Một trong những hướng nghiên cứu hiện nay là khảo sát tác dụng hạ huyết áp của một số bài thuốc, vị thuốc đã và đang sử dụng rộng rãi trên lâm sàng.. Đánh giá tác dụng hạ huyết áp của nư
Trang 1Trường đại học y hμ nội
Nguyễn Huy Gia
đánh giá tác dụng của nấm hồng chi trên bệnh nhân tăng huyết áp
nguyên phát độ I
Chuyên ngành : Y học cổ truyền Mã số : 60 72 60
luận văn thạc sĩ y học
Người hướng dẫn khoa học:
Hμ nội - 2009
Trang 2Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các tập thể, cá nhân, các thầy cô, gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới:
- PGS-TS Nguyễn Nhược Kim - Trưởng Khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Y Hà Nội người thầy đã tận tâm dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
- Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Y Hà Nội
- Ban giám đốc, phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong Hội đồng chấm luận văn đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu và khoa học để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Y Thái Bình cùng toàn thể cán bộ bộ môn Y học cổ truyền, là nơi công tác và cũng là nơi
hỗ trợ nhiệt tình về cả vật chất cũng như tinh thần cho tôi
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, cùng bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tác giả
Nguyễn Huy Gia
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i, tÊt c¶ c¸c sè liÖu trong luËn v¨n nµy lµ trung thùc vµ ch−a tõng ®−îc c«ng bè trong bÊt cø c«ng tr×nh nghiªn cøu nµo kh¸c
Nguyễn Huy Gia
Trang 4Mục lục
Đặt vấn đề 1
Chương 1: Tổng quan tài liệu 3
1.1 Tổng quan về tăng huyết áp theo y học hiện đại 3
1.1.1 Tình hình tăng huyết áp ở Việt Nam và trên thế giới 3
1.1.2 Định nghĩa huyết áp 5
1.1.3 Định nghĩa bệnh tăng huyết áp 5
1.1.4 Một số cơ chế về bệnh sinh tăng huyết áp hiện nay 5
1.1.5 Phân loại tăng huyết áp 8
1.1.6 Chẩn đoán tăng huyết áp: 11
1.1.7 Điều trị tăng huyết áp 11
1.2 Tổng quan về tăng huyết áp theo y học cổ truyền 15
1.2.1 Khái niệm về chứng huyễn vựng và mối quan hệ chứng huyễn vựng với bệnh tăng huyết áp 15
1.2.2 Cơ chế bệnh sinh của chứng huyễn vựng theo YHCT 16
1.2.3 Các thể lâm sàng của huyễn vựng 19
1.3 Tình hình nghiên cứu về các thuốc có nguồn ngốc tự nhiên dùng hạ huyết áp trong YHCT trên thế giới và trong nước 20
1.3.1 Trên thế giới 20
1.3.2 Trong nước 21
1.4 Tổng quan về nấm linh chi 23
1.4.1 Tác dụng và công dụng của nấm linh chi theo YHCT 23
1.4.2 Cách trồng và chế biến nấm hồng chi 24
1.4.3 Thành phần hoá học và tác dụng 25
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 27
2.1 Chất liệu nghiên cứu 27
2.2 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 28
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 29
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.4 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu lâm sàng 29
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 29
2.4.3 Tiến hành nghiên cứu lâm sàng 30
2.4.4 Cận lâm sàng 31
2.5 Phương pháp đánh giá kết quả 31
2.5.1 Đánh giá tác dụng hạ huyết áp 31
2.5.2 Đánh giá tác dụng trên các triệu chứng lâm sàng 32
Trang 52.5.3 Đánh giá tác dụng trên các chỉ số cận lâm sàng 32
2.6 Theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc 32
2.7 Xử lý số liệu 33
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 33
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 34
3.1 Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng 34
3.1.1 Đặc điểm chung 34
3.1.2 Đặc điểm về huyết áp: 37
3.1.3 Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng 38
3.2 Kết quả trên cận lâm sàng 45
3.2.1 Đặc điểm rối loạn lipid máu 45
3.2.2 Thay đổi một số chỉ số huyết học 46
3.3 Khả năng dung nạp thuốc 48
3.4 Kết quả theo dõi sau nghiên cứu: 48
Chương 4: Bàn luận 50
4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu 50
4.1.1 Tuổi và giới 50
4.1.2 Thời gian phát hiện bệnh: 52
4.1.3 Mối liên quan giữa đối tượng nghiên cứu và yếu tố gia đình: 52
4.1.4 Chỉ số khối của cơ thể (BMI) 53
4.1.5 Thể bệnh theo YHCT 53
4.2 Hiệu lực điều trị của nấm hồng chi trên lâm sàng 54
4.2.1 Hiệu lực của nấm hồng chi trên huyết áp 54
4.2.2 Hiệu lực của nấm hồng chi đối với triệu chứng chủ quan 59
4.3 Hiệu lực điều trị của nấm hồng chi trên cận lâm sàng 60
4.3.1 Đối với các thành phần Lipid máu 60
4.3.2 Về xét nghiệm huyết học 61
4.3.3 Về xét nghiệm sinh hóa 61
4.3.4 Tác dụng đối với tần số tim 62
4.4 Khả năng dung nạp thuốc 62
4.5 Khả năng duy trì hiệu lực của thuốc sau điều trị 62
Kết luận 64
Kiến nghị 66 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6ALT: Alanin aminotrasaminase
CT: Cholesterol
and Treatment of high blood pressure): Uỷ ban phối hợp quốc gia hoa kỳ về phát hiện, đánh giá và điều trị tăng huyết áp
Trang 7danh mục bảng
Bảng 1.1: Phân loại bệnh THA theo WHO/ ISH 1999 10
Bảng 1.2 Phân độ THA ở người lớn ≥ 18 tuổi 10
Bảng 1.3 Tác dụng của nấm linh chi theo YHCT 24
Bảng 3.1: Phân bố theo tuổi 34
Bảng 3.2: Đặc điểm về chỉ số khối 35
Bảng 3.3 Chỉ số nhân trắc của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 3.4: Phân bố theo thể bệnh YHCT 36
Bảng 3.5: Đặc điểm về yếu tố gia đình 36
Bảng 3.6: Đặc điểm về thời gian mắc bệnh 37
Bảng 3.7: Phân bố về THA 37
Bảng 3.8: Kết quả thay đổi HATT 38
Bảng 3.9: Kết quả thay đổi HATTr 38
Bảng 3.10: Kết quả thay đổi HATB 39
Bảng 3.11: Mức độ thay đổi HATT 40
Bảng 3.12: Mức độ thay đổi HATTr 40
Bảng 3.13: Đánh giá tác dụng hạ huyết áp chung 40
