 chuyển đổi thành công ty Cổ phần từ tháng 1 năm 2005
Gần 10 năm kinh nghiệm trong việc phân phối các sản phẩm gạch ốp lát Granite, Mosaic Thạch Bàn và nhiều mặt hàng vật liệu xây dựng, trang trí nội thất cao cấp tại thị trường Miền Trung ( Từ Vinh đến Ninh Thuận và 5 tỉnh Tây Nguyên)
Được sự tín nhiệm của các kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng và các công ty xây dựng uy tín trên toàn quốc
Dịch vụ hậu mãi chuyên nghiệp, chu đáo, nhanh chống
Là nhà phân phối độc quyền các sản phẩm trang trí nội thất nổi tiếng trong và ngoài nước
2 Đặc điểm tổ chức sản xuất:
a Năng lực cung cấp của công ty.
- Gương soi thông dụng, gương soi nghệ thuật cao cấp COBA…
- Phụ kiện phòng tắm đa cấp Hoàng Quân, Millan, Rovelli, sứ Thanh trì…
- Bình nước nóng Ferroli – Italia
- Keo dán gạch, bột trám khe Mapei – Italia chuyên dụng cho ốp lát gạch
- Đá Granite thiên nhiên, đá trang trí, gạch ceramic các loại
- Sen vòi Yatusy công nghệ Nhật Bản
- Bồn tắm cao cấp thương hiệu Maslay – Brother
- Chậu rửa chén Việt Mỹ…
Và rất nhiều các sản phẩm khác
b Dịch vụ:
- Với phương châm tôn trọng lợi ích của khách hàng, chúng tôi luôn nổ lực học hỏi nhằm nâng cao cách phục vụ tốt nhất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quý khách hàng
- Cung cấp thông tin sản phẩm, báo giá qua thư điện tử sau 12 tiếng đồng hồ, hoặc qua bưu điện trong vòng 3 ngày ( miễn phí toàn quốc) kể từ khi nhận yêu cầu
- Giao nhận hàng miễn phí trong vòng 4 tiếng đồng hồ kể từ khi nhận được xác nhận đặt hàng ( áp dụng nội thành thành phố Đà Nẵng)
c Trách nhiệm và quyền hạn của công ty:
+Trách nhiệm:
- Thực hiện kế toán, báo cáo kế toán theo chế độ tài chính kế toán của nhà nước
và quy định phân cấp của các Công ty Chịu trách nhiệm về tính xác thực và hợp pháp của các phát sinh tại chi nhánh
Trang 16- Ký kết thực hiện các hợp đồng kinh tế tiêu thụ sản phẩm và phục vụ công tác tiêu thụ sản phẩm tại Miền Trung.
+ Quyền hạn:
- Được tuyển dụng và bố trí nhân lực trên cơ sở định biên được giám đốc công
ty phê duyệt Chủ động chi trả lương và các chi phí giao dịch của bộ máy kinh doanh trên cơ sở mức khoán công ty giao và đúng chế độ của nhà nước
- Quyết định giá bán sản phẩm của công ty trên cơ sở giá sàn công ty giao và tỷ
lệ giao khoán từng thời điểm Đảm bảo kinh doanh đủ bù chi phí và có lãi
- Có quyền từ chối các lô hàng công ty giao không tiêu thụ được
3 Chức năng và nhiệm vụ của công ty.
- Quản lý công nợ và thu hồi công nợ chuyển về công ty
- Tổ chức tuyển dunhgj và sử dụng lao động hợp lý phục phụ cho công tác kinh doanh của công ty tại Miền Trung Thực hiện đúng đắn, đầy đủ các chế độ của nhà nước và quy định của công ty đối với người lao động