Bảng 3.14: Đánh giá kết quả hạ huyết áp theo giới 41
Bảng 3.15: Đánh giá kết quả hạ huyết áp theo tuổi 42
Bảng 3.16: Đánh giá kết quả hạ huyết áp theo thể bệnh 43
Bảng 3.17: Đánh giá kết quả hạ huyệt áp theo thời gian mắc bệnh 44
Bảng 3.18: Sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng 44
Bảng 3.19: Sự thay đổi triệu chứng lâm sàng theo xếp loại 45
Bảng 3.20: Thay đổi rối loạn Lipid máu trước và sau điều trị 45
Bảng 3.21: Thay đổi các chỉ số trung bình lipid máu 46
Bảng 3.22: Thay đổi chỉ số huyết học 46
Bảng 3.23: Kết quả các xét nghiệm đánh giá chức năng thận 47
Bảng 3.24: Kết quả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan 47
Bảng 3.25: Sự biến đổi một số chỉ số lâm sàng 48
Bảng 3.26: Huyết áp của bệnh nhân được theo dõi sau điều trị 48
Bảng 4.1 So sánh tác dụng hạ huyết áp của một số bài thuốc YHCT theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác 57
Trang 8danh mục biểu đồ
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo giới 35 Biểu đồ 3.2: Sự thay đổi huyết áp trước và sau điều trị 39 Biểu đồ 3.3: So sánh sự thay đổi huyết áp trước và sau điều trị theo giới 41 Biểu đồ 3.4: So sánh sự thay đổi huyết áp trước và sau điều trị theo tuổi 42
Trang 9Đặt vấn đề
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh thường gặp và là một vấn đề xã hội ở các nước phát triển tỷ lệ THA ở người trưởng thành (>18 tuổi) theo số liệu của JNC VII là khoảng gần 30% dân số và có trên nửa trong số đó là trên 50 tuổi có tăng huyết áp [22], [61], [62] ở Việt Nam cũng có tỷ lệ người THA khá cao Theo Phạm Gia Khải: Năm 1999, tỷ lệ THA ở người ≥16 tuổi tại Hà Nội là 16,05% Nếu tiêu chuẩn chọn mẫu từ 25 tuổi trở lên của tổ chức y tế thế giới thì trong năm 2001 đến đầu năm 2002, tại Hà Nội tỷ lệ THA là 23,20% [28]
THA nguy hiểm bởi các biến chứng của nó, THA kéo dài ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan như mắt, tim, thận, não, có thể gây chết người hoặc
để lại những di chứng nặng nề, những di chứng này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và là gánh nặng cho gia đình và xã hội
Ngày nay đã có thay đổi về quan niệm trong bệnh THA, phương thức
điều trị cũng như truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bệnh nhân đã tác
động đến tiên lượng của THA
Để tránh những nguy cơ của THA, Y học hiện đại (YHHĐ) cũng như Y học cổ truyền (YHCT) có nhiều biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả YHHĐ đã đưa ra phương pháp điều trị THA như giảm lượng muối trong chế độ ăn, thể dục liệu pháp, điều độ trong làm việc và sinh hoạt, dùng thuốc theo 4 bậc thang của WHO với các nhóm thuốc: lợi tiểu (Lasix, Aldaton ), thuốc giãn mạch (Hydralazin) thuốc chẹn giao cảm anpha, chẹn beta các thuốc nhìn chung đều có hiệu lực trong điều trị THA song vẫn còn có nhiều tác dụng không mong muốn Hầu hết thuốc này phải nhập ngoại giá thành cao, chưa phù hợp với điều kiện thu nhập của đa số người dân VN [14], [21],
Trang 10[27] Vì vậy việc nghiên cứu và sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc tự nhiên,
dễ kiếm, ít tác dụng không mong muốn là vấn đề cần thiết
YHCT phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc và Việt Nam đã nghiên cứu
và dùng nhiều phương pháp để điều trị bệnh THA, bước đầu đạt được một số kết quả khả quan
Một trong những hướng nghiên cứu hiện nay là khảo sát tác dụng hạ huyết áp của một số bài thuốc, vị thuốc đã và đang sử dụng rộng rãi trên lâm sàng
Vị thuốc nấm linh chi thường dùng nấm hồng chi là một vị thuốc đã được
sử dụng lâu đời được dùng để chữa các chứng huyễn vựng, đầu thống Các chứng này có nhiều điểm tương đồng với bệnh THA cả về lý luận và thực tiễn lâm sàng Song do sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, môi trường và điều kiện sống thay đổi nên sự phát triển của bệnh cũng có nhiều thay đổi Vì vậy khi dùng vị thuốc này cũng phải nghiên cứu cụ thể để bảo đảm an toàn cho người bệnh [4], [23]
Trên thực tế lâm sàng khi dùng vị thuốc hồng chi thấy có tác dụng hạ huyết áp có hiệu quả ở nhiều thể bệnh của YHCT Mặc dù vị thuốc đã được sử dụng hiệu quả nhưng việc đánh giá một cách khoa học và khách quan thì chưa
có tác giả nào đề cập đến
Do vậy mục tiêu nghiên cứu đề tài của chúng tôi là:
1 Đánh giá tác dụng hạ huyết áp của nước sắc nấm hồng chi trên bệnh THA nguyên phát độ I qua một số chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng
2 So sánh tác dụng điều trị tăng huyết áp nguyên phát độ I theo 2 thể Can thận âm hư và Đàm thấp của YHCT
3 Theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc
Trang 11Chương 1 Tổng quan tμi liệu
1.1 Tổng quan về tăng huyết áp theo y học hiện đại 1.1.1 Tình hình tăng huyết áp ở Việt Nam và trên thế giới
Tăng huyết áp là một bệnh hay gặp ở các nước có nền công nghiệp phát triển có nhịp sống khẩn trương dễ tạo ra stress có hại làm điều kiện thuận lợi cho xuất hiện và phát triển bệnh này
Theo báo cáo lần thứ VII của Uỷ ban quốc gia Hoa Kỳ (JNC) năm 2003 xác định THA khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140mmHg và / Hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90mmHg ở những người chưa uống thuốc hạ huyết áp [10], [60], [61]
Tỷ lệ mắc bệnh này rất cao ở các nước phát triển, tại Pháp số bệnh nhân tăng huyết áp năm 1994 là 41%, tại Canada năm 1995 là 22%, tại Hungary năm 1999 là 26,2%, tại ấn Độ năm 1997 là 23,7%, tại Cuba năm 1988 là 44%
và tại Mexico năm 1998 là 19,4%, và tại Hoa Kỳ theo điều tra về sức khoẻ và dinh dưỡng năm 1998 có 20,4% người trưởng thành bị THA [3], [8]
Tại Việt Nam tỷ lệ bị bệnh THA và số bệnh nhân được phát hiện THA cũng không ngừng tăng lên Vào năm 1960 theo công trình nghiên cứu của
Đặng Văn Chung ước tính 2-3% dân số mắc bệnh, đến năm 1975 theo Phạm Khuê điều tra trên 13.392 trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh là 9,27%, đến năm
1996, Phạm Gia Khải và cộng sự đã tiến hành điều tra THA ở quần thể người trưởng thành (>16 tuổi) tại Hà Nội cho thấy tần suất THA đã cao tới 16,05% Tại Đại hội tim mạch toàn quốc 4/2002 Phạm Gia Khải và cộng sự đã báo cáo kết quả điều tra dịch tễ học THA tại 12 phường HN cho thấy tần suất đã tăng
Trang 12vọt 23,20% Tần suất mắc bệnh này ở các tỉnh có thấp hơn ở thành phố tại tỉnh Thái Bình theo Phan Thanh Ngọc điều tra 1997 tỷ lệ THA xấp xỉ là 12% Theo điều tra của Phạm Gia Khải năm 2002 vùng Duyên Hải - Tỉnh Nghệ An tần xuất THA 16,72% Tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng lớn, so với nhóm tuổi 25-34 tuổi khi tuổi tăng thêm 10 năm thì khả năng bị THA tăng gần gấp 4 lần và khi tuổi > 65 tuổi thì nguy cơ THA gấp > 5 lần [28], [29], [30], [31]
Trên thế giới tỷ lệ THA chiếm 8-18% dân số (theo W.H.O) thay đổi từ các nước Châu á như Indonexia 6-15%, Đài Loan 28% tới các nước Âu-Mỹ như Pháp 10-24%, Hoa Kỳ 24% ở Việt Nam tần suất THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển như THA năm 1960 chiếm 1% dân số, năm
1982 là 1,9%, năm 1992 tăng lên 11,7% dân số và năm 2002 THA ở miền Bắc
là 16,3% [34]
Bệnh THA lâu ngày sẽ gây tổn thương nhiều cơ quan trong cơ thể như não, tim, thận, mạch máu đồng thời còn thúc đẩy bệnh xơ vữa động mạch phát triển, THA làm giảm tuổi thọ 10-20 năm, và nguy cơ biến chứng sẽ diễn
ra sau 7-10 năm mắc bệnh nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng [13], [27], [36], [48]
Những số liệu của trung tâm thống kê y tế quốc gia Hoa Kỳ hay nghiên cứu của Framingham và một số công trình khác cho thấy huyết áp càng cao thì tỷ lệ tử vong và đột tử do nguyên nhân gây tim mạch ngày càng nhiều,
đồng thời các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh và biến chứng của THA tăng theo tuổi Từ 10 năm trở lại đây, tỷ lệ tử vong do tai biến mạch não
đã giảm đi 50% Tỷ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch (nhất là do tai biến mạch não và bệnh mạch vành) tiếp tục giảm và chỉ chiếm hơn 50% các trường hợp tử vong nói chung Kết quả này không phải do một nguyên nhân nào đưa
Trang 13lại, mà điều trị THA một cách có hiệu quả chắc chắn giữ một vai trò quan trọng [12], [16], [17]
1.1.2 Định nghĩa huyết áp
Huyết áp là áp lực của dòng máu tác động lên thành mạch HATT (huyết
áp tâm thu) là áp lực động mạch lúc tim bóp đạt mức cao nhất HATTr (huyết
áp tâm trương) là huyết áp thấp nhất cuối thì tâm trương [7], [9], [19]
1.1.3 Định nghĩa bệnh tăng huyết áp
Tăng huyết áp động mạch ở người trưởng thành được xác định khi huyết
áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg (WHO/ ISH 1993 và 1999) [9], [12], [14]
1.1.4 Một số cơ chế về bệnh sinh tăng huyết áp hiện nay
Huyết áp phụ thuộc vào cung lượng tim và sức cản ngoại vị, cung lượng tim thuộc vào nhịp tim và thể tích nhát bóp
Sức cản mạch ngoại vi tăng lên khi tăng kích thích giao cảm, tăng hoạt tính của các chất gây co mạch ở thận, tăng một số hocmon
Mọi nguyên nhân gây tăng cung lượng tim hoặc tăng sức cản ngoại vị
đều làm cho huyết áp động mạch tăng [3], [8], [19] [21], [39], [58]
1.1.4.1 Vai trò của hệ thống Renin- Angiotensin- Aldosteron (RAA)
Hệ này được quan tâm nhiều từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX khi các nghiên cứu phát hiện bên cạnh hệ RAA trong máu lưu hành, còn có hệ RAA trong các tổ chức, đặc biệt ở trong cơ tim và mạch máu Renin được hoạt hoá chuyển Angiotensinnogen thành angiotensin I (không hoạt tính) chất này chuyển thành angiotensin II (có hoạt tính) dưới sự xúc tác của enzym chuyển angiotensin (ACE) Angiotensin II có tác dụng co mạch rất mạnh, đồng thời
có khả năng kích thích vỏ thượng thận tiết ra Aldosteron làm tăng tái hấp thu
Trang 14nước và natri, kích thích hệ giao cảm tăng tiết catecholamin, kích thích vùng dưới đồi - tuyến yên tiết ra arginin - vasopressin, chất này cũng làm cho co mạch và tăng tái hấp thu nước ở ống thận làm tăng sức cản ngoại vi và tăng cung lượng tim [7], [9], [12], [58]
Hệ RAA tham gia vào cơ chế tăng huyết áp được thể hiện qua sơ đồ sau:
Các chất trung gian
(Angiotensin III)
Hệ thống cạnh tiểu cầu thận (và một số tổ chức khác)
Co động mạch
Tăng sức cản động mạch ngoại vi
Tăng tái hấp thu muối và nước
Tăng thể tích dịch lưu hành
Sơ đồ 1.1: Vai trò của RAA trong quá trình gây tăng huyết áp [7]
Trang 151.1.4.2 Vai trò của hệ thần kinh
Trên thực tế những nguyên nhân gây rối loạn hoạt động bình thường của
vỏ não như: sợ hãi, lo buồn, stress đều có thể gây tăng huyết áp
Pavlov đã chứng minh rằng: Vỏ não là cơ quan kiểm soát điều hoà mọi quá trình trong cơ thể nhờ hai quá trình cơ bản là hưng phấn và ức chế Nếu hai quá trình này bị rối loại sẽ ảnh hưởng rất lớn đến huyết áp
Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng khi hệ thần kinh giao cảm bị kích thích (stress, hạ đường máu, lạnh ) các xung động giao cảm sẽ đi tới mạch máu làm co mạch, đồng thời xung động này tới tuỷ thượng thận làm tăng tiết catecholamin Catecholamin được tiết ra sẽ theo đường máu đến tác dụng trực tiếp lên mạch gây co mạch làm tăng huyết áp [7], [9], [12]