4 Những khó khăn và thuận lợi của công ty.
a Thuận lợi:
- TBC.T hoạt động ngày càng năng động hơn để đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường Bên cạnh nổ lực tiêu thụ các sản phẩm truyền thống của TBC như Granite, Mosaic, gạch xây, ngói lợp Thạch Bàn, TBC.T ngày càng thích nghi với từng bước đẩy mạnh phát triển kinh doanh ngoài bằng cách nhận lam đại lý của nhiều nhà sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng uy tín khác như thiết bị vệ sinh, sen vòi, gương kính phụ kiện, bình bồn nóng lạnh, keo dán gạch…
- Thương hiệu Thạch Bàn-TBC và đội ngủ cán bộ nhân viên TBC.T qua thời gian tồn tại, cạnh tranh trong pháp nhân mới đả thay đổi cơ bản về cách nghĩ, cách làm
và tạo nên uy tín trên thị trường khu vực, được nhiều khách hàng biết đến và có tính cạnh tranh cao Đây là tài sản vô giá và có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển của TBC.T trong thời gian tới
- Công ty tiếp tục duy trì mạng lưới tiêu thụ rộng khắp toàn khu vực Miền Trung- Tây Nguyên
- TBC.T có mối quan hệ tốt với nhiều cơ quan ban hành, các công tuy tư vấn thiết kế, công ty xây dựng trong khu vực nên được hổ trợ tích cực trong việc đưa sản phẩm đến các dự án, công trình lớn
Trang 17- Thành Phố Đà Nẵng nói riêng và các tỉnh khu vực Miền Trung – Tây nguyên nói chung đang đầu tư mạnh mẽ vào công tác quy hoạch phát triển đô thị và các khu công nghiệp Điển hình là Đà Nẵng, Nha Trang, Khu công nghiệp Dung quất- Quảng Ngãi, Khu kinh tế mỡ Chu Lai – Quảng Nam…
- Chính sách giá cả của TBC trong thời gian qua có nhiều thay đổi, mềm dẽo và linh hoạt hơn, được thị trường chấp nhận
- Mẫu mã còn đơn điệu, kém phong phú, chậm thay đổi, đặc biệt là các mẫu kích thước lớn, các sản phẩm vân mây, hạt to…
- Công tác trưng bày, quảng cáo chưa có chiều sâu, mạnh ai nấy làm, thiếu tính thống nhất quy mô trên toàn quốc
- Vốn lưu động ít, bán công trình nhiều (chiếm 60% sản lượng) , công nợ kéo dài, áp lực thanh toán lớn trên TBC.T thường xuyên phải vay vốn ngân hàng để đảm bảo công nợ cho công ty
- Tình hình nhân sự trong công ty chưa ổn định
II Sơ đồ tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận của công ty tại chi nhánh Đà Nẵng.
Trang 181 Sơ đồ tổ Chức bộ máy tại chi nhánh Đà Nẵng:
- Có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện các chiến lược của công ty, lập kế hoạch kinh doanh, triển khai và thực hiện các chiến lược, các chính sách và chịu trách nhiệm chung trước Hội đồng quản trị
- Cuối một năm hoạt động phải tổ chức báo cáo kết quả hoat động kinh doanh cho Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
b Trưởng phòng tài chính-kế hoạch tổng hợp:
- Là người chịu trách nhiệm trước giám đốc và quản lý mọi hoạt động của phòng kế toán
- Đề xuất các ý kiến trong việc xây dựng các chiến lược và phát triển các chính sách tiền lương, bảo hiểm, phúc lợi xã hội
- Quản lý chung toàn bộ hoạt động tài chính của công ty
Phòng
kế toán Văn phòng Nha Trang
Phòng Nhân sự
Phòng Kinh doanh
Trang 19- Kiểm tra, sử dụng vốn các cơ sở đề xuất tiến độ giải quyết vốn và chịu trách nhiệm cung ứng đầy đủ vốn cho các cơ sở thục hiện nhiệm vụ kinh doanh theo đúng văn bản quy định của giám đốc công ty.