1.1.4.3 Vai trò của Natri
Trong điều kiện bình thường, các hocmon và thận cùng phối hợp điều hoà thải Natri cho cân bằng với việc nhập natri vào Trong điều kiện ứ natri
hệ thống mạch có thể tăng nhạy cảm với angiotensin II và noradrenalin Tế bào cơ trơn tiểu động mạch ứ natri sẽ ảnh hưởng độ thấm calci qua màng do
đó làm tăng khả năng co thắt tiểu động mạch THA do ứ natri cũng có thể do yếu tố di truyền [7], [9], [12]
1.1.4.4 Vai trò của thành mạch:
Những biến đổi của động mạch và tiểu động mạch trong THA có thể là nguyên nhân, cũng có thể là hậu quả của THA tác động qua lại khiến bệnh THA trở thành mạn tính Khi tiểu động mạch dày sẽ xơ cứng mất sợi chun, lắng đọng colagel và canxi cùng với sự rối loại chuyển hoá Lipid làm cho khả năng đàn hồi của thành mạch bị mất, gây tăng sức cản của ngoại vi gây tăng huyết áp Như vậy THA và xơ vữa mạch làm tăng sức cản ngoại vi và gây THA, THA lại thúc đẩy nhanh quá trình xơ vữa động mạch Khi điều chỉnh
Trang 16được huyết áp thì xơ vữa động mạch cũng được cải thiện Khi hai bệnh này cùng xuất hiện sẽ làm tình trạng bệnh nhân thêm trầm trọng, gây nên những biến chứng phức tạp, đặc biệt là tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, cơn
đau thắt ngực, đội tử do bệnh mạch vành [13], [16], [17]
1.1.4.5 Vai trò của các yếu tố khác:
- Prostaglandin loại E và F của thận là những chất điều hoà huyết áp tự nhiên do tác dụng giãn mạch làm giảm huyết áp Mặt khác nó cũng làm tăng sản xuất Renin, làm tăng angiotensin II gây co mạch làm THA Do vậy rối loạn Prostaglandin cũng gây THA
cùng hoàn cảnh và cùng môi trường sinh hoạt, tuy nhiên yếu tố di truyền vẫn
được xem là vấn đề phức tạp vì nó là rối loạn của nhiều gen, sự tương tác của nhiều gen với nhau, với môi trường [7], [12], [13]
1.1.5 Phân loại tăng huyết áp
Người ta phân loại THA dựa vào nguyên nhân gây bệnh, giai đoạn bệnh, chỉ số huyết áp và dựa vào thể bệnh
1.1.5.1 Phân loại THA theo nguyên nhân gây bệnh
Dựa vào nguyên nhân gây bệnh phân THA thành 2 loại: [7], [10], [33]
* Tăng huyết áp tiên phát, còn gọi là bệnh THA, khi không tìm thấy nguyên nhân, loại này chiếm 90- 95% tổng số bệnh nhân, phần lớn THA ở trung niên và người già thuộc loại này
* Tăng huyết áp thứ phát hay THA triệu chứng, là tăng huyết áp tìm thấy nguyên nhân chiếm khoảng 5% Khám lâm sàng tỉ mỉ có thể phát hiện và hướng tới nguyên nhân sau:
Trang 17- Các bệnh về thận: Viêm cầu thận cấp và mạn, viêm đài bể thận, sỏi thận, thận đa nang, hẹp động mạch thận
- Nguyên nhân nội tiết: Cường aldosteron nguyên phát- hội chứng conn,
u tuỷ thượng thận, hội chứng cushing, tăng calci máu, cường tuyến giáp
- Các nguyên nhân khác: Dùng thuốc (cocticoid kéo dài, thuốc tránh thai kéo dài, thuốc nhỏ mũi, cocain, ergotamine, thuốc điều trị giảm miễn dịch )
do ăn uống (uống nhiều rượu, ăn nhiều muối, hút thuốc lá)
1.1.5.2 Phân loại theo giai đoạn bệnh
Theo WHO/ ISH 1993 Cách phân chia bệnh THA theo giai đoạn căn cứ vào mức độ nhẹ của các tổn thương hay biến chứng mà bệnh gây ra cho các phủ tạng (tim, não, thận, mắt) gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn I: Không có dấu hiệu khách quan và tổn thương thực thể nào
ở các phủ tạng
- Giai đoạn II: Có ít nhất 1 trong các biến chứng sau:
Dày thất trái (phát hiện trên lâm sàng, điện tim, X quang, siêu âm)
Hẹp lan rộng hay khu trú các động mạch võng mạc
Protein niệu hoặc creatinin huyết tăng nhẹ
Mảng vữa xơ những động mạch lớn (xác định bằng X quang, siêu âm)
- Giai đoạn III: Có ít nhất một trong các biến chứng sau:
Tim: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim trái
Não: Xuất huyết não (tiểu não hay thân não, bệnh não do tăng huyết áp) Mắt: Xuất huyết võng mạc, xuất tiết võng mạc, phù gai thị
Thận: Suy thận, creatinin máu tăng trên 2g/ dl
Mạch máu: Phình mạch, viêm tắc động mạch chi
Trang 181.1.5.3 Phân loại theo chỉ số huyết áp
Bảng 1.1: Phân loại bệnh THA theo WHO/ ISH 1999 [62]
Xếp loại Huyết áp tâm thu
< 85 85- 89
Độ I: THA nhẹ
Nhóm phụ: THA giới hạn
Đội II: THA vừa
Đội III: THA nặng
THA tâm thu đơn độc
140- 159 140- 149 160- 179
≥ 180
≥ 140
90- 99 90- 94 100- 109
≥ 110
< 90 Năm 2003 JNC- VII đã phân độ theo chỉ số huyết áp theo bảng sau
Bảng 1.2 Phân độ THA ở người lớn ≥ 18 tuổi (theo JNC- VII) [22], [58] [61]
Xếp loại Huyết áp tâm thu
Trang 19Cách phân loại này thay thể HA bình thường cao bằng thể tiền tăng HA mục đích nâng tầm quan trọng thể này cần có những biện pháp phòng ngừa tích cực Còn độ II thay bằng cả 2 độ II và III vì đến độ này đều có những biến chứng đều cần phải có những biện pháp phòng và điều trị tích cực hơn
1.1.6 Chẩn đoán tăng huyết áp:
Chẩn đoán tăng huyết áp chủ yếu dựa vào số đo huyết áp, phương pháp
đo huyết áp như sau:
Bệnh nhân nên ngồi ghế tựa lưng, hoặc tư thế nằm, cánh tay để trần, đặt ngang tim Người bệnh nên ngừng thuốc lá hoặc cà phê trước đó 30 phút Kích thước của bao cuốn phải thích hợp, túi hơi trong bao quấn phải bao được ít nhất 80% vòng cánh tay Dùng máy đo thuỷ ngân là tốt nhất, khi nghe tiếng
đập đầu tiên đó là huyết áp tâm thu, khi mất tiếng đập là huyết áp tâm trương Trị số huyết áp được tính theo trung bình của >2 lần đo cách nhau 2 phút Nếu 2 lần đo đầu tiên có số đo cách nhau >5mmHg nên đo thêm và tính trung bình
Cần chú ý một số yếu tố sau ở người cao tuổi: Tăng huyết áp giả tạo, tụt huyết áp tư thế đứng và khoảng trống huyết áp [7], [10], [19], [59]
1.1.7 Điều trị tăng huyết áp
Trên lâm sàng ngoài biện pháp điều trị không dùng thuốc như giảm cân nặng nếu thừa cân, hạn chế rượu bia, gia tăng hoạt động thể lực còn có phương pháp điều trị dùng thuốc đã thực hiện mà không đem lại hiệu quả Các thuốc
điều trị THA đều can thiệp vào các khâu của huyết động, nhằm làm giảm cung lượng tim hoặc giảm sức cản ngoại vi, hoặc cả hai khâu đó Mục tiêu của
điều trị không phải là bình thường hoá con số này mà tuỳ theo từng bệnh nhân
có thể thích ứng tốt với số huyết áp đó Nhất là người cao tuổi không nên hạ huyết áp quá 135/85mmHg Một thuốc chống tăng huyết áp lý tưởng phải có
Trang 20hiệu quả khi dùng đơn độc hoặc khi kết hợp với thuốc khác Có thể làm giảm
tỷ lệ biến chứng và tử vong, không có tác dụng nhiễm độc kéo dài, ít tác dụng phụ và có thể sử dụng một lần trong ngày [3], [7], [10], [11], [29], [62]
Các thuốc chống tăng huyết áp hiện nay:
1.1.7.1 Thuốc lợi tiểu
Đây là thuốc được hiểu rõ và sử dụng từ lâu, tác dụng tốt trên cả huyết
áp tâm thu và tâm trương cũng như THA đơn độc Các thuốc trong nhóm này gồm:
- Lợi tiểu Thiazid: Benzthiazide (Aquatag, exna)
- Thuốc lợi tiểu thải kali Điển hình là furosemide (Lasic)
- Lợi tiểu giữ kali các thuốc hay dùng như: Spironolactone, Aminoride, Triamterene
1.1.7.2 Thuốc chẹn Beta giao cảm
Tác dụng làm giảm tần số tim và cung lượng tim, tốt cho bệnh nhân trẻ, bệnh nhân có đau thắt ngực, có tiền sử nhồi máu cơ tim, đau nửa đầu Với các thuốc điển hình sau: Acebutalol, esmolol, Atenolol, Timolol
1.1.7.3 Các thuốc ức chế men chuyển Angiotensin (ACE)
Đây là thuốc được sử dụng ngày càng nhiều, nhất là THA nhẹ và vừa, ở bệnh nhân trẻ tuổi Thuốc làm giảm huyết áp do làm giảm sức cản ngoại vi, ít thay đổi cung lượng tim, nhịp tim cũng như mức lọc cầu thận Có thể dùng phối hợp với thuốc chẹn beta hoặc đối kháng calci, lợi tiểu Thiazede Thuốc tiêu biểu là Captopril, Lisinopril, Ramipil
1.1.7.4 Thuốc chẹn kênh calci
Nhóm này thích hợp với bệnh nhân cao tuổi Thuốc trực tiếp làm giãn các tiểu động mạch do ức chế chọn lọc các dòng calci đi vào tế bào cơ trơn và
Trang 21mạch máu nên làm giảm co cơ, chậm nhịp tim, giảm dẫn truyền, giảm huyết
áp với các thuốc sau: Nifedipine, Verapamil, Diltriazem
1.1.7.5 Các thuốc đối kháng thụ thể alpha
Thuốc tác dụng chẹn thụ thể Alpha sau sinap làm giãn mao mạch ngoại
vi dẫn đến giảm sức cản thành mạch và làm giảm huyết áp Tác dụng phụ của
nó là làm hạ huyết áp tư thế đứng, có thể làm ngất ở những bệnh nhân THA nặng, gây mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt, ngạt mũi
Như vậy với nhiều loại thuốc huyết áp nêu trên, mỗi thuốc đều có ưu nhược điểm của nó, nhưng thuốc chống tăng huyết áp lý tưởng là thuốc có tác dụng làm giãn cơ trơn thành mạch để làm giảm sức cản ngoại vi cơ quan đích, duy trì cung lượng tim và dòng chảy tại chỗ, không làm tăng nhiều tần số, mức co bóp và chuyển hoá của tế bào cơ tim và không làm tăng thể tích tuần hoàn do phải thích nghi với con số huyết áp khi đứng thấp và giảm tưới máu thận
Theo WHO và hội THA quốc tế năm 1999 thì mục tiêu và đường lối điều trị tăng huyết áp như sau [62]
Mục tiêu:
Khắc phục các yếu tố nguy cơ, hạ huyết áp người trẻ trung niên, người
đái tháo đường xuống dưới 135/85 mmHg, hạ huyết áp tâm thu ở người cao tuổi xuống <140mmHg HATT <90mmHg (huyết áp mục tiêu)
Đường lối:
- Cho thuốc ngay nếu có yếu tố nguy cơ
- Theo dõi huyết áp và các yếu tố nguy cơ nhiều tuần rồi mới dùng thuốc
Trang 22- Lựa chọn và áp dụng cho từng bệnh nhân sao cho phù hợp với tình trạng sức khoẻ Cố gắng sử dụng thuốc càng đơn giản càng dễ tìm mà vẫn hiệu quả
là tốt nhất
- Điều trị liên tục và lâu dài không gián đoạn ngay cả khi đã đạt được trị
số huyết áp bình thường, khi trị liệu đã có tác dụng thì không nên thay đổi thuốc nếu không có tác dụng phụ gì đặc biệt của thuốc
- Kết hợp điều trị thuốc với chế độ ăn uống sinh hoạt điều độ: không hút thuốc lá, uống rượu bia, ăn nhạt, luyện tập thể dục (đi bộ nhanh, bơi ) giảm yếu tố căng thẳng tâm lý
Trước đây việc điều trị THA dựa vào phác đồ bậc thang của WHO năm
1978 gồm có 4 bước Dựa trên kinh nghiệm đã tích luỹ được từ sau năm 1978
uỷ ban quốc gia cộng lực Hoa Kỳ (JNC- V, JNC- VI) phát hiện đánh giá và
điều trị THA (năm 1988 và 1992) đã đề nghị phác đồ mới có 5 bước hợp lý hơn Đến tháng 7 năm 1998 JNC- VI đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của các yếu tố nguy cơ, lợi ích của việc phân loại tăng huyết áp để hướng cho việc
điều trị thích hợp Dựa trên kết quả cuối cùng của các thử nghiệm lâm sàng
đa trung tâm, JNC- VI khuyến cáo lựa chọn thuốc khởi đầu cho các bệnh nhân như sau:
+ Tăng huyết áp không có biến chứng chọn 1 trong 2 thuốc: Lợi tiểu và chẹn beta
+ Tăng huyết áp tâm thu đơn thuần (lớn tuổi): lợi tiểu thích hợp nhất và Dyhydropyrydin có tác dụng chậm (Adalat LA )
+ THA có suy tim: Chọn nhóm ức chế men chuyển và lợi tiểu
+ THA và nhồi máu cơ tim: Chọn thuốc ức chế beta và ức chế men chuyển hoá (khi giảm chức năng tâm thu)
Trang 23+ THA và đái tháo đường týp I với Protein niệu: thuốc ức chế men chuyển hoá khi dùng thuốc điều trị THA cần phải chú ý đến sự tương tác của thuốc, cần chú ý tới các nguyên nhân đáp ứng điều trị không đầy đủ như:
- Giả đề kháng ("THA áo trắng", "Giả THA người già")
- Bệnh nhân không tuân thủ điều trị
- Do quá tải thể tích (chế độ ăn mặn, dùng lợi tiểu chưa đầy đủ)