c Trưởng phòng kinh doanh:
- Quản lý, điều hành, sắp xếp nhân sự và chịu trách nhiệm chung toàn bộ hiệu quả hoạt động của phòng kinh doanh và văn phòng đại diện tại Nha Trang trước giám đốc công ty
- Tham mưu cho giám đốc trong công tác bán hàng, các hoạt động Marketing, xúc tiến bán hàng, đề xuất các ý kiến trong việc xây dựng các chiến lược Marketing, chính sách tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh thương hiệu
- Chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng và tổ chức triển khai các kế hoạch nghiên cứu, khảo sát phát triển thị trường, tìm kiếm nguồn hàng và đầu ra sản phẩm, xúc tiến kế hoạch quảng cáo, tiếp cận thâm nhập thị trường, quản lý bộ phận bán hàng, doanh số bán và các đề xuất ý kiến về chính sách sản phẩm cũng như về chính sách giá cả, các hoạt động Marketing, nghiên cứu đề ra các chiến lược kinh doanh
d Văn phòng Nha Trang:
- Văn phòng Nha Trang chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc công ty, trưởng phòng kế toán, trưởng phòng kinh doanh và hoạt động theo quy chế khoán của công ty ban hành
- Là đơn vị kinh doanh phụ thuộc vào hoạt động của công ty Cổ phần Thạch Bàn Miền Trung, được giao nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm của công ty nhằm mở rộng mạng lưới kinh doanh và tăng cường chất lượng dịch vụ khách hàng ở khu vực Nam Trung Bộ
3 Nhận xét về sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty và vai trò, chức năng của các phòng ban.
- Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty theo trực tuyến chức năng Mối quan hệ giữa Giám đốc, các phòng ban và chi nhánh là mối quan hệ trực tuyến Giữa các phòng ban, chi nhánh nó có mối quan hệ chức năng, thường xuyên tham mưu với nhau
để cùng hoàn thành mục tiêu chung của Công ty.Ở công ty, Các chi nhánh trực thuộc còn phải báo cáo các hoạt động tài chính cho Giám đốc thông qua TCKH- TH, với sơ
đồ này thông tin được trao đổi nhanh chóng giữa các bộ phận, sự chia sẻ thông tin, kiểm soát thông tin về tình hình kinh doanh nhất là tình hình bán hàng được cập nhật thường xuyên
- Với các chức năng được phân quyền giữa các phòng ban, các phòng ban, các nhân viên trong công ty hoàn toàn có thể thu thập thông tin về cho công ty : thông tin
về khách hàng,doanh số, các đại lý cửa hàng của mình và cuối cùng là thông tin được tổng hợp dưới sự chỉ đạo của trưởng phòng kinh doanh.Tuy nhiên vai trò của trưởng phòng kinh doanh hầu như lớn và có phần kiểm soát quá mức
- Phòng điều hành các dự án của công ty là chưa có theo tôi nên có riêng một bộ phận , một phòng ban chuyên điều hành các dự án của công ty
Trang 204 Tổ chức và quản trị nguồn nhân lực của công ty:
a Số lượng và kết cấu nhân lực:
+ Số lượng lao động: Tổng số cán bộ công nhân viên là 24 người (năm 2009)
(Nguồn phòng TCKH _TH).