- Nguyên nhân do thuốc: Kết hợp thuốc không thích hợp, dùng thuốc thải trừ nhanh quá, dùng một số thuốc gây tăng huyết áp như (thuốc chống ngạt mũi, thuốc gây chán ăn, thuốc tránh thai, thuốc chống viêm Steroid, cocain và thuốc gây nghiện )
- Do sinh hoạt: hút thuốc lá, uống rượu, tăng cân
1.2 Tổng quan về tăng huyết áp theo y học cổ truyền 1.2.1 Khái niệm về chứng huyễn vựng và mối quan hệ chứng huyễn vựng với bệnh tăng huyết áp
Trong y văn YHCT không có bệnh danh tăng huyết áp, nhưng căn cứ vào những biểu hiện lâm sàng có thể thấy bệnh này thuộc phạm vi chứng Huyễn vựng, Đầu thống Những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu tìm mối liên hệ giữa các triệu chứng của bệnh THA với các biểu hiện lâm sàng của chứng huyễn vựng có nhiều nét tương đồng Khi điều trị bệnh tăng huyết áp theo biện chứng luận trị chứng huyễn vựng thì đồng thời cũng làm giảm được các chỉ số huyết áp trên lâm sàng
Huyễn vựng là một thuật ngữ của YHCT để mô tả một tình trạng bệnh lý trên lâm sàng biểu hiện bằng các triệu chứng chủ yếu: Hoa mắt, chóng mặt, váng đầu (trong đó Huyễn là một từ để chỉ tình trạng hoa mắt, chóng mặt, Vựng là tình trạng váng đầu), hai triệu chứng này trên lâm sàng thường hay kết hợp với nhau [6], [35], [50], [52], [54]
Trang 241.2.2 Cơ chế bệnh sinh của chứng huyễn vựng theo YHCT
Theo các y văn kinh điển (Tố Vấn- Chí chân yếu đại luận) cho rằng: chứng huyễn vựng do can phong nội động phát sinh ra Trong Hà Giang lục thư cho chứng này do phong hoả tạo thành Trong sách Đan khê tâm pháp nói:
"Không có đàm thì không thành huyễn, không có hoả thì không thành vựng" Trong cảnh nhạc toàn thư lại viết: "Vô hư bất năng tác huyễn"- Huyễn vựng là do thể trạng cơ thể suy nhược mà tạo thành
Qua các y văn của các thời đại đã nêu trên ta thấy rằng: Chứng huyễn vựng do các tạng can, thận, tâm và tỳ mất điều hoà cùng các yếu tố đàm thấp gây nên [6], [35], [54]
Theo quan niệm của YHCT có 4 nguyên nhân gây huyễn vựng đó là:
1.2.2.1 Can dương thượng kháng (Âm hư dương xung)
Can bao gồm có can âm và can dương hay can khí và can huyết Trong
điều kiện bình thường can âm và can dương cân bằng nhau, bất kỳ lý do nào làm mất sự cân bằng này làm cho can dương vượng lên đều gây ra chứng huyễn vựng Can âm hư có thể gặp ở người bẩm sinh có yếu tố dương mạnh, can dương dễ thăng lên trên mà phát thành huyễn vựng hoặc do người bệnh có quá trình căng thẳng về mặt tâm thần (do tức giận hay uất ức kéo dài) làm rối loạn tình chí làm khí uất hoá hoả gây tổn thương đến can âm, phần âm bị tiêu hao đi và phần dương của can bị thăng động lên tạo huyễn vựng hoặc do thận
âm thương tổn không nuôi dưỡng can mộc, can âm không đủ can dương thăng
động mà gây ra huyễn vựng
1.2.1.2 Do đàm trọc tắc trở ở bên trong (Đàm thấp):
Thường gặp ở người có thể trạng béo phì do ăn nhiều đồ béo ngọt trong thời gian dài làm tổn thương đến tỳ vị, làm rối loạn đến chức năng kiện vận
Trang 25của tỳ vị tạo nên đàm thấp, làm cho thanh dương bất thăng và trọc âm bất giáng mà gây ra huyễn vựng
1.2.1.3 Do thận tinh bất túc (Can thận âm hư):
Thận gồm hai phần thận âm và thận dương hay thận thuỷ và thận hoả, thận tinh và thận khí Khi thuỷ hoả mất cân bằng, hoả thời vượng lên, thận âm bất túc không giao hoà được với tâm hoả, hoả của thận cùng hoả của tâm kết hợp mà gây bệnh Sách Nội kinh viết "Thận sinh tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ sinh não, mà não lại là bể của tủy", "mọi chứng choáng váng chao đảo đều thuộc can mộc, thận hư thì nặng đầu, tuỷ thiếu thì ù tai" Do vậy người khi bẩm tố tiên thiên không đầy đủ hoặc lao thương quá độ làm tiêu hao thận tinh nên tinh không thể thượng xung lên não mà não là bể của tuỷ, bể tuỷ không đầy đủ gây ra chứng huyễn vựng
1.2.1.4 Khí huyết bị tổn thương (Tâm tỳ hư):
Thường gặp ở những người mắc bệnh lâu ngày làm tổn thương khí hoặc huyết kéo dài hoặc chưa kịp hồi phục hoặc do tỳ vị hư nhược làm mất khả năng sinh hoá làm cho khí huyết bị tổn thương Khí hư làm cho chất thanh không thăng được, chất trọc không giáng, huyết hư làm não kém được nuôi dưỡng mà gây ra huyễn vựng hoặc huyết hư làm cho sự lưu thông khí huyết bị ngừng trệ Huyết tắc lại lâu ngày hoá hoả gây huyễn vựng
Sách tỳ vị luận của Lý Đông Viên nói: "Tuổi 40 trở lên, nguyên khí đã suy và do lo nghĩ phiền uất càng hại đến nguyên khí, vì thế mà dễ phát bệnh thành huyễn vựng"
Hải Thượng Lãn Ông cho rằng: "Âm huyết của hậu thiên hư thì hoả
động lên, chân thủy của tiên thiên suy thì hoả bốc lên mà gây thành chứng huyễn vựng"
Trang 26Trên thực tế lâm sàng huyễn vựng do nguyên các nguyên nhân đơn lẻ gây ra hoặc có thể do một vài nguyên nhân phối hợp gây ra Có thể tóm tắt nguyên nhân gây bệnh qua sơ đồ sau:
Cơ chế bệnh sinh huyễn vựng
Tổn thương can thận
Ăn nhiều đồ béo ngọt
Tổn thương tỳ vị Can âm
Đàm thấp
Huyễn vựng
Tổn thương khí huyết
Tiên thiên bất túc
Trang 271.2.3 Các thể lâm sàng của huyễn vựng
Căn cứ vào bệnh chứng và nguyên nhân của chứng huyễn vựng, YHCT chia thành 4 thể lâm sàng là: Âm hư dương xung (Can dương thượng kháng), Can thận âm hư, Tâm tỳ hư, Đàm thấp [35], [50], [52]
Tuỳ thuộc vào tính chất bệnh lý của mỗi thể bệnh mà có phương pháp
điều trị khác nhau Có thể tóm tắt các thể lâm sàng và điều trị chứng huyễn vựng như sau:
phương Can
dương
thượng
kháng
Hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đầu
căng, dễ cáu gắt, miệng đắng,
họng khô, ngủ ít hay mê, rêu lưỡi
trắng hoặc vàng, mạch huyền hoạt
Bình can tiềm dương
mỏi gối, ù tai hay quên, di tinh
Nếu thiên về dương hư thì tứ chi
lạnh, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế
Nếu thiên về âm hư ngũ tâm phiền
nhiệt, chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế
Thiên về dương hư thì
bổ thận trợ dương
Thiên về âm hư: Tư bổ can thận
- Hữu quy hoàn
- Kỷ cúc địa hoàng hoàn
Đàm thấp Người béo phì, cảm giác nặng nề,
ngực sườn đầy tức, hay lợm giọng
buồn nôn, ăn ít, ngủ hay mê, rêu
lưỡi trắng dính, mạch huyền
Kiện tỳ trừ thấp hoá đàm
Bán hạ bạch truật thiên ma thang
Quy tỳ thang
Trang 281.3 Tình hình nghiên cứu về các thuốc có nguồn ngốc
tự nhiên dùng hạ huyết áp trong YHCT trên thế giới
vμ trong nước
Bệnh tăng huyết áp với những tai biến là nguy cơ cho sức khoẻ con người Việc điều trị bệnh cũng như phòng bệnh THA bằng nguồn được liệu thảo mộc sẵn có là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Từ trước đến nay có rất nhiều bài thuốc y học cổ truyền đã và đang được nghiên cứu ứng dụng
1.3.1 Trên thế giới
Nhiều nước trên thế giới quan tâm đến vấn đề sử dụng nguồn đông dược
để điều trị bệnh THA, đặc biệt ở Trung Quốc Sau nhiều năm nghiên cứu, ứng dụng và kết hợp Trung tây Y một cách hệ thống, YHCT Trung Quốc đã thu
được nhiều kết quả điều trị bệnh THA [36], [64], [65], [66], [67], [68]
YHCT Trung Quốc thống nhất quy định bệnh THA thuộc vào chứng huyễn vựng, có quan hệ mật thiết với các tạng can, tỳ, thận Trị pháp cơ bản vẫn là bình can tiềm dương, bổ thận tư âm, hoá đàm trừ huyễn và ích khí bổ hư, với các bài thuốc cổ phương hay dùng điều trị THA là "Thiên ma câu đằng ẩm", "Tam hoàng tả tâm thang", "Bán hạ bạch truật thiên ma thang", "long
đởm tả can thang", "Kỷ cúc địa hoàng hoàn"
Song song với việc ứng dụng cổ phương các nhà YHCT Trung Quốc còn nghiên cứu tạo lập nhiều nghiệm phương trên lâm sàng Các bài thuốc này
được nghiên cứu trên cơ sở lý luận chặt chẽ, kết hợp YHHĐ với YHCT
Bài thuốc "Hoạt huyết bình can" do tác giả Trần Bình (1997), thành phần bài thuốc gồm: Xuyên khung, Xích thược, Đan bì, Đan sâm, Thuỷ Điệt, Linh dương Hiệu quản trên lâm sàng đạt 87,62% trên tổng số bệnh nhân 105 ca
Ta thấy trong thành phần bài thuốc này có rất nhiều vị thuốc có tác dụng hoạt huyết, phá huyết Tác giả dùng như vậy là do vận dụng nguyên tắc hoạt huyết
Trang 29bình can để điều trị bệnh THA Với lý luận THA thuộc chứng "bản hư tiêu thực", liên quan đến can, tỳ, thận và ứ huyết là hậu quả của âm dương khí huyết thất điều, cho nên trong điều trị phải chú trọng đến vấn đề giải quyết
ứ huyết
Bài “Trạch tả hạ áp thang” của Chu Văn Ngọc (1984) gồm có các vị thuốc như: Trạch tả 50- 100gr, ích mẫu thảo, Xa tiền tử, Hạ khô thảo, Thảo quyết minh, Câu đằng, Tang ký sinh, Đan bì với số lượng thường dùng, kết quả lâm sàng chung là 78,26% trong đó loại tốt là 33,9%
Bài "ích linh giáng áp thang" của Đoàn Học Trung và Triệu Hàn Lâm (2002) với thành phần bài thuốc như sau: Sinh hoàng kỳ, Nhục dung, Tiên linh
tỳ, Đỗ trọng, Sinh địa, Kỷ tử, Tang ký sinh, Ngưu tất có hiệu quả hạ huyết
áp Trên lâm sàng là 81,60% (p <0,001) Các tác giả đã nhận định bệnh THA
và VXĐM có quan hệ mật thiết với nhau, coi VXĐM là cơ sở bệnh lý quan trọng cuả bệnh THA ở người có tuổi, thúc đẩy sự tiến triển của bệnh THA Do vậy điều trị THA phải đồng thời điều trị VXĐM
Năm 1979 Phạm Minh Thi, Trương Ngọc Liên đã xác định Câu Đằng, Hạ khô thảo, Lá dâu cũng có tác dụng hạ huyết áp Tác dụng hạ áp của Câu
đằng còn được xác định rõ ràng hơn qua nghiên cứu của Trần Thị Phương và cộng sự (1996) [41]
Năm 1981 Lã Tiến Dũng và Phạm Khuê đã công bố viên Ngưu tất có tác dụng hạ huyết áp trên lâm sàng với 83% số bệnh nhân được điều trị, sau đó
Trang 30Trần Thị Hoa và Ngô Thế Phương đã chứng minh Ngưu tất có tác dụng trong
điều trị chứng rối loại chuyển hoá Lipid máu [15]
Năm 1992 Đoàn Văn Quýnh và cộng sự nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy cao lỏng Bạch hạc (hay kiến cò) làm giảm 21% huyết áp ở mèo sau 60 phút [5]
Trên lâm sàng qua nghiên cứu của Trần Thuý và cộng sự cũng cho thấy Kiến cò có tác dụng hạ huyết áp [51]
Nhiều vị thảo mộc khác gây hạ huyết áp đã được các tác giả nghiên cứu
về cơ chế gây hạ huyết áp chứng minh cho kết quả lâm sàng như nghiên cứu Nguyễn Thị Lê Hồng, Nguyễn Ngọc Tước, Trần Đỗ Trinh, Đỗ Trung Đàm về lá sen, nghiên cứu về hoa hoè, hoa cúc, rễ nhàu của một số tác giả khác Nhiều bài thuốc nam đã được nghiên cứu trên lâm sàng dưới dạng chè hạ
áp như:
- Chè hạ áp do nhóm nghiên cứu Nguyễn Quỳnh Hương, Nguyễn Châu Quỳnh Năm 1990 thành phần có: Hoa hoè, Ngưu tất, Ngũ gia bì, Nhân trần, Rau má, Cam thảo dây, Hồng bì cũng có tác dụng hạ áp [26]
- Bài thuốc kinh nghiệm của Viện YHCT Việt Nam thành phần có: Ngưu tất, Đẳng Sâm, Hoè hoa, Cúc hoa, Cỏ ngọt, Lá sen và Vỏ đậu đã được Phạm Thị Bạch Yến đánh giá cơ chế tác dụng của bài thuốc trên thực nghiệm năm
1998 và Đỗ Linh Quyên đánh giá qua lâm sàng năm 1999 đều cho thấy hiệu quả, cơ chế tác dụng trên động vật thí nghiệm cũng như trên lâm sàng của bài thuốc [42], [44]
- chè tan Carosan do Nguyễn Đình Đạo năm 2001 cho thấy hiệu quả hạ
áp ở 85% bệnh nhân nghiên cứu và sử dụng an toàn thuận lợi [18]
- Năm 2000 Nguyễn Phương Mai cùng cộng sự (Bệnh viện YHCT Hà Nội) đã nghiên cứu đánh giá tác dụng của bài thuốc cổ phương "Bán hạ bạch
Trang 31truật thiên ma thang" gia Ngưu tất thấy có tác dụng hạ Cholesterol máu nhưng tác dụng hạ huyết áp không rõ rệt [38]
- Năm 2004 Đỗ Thị Thuý Anh đã đánh giá bài thuốc TTH có tác dụng HHA ở 90,60% bệnh nhân [1]