Trang 21+ Kết cấu lao động:
Bảng kết cấu lao động của công ty năm 2008 – 2009
Số lượng người
Tỷ trọng(%)
Số lượng người
Tỷ trọng(%)
38.1019.0519.05
642
25.0016.678.33
Theo phòng ban, đơn vị
23.814.7619.059.524.764.7623.804.7619.054.7619.059.524.764.76
92721151413211
37.508.3329.178.344.174.1720.844.1716.674.1712.58.344.174.17 Theo độ tuổi
Trang 22b Tình hình tiêu thụ sản phẩm:
+ Các loại sản phẩm:
Theo tính chất, sản phẩm của công ty là loại sản phẩm gốm sứ được sản xuất theo công nghệ hiện đại của Italia, Bungary, Tây Ban Nha… Đây là loại sản phẩm có thể sử dung ở dạng mài hoặc không mài, dùng để lát nhà, ốp tường, cột trong và ngoài nhà mang lại độ bền vĩnh cữu cho những công trình kiến trúc
- Gạch Granite: phù hợp những nơi có nhu cầu khắt khe về điều kiện vệ sinh như: bệnh viện, phòng thí nghiệm, sân bay, nhà ga… do không tích điện, độ sạch tối
ưu, không hút ẩm, không bị hóa chất phân hủy, do gạch Granite đáp ứng nhất nhu cầu các công trình lớn, nhờ giá cả hợp lý, sản phẩm dễ thõa mãn nhu cầu người tiêu dùng
có thu nhập trung bình cao
- Nhờ có đặc tính kỹ thuật hoàn hảo và tính thẩm mỹ cao của sản phẩm, nhu cầu
sử dụng sản phẩm Granite trên thị trường ngày càng tăng
- So với Gratine tự nhiên thì Granite nhân tạo có đặc điểm:
+ Về mặt kỹ thuật đạt tương ứng
+ Về phẩm chất khác đều vượt trội hơn như: độ bền hóa học, độ giản nỡ vì nhiệt, khả năng chống mốc, mờ bề mặt dưới tác dụng của nóng ẩm, đặc biệt là độ đồng nhất về màu sắc
- Sản phẩm truyền thống với công nghệ cao:
+ Sản phẩm truyền thống: có các bề mặt bóng kính, bóng mờ, sần chống trơn với các kích thước: 300x300, 400x400, 500x500, 600x600, 600x900 loại sản phẩm này có thể sử dụng ốp cho tất cả các hạng mục mọi công trình
+ Sản phẩm công nghệ cao hiện có các bề mặt hoa văn
BRF: bóng kính như hoa văn vân mây
BME: bóng kính lươi vân mây
BRG: bóng kính hạt to vân mây
MME: men in lươi vân mây, vân gỗ MSF : là sản phẩm duy nhất chỉ có duy nhất tại Thạch Bàn có khả năng sản xuất Nó là loại mặt sần giả đá rất thích hợp cho các khách sạn, nhà hàng, nhà vườn, biệt thự có tính chất cổ
- Sản phẩm mới: Gạch ốp lát Granite kích thước nhỏ, Mosaic Thạch Bàn-TBC
có các kích thước: 45x95, 45x145, 45x195, 95x95, 60x240(mm) Loại sản phẩm này
có thể ốp trang trí mọi công trình, đực biệt là mặt ngoài các tòa nhà cao ốc, biệt thự, ốp lát bể bơi, hành lang và những nơi chống trơn, chống rơi…
- Sản phẩm mới với công nghệ cao NaNo siêu bóng và chống bám bẩn kích thước 600x600(mm)
Bảng sản lượng tiêu thụ và doanh thu từ gạch Granite Thạch bàn trong 2 năm gần đây:( đvt: đồng).
Sản lượng tiêu thụ 16.234 m2 18.546 m2
Doanh thu 19.784.456.254 23.254.265.327
Trang 23Qua bảng trên ta thấy sản lượng tiêu thụ của sản phẩm Granite năm 2008 là cao hơn so với năm 2007, doạnh số đạt 118% so với năm 2007, tăng 18%.
+ Công tác tiêu thụ sản phẩm:
Năm 2008 TBC.T có nhiều nổ lực phát huy thuận lợi của mình, đã tiêu thụ 18.546 m2 granite, đạt 118% kế hoạch, doanh thu 23.254.265.327 đồng trong đó doanh thu Granite là 19.890.000.000 đồng , doanh thu kinh doanh ngoài là 3.364.265.327 đồng
Bảng sản lượng sản phẩm tiêu thụ trong năm 2008
Trang 24Một số công trình tiêu biểu mà công ty cổ phần Thạch bàn TBC.T đả cung cấp sản phẩm:
2 - Bờ kè Liên Chiểu- Thuận Phước Đà Nẵng Đả đưa vào sử dụng
3 - Bệnh viện C + Bệnh viện lao Hải phòng Đả đưa vào sử dụng
4 - Bệnh viện mắt Đà Nẵng Phan Đăng Lưu Đả đưa vào sử dụng
III THỪA THIÊN HUẾ
3 - Bưu điện trung tâm Huế 08 Hoàng Hoa Thám Đả đưa vào sử dụng
5 - CN Ngân hàng Vietcombank 78 Hùng Vương Đả đưa vào sử dụng
7 - Công ty công trình giao thông Đường 49 Đả đưa vào sử dụng
Cùng với nhiều công trình trọng điểm vanhà ở khu vực Miền Trung – Tây Nguyên
c Tình hình tài chính.
+ Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:(đvt: 1000đ)
6 Lợi nhuận Trước thuế 1.088.490 685.448 859.530
( Nguồn từ phòng TCKH – TH).
Qua bàng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty doanh thu công ty trong năm 2007 có sự giảm sút so với năm 2006, trong khi đó chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng lại cao hơn làm cho lợi nhuận công ty giảm sút hơn 300
Trang 25triệu đồng Trong năm 2007 việc xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường làm cho doanh nghiệp phải cạnh tranh mạnh mẽ hơn Sự gia tăng chi phí bán hàng và chi phí quản lý ngày càng cao trong khi đó lượng hàng bán không tăng tỷ lệ thuận với mức tăng này làm cho doanh nghiệp có lợi nhuận không cao Ngoài ra công ty đả bỏ ra khoàng chi phí khá lớn trong việc đầu tư vào tài sản cố định và công cụ dụng cụ và như vậy trong thời gian tới hy vọng sẽ có những bước tiến mới trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm tiếp theo nhờ mở rộng quy mô kinh doanh.
Việc gia tăng giá của sản phẩm đầu vào của công ty mẹ làm cho giá vốn hàng tăng lên, ngoài ra sự gia tăng về chi phí vận chuyển làm cho chi phí sản phẩm tăng lên trong khi các đặc tính của sản phẩm như mẫu mã, màu sắc, kích thước lại ít thay đổi làm cho khả năng cạnh tranh trên thị trường giảm, trong năm 2007 doanh nghiệp đả đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh ngoài làm phân phối độc quyền tại Miền trung và Tây Nguyên các sản phẩm vật liệu xây dựng và trang trí nội, ngoại thất của các hãng nổi tiếng trong và ngoài nước nhưng do mới thâm nhập thị trường nên doanh thu chưa cao Bước sang đầu năm 2008 có những đột phá hơn về doanh thu các sản phẩm Granite TBC và các sản phẩm kinh doanh ngoài
Tuy nhiên ngoài những yếu tố như đả nêu ở trên thì những yếu tố khác như bộ phận bán hàng chưa tạo được mối quan hệ mật thiết với khách hàng, quản lý hệ thống đại lý cửa hàng hoạt động chưa hiệu quả, hoạt động xúc tiến bán hàng, marketing chưa tốt Công tác truyền thông cổ động chưa có chiều sâu và vấn đề luân chuyển nhân sự… làm cho doanh thu của công ty năm 2007 giảm sút
+ Bảng cân đối kế toán của công ty.(đvt: 1000 đồng)
Giá Trị
TT (%)
Giá Trị
TT (%)
Giá Trị
TT (%)
Giá Trị
TT (%)
A Tài sản
I TSLĐ&ĐTDH 1.316.406 75.13 3.425.189 85.84 5.527.416 87.98 2.108.783 94.23 2.102.227 91.69
1 Tiền mặt 79.624 4.54 137.108 3.44 268.375 4.27 57.484 2.57 131.267 5.73 2.TGNH 85.760 4.89 175.040 4.39 310.000 4.93 89.280 3.99 134.960 5.89 3.Các khoản
phải thu 1.012.560 57.79 2.167.344 54.32 3.314.395 52.75 1.154.784 51.6 1.147.051 50.034.hàng tồn kho 103.847 5.93 906.512 22.72 1.537.602 24.5 802.665 35.87 631.090 27.53
Trang 26(Nguồn từ phòng tài chính – kế toán)
.Qua bàng cân đối kế toán cho thấy tổng tài sản của công ty đả tăng dần sau các năm Sự gia tăng này là do công ty đả huy động thêm nguồn vốn từ các cổ đông Nguồn vốn kinh doanh của công ty đả tăng lên rất nhanh từ 510.000.000 đồng năm
2006 lên 1.000.000 đồng năm 2007 và 1.500.000 đồng năm 2008, và từ đi vay nợ các nguồn khác nhau do vậy nguồn vốn và tài sản của công ty đả tăng dần trong các năm
Ta thấy lượng hàng tồn kho trong lên trong những năm tiếp theo, sự gia tăng này làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động nguồn vốn để tái đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra các khoản phải thu cũng tăng lên, nguyên nhân là bộ phận kinh doanh thu không thu hồi nợ như kế hoạch đả đặt ra, và một phần
là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường có chiều hướng không thuận lợi
Từ bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán trên cho chúng ta có được cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính doanh nghiệp những năm sau có sự chuyển biến không tốt so với năm trước là do những nguyên nhân sau:
+ Tuy công ty có nhiều cố gắng phát huy thuận lợi của mình nhưng có nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm granite
+ Sự gia tăng về giá vốn hàng bán làm cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, ngoài ra các chương trình quảng cáo chưa có chiều sâu và chiều rộng, mẫu mã
ít lại thiếu hụt thường xuyên, chương trình khuyến mãi có tính kích cầu chưa cao… điều này ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty
+ Tỷ trọng bán hàng qua đại lý cũng giảm sút cho thấy rằng doanh nghiệp các đại lý đả không còn mặn nòng và tâm huyết với việc kinh doanh sản phẩm của doanh nghiệp mà chuyển hướng kinh doanh các sản phẩm cùng loại đang bán trên thị trường
III Tình hình sản xuất kinh doanh trong nhưng năm trước và kế hoạch sản xuất kinh doanh trong thời gian tới:
1 Nhu cầu thị trường:
Qua thông tin số liêuh thu thập được ta có bảng số liệu nhu cầu thị trường trong thời gian tới như sau: (đvt: 1000 đồng)
Nhu cầu thị trường 70.123654 72.546789 75.968.027
Qua bàng số liệu trên ta có thể thấy nhu cầu của thị trường là rất lớn và còn tăng mạnh qua các năm Vì vậy công ty phải nhanh chống vận dụng tối đa lợi thế có được để chiếm lĩnh thị trường trong thời gian đến
2 Doanh thu và thị phần của công ty trong thời gian qua:
Trang 27Bảng thị phần của công ty năm 2007, 2008: (đvt: 1000 đồng)
3 Dự báo doanh thu công ty trong thời gian đến:
Từ nhu cầu thị trường và thị phần mà công ty chiếm lĩnh được thì ta có thể đưa
ra dự kiến của công ty trong thời gian đến như sau:
1 Thực trạng hệ thống kênh phân phối tại công ty:
a Tình hình công tác phân phối hiện nay của công ty:
Công ty cổ phần Thạch Bàn Miền Trung là doanh nghiệp cung cấp các nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng và trang trí nội thất cao cấp Từ gạch ốp lát Granite, Mosaic các loại đến các dòng sản phẩm như gạch ốp lát Ceramic, bồn tắm, thiết bị vệ sinh, sen vòi… trên thị trường chính là khu vực Miền Trung và Tây Nguyên Để có thể cung cấp sản phẩm trên thị trường lớn như vậy đòi hỏi công ty phải có một hệ thống phân phối lớn cả chiều ngang và chiều dài Hiện nay, với gần 20 đại lý và 300 cửa hàng được phân bố rộng rãi trên thị trường Miền Trung – Tây Nguyên tạo nên một mạng lưới phân phối rộng khắp giúp công ty phân phối đến mọi nơi mà khách hàng yêu cầu