- Năm 2005 Trần Thị Hồng Thúy nghiên cứu tác dụng điều trị THA nguyên phát của Địa long thấy tác dụng HHA ở 89,7% bệnh nhân [53]
1.4 Tổng quan về nấm linh chi
Nấm linh chi đã được trồng và sử dụng ở nhiều nước trên thế giới cũng như nhiều tỉnh thành ở Việt Nam Người ta đã đề cập tới nhiều công dụng của linh chi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần làm sáng tỏ công dụng hạ huyết áp của nấm linh chi
Linh chi là loại nấm gỗ tên khoa học Ganoderma Lucidum thuộc họ nấm linh chi (Ganodermateceae)
Linh chi theo phiên âm tiếng Trung Quốc là Lingzhi, tiếng Nhật là Reishi là một loại nấm quý đã được biết đến từ hàng nghìn năm nay làm thuốc chữa bệnh Giá trị dược liệu của linh chi đã được ghi chép trong các thư tịch
cổ cách đây hơn 4000 năm Trong sách "Thần nông bản thảo" cách đây 2.000 năm đời nhà Chu - Trung Quốc đã xếp nó là thượng dược [23], [37], [45]
linh chi là nguồn sản vật quý hiếm của đất rừng Đại nam
1.4.1 Tác dụng và công dụng của nấm linh chi theo YHCT
Trong sách "Thần nông bản thảo" cách đây 2000 năm đời nhà Chu đã chép tác dụng kỳ diệu của nấm linh chi Lý Thời Trân một danh y thời xưa của Trung Quốc đã phân linh chi làm 6 loại (Lục bảo linh chi) [23]
Trang 32Bảng 1.3 Tác dụng của nấm linh chi theo YHCT
(Lục bảo linh chi của Lý Thời Trân, năm 1650 thời nhà Minh- TQ)
trí nhớ, thông mũi, bình suyễn, chỉ khái
Từ đó đến nay trải qua nhiều biến đổi của môi trường, thời tiết khí hậu nhưng linh chi vẫn được sử dụng ngày càng nhiều Các nhà khoa học tìm ra nhiều tác dụng để chữa các chứng bệnh khó
1.4.2 Cách trồng và chế biến nấm hồng chi
Nấm hồng chi trong thiên nhiên rất hiếm nên ngày nay người ta phải trồng để sử dụng Có hai cách trồng [20]:
- Trồng trên gỗ khúc: Kỹ thuật này áp dụng chủ yếu ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc
Lấy gỗ thuộc họ sồi, dẻ cưa thành từng đoạn khoảng 20cm, đường kính
từ 15- 20cm Vào tháng 10 cấy giống vào giữa sau khi đã khoan hay chẻ đôi
Trang 33các đoạn gỗ, toàn bộ các khúc gỗ được để trong phòng ẩm qua mùa đông từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Các khúc gỗ đưa vào nhà trong tưới nước để duy trì độ ẩm từ 85- 90% đến tháng 11 thì thu hoạch cắt đem phơi sấy khô
- Trồng bằng mạt cưa
Phương pháp này thường được áp dụng ở Việt Nam Dùng mạt cưa của cây cao su, cọ dầu, hoặc liễu phối trộn bổ sung các chất dinh dưỡng như cám rang, cám ngô, vôi, thạch cao Làm ẩm đến 60- 70% rồi cho vào túi ni lông chịu nhiệt nén chặt soi nỗ vào giữa bịch rồi cho vào nồi hấp để thanh trùng
Để nguội rồi cấy giống đã thuần khiết ủ sợi nấm từ 20- 40 ngày rồi chuyển bịch vào trong nhà trồng, phun nước để duy trì độ ẩm và nhiệt độ, đến tháng 6
có thể thu hoạch
1.4.3 Thành phần hoá học và tác dụng [20], [37], [43], [46]
1.4.3.1 Thành phần hoá học
Người ta xếp làm 4 nhóm chính:
- Nhóm Gluxit: chủ yếu là đường đa
- Nhóm Protein: có trên 10 loại enzym và glucoprotein
- Nhóm các chất khoáng (Ag, Al, B, Ca, Fe, K, Mg, Pb, Sn, Zn )
- Nhóm Nucleosid
1.4.3.2 Tác dụng [37], [47], [57], [60]
Hồng chi đã được dùng rất lâu và phổ biến trên thực tế có thể coi hồng chi không có độc tính, đã được sự kiểm tra tại Phân viện kiểm nghiệm Dược phẩm - Bộ Y tế - Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Dược liệu Hà Nội, Trung tâm
Đào tạo và Nghiên cứu Y dược học dân tộc Kết quả cho thấy dùng liều cao (gấp 50-150 lần liều dùng thông thường cho người) cũng không gây ra nhiễm
Trang 34độc cấp tính, hay trường diễn Do vậy chưa xác định được chỉ số LD50 trên chuột trắng
- Nhóm nucleosid có tác dụng ức chế kết dính tiểu cầu, giãn cơ giảm đau, ứng dụng điều trị bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch giảm đau trong các chứng ung thư, đau thắt ngực
- Nhóm Triterpenoid: có tác dụng khử gốc tự do hyđroxyl, chống khối u, giãn cơ, ức chế phản ứng peroxy hoá lipid ở tế bào gan, ứng dụng điều trị bệnh tăng huyết áp, một số bệnh suy gan, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân ung thư đang được xạ trị hoặc hoá trị liệu
- Nhóm Steroid: Có tác dụng giải độc gan, ức chế tổng hợp Cholesterol, ứng dụng điều trị các chứng rối loạn lipid máu, một số bệnh suy gan, xơ vữa
điều trị trường hợp cơ thể suy nhược, tăng tuổi thọ
- Nhóm các nguyên tố khoáng có vai trò nhất định đối với cơ thể như: Vanadium (V) có tác dụng chống tích đọng Cholesterol trên thành mạch, Germanium (Ge) tăng cường vận chuyển oxy vào mô, Selenium (Se) có hoạt tính chống ôxy hoá rất mạnh
Trang 35Chương 2 đối tượng Vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Chất liệu nghiên cứu
* Thuốc: Dùng nấm hồng chi (Ganderma Lucidum) nguồn giống và quy
trình sản xuất, thu hái, bảo quản theo quy trình của Viện Dược liệu trung ương
và Trung tâm công nghệ thực vật - Viện di truyền nông nghiệp [20]
* Quy trình sản xuất thuốc:
Thuốc được bảo quản và chế biến tại khoa Dược bệnh viện YHCT Thái Bình theo tiêu chuẩn dược điển Việt Nam Thuốc dùng dưới dạng khô, được sắc bằng máy của Hàn Quốc hiệu electric herbextractor machim model hanoleksnpb 130- 240L Thời gian sắc thuốc 3 giờ, nước thuốc sắc
được đóng vào túi nilon bằng dây truyền tự động Mỗi thang được 2 túi, mỗi túi 100ml, thời gian bảo quản 10 ngày
Để điều trị đều đặn trong một thời gian dài, phù hợp với kinh tế của các
đối tượng chúng tôi sử dụng liều 15g/ngày (dược liệu khô) Thuốc được sắc thành dung dịch 200ml đựng trong 2 túi, mỗi túi 100ml, chia làm 2 lần uống trong ngày trước bữa ăn trưa và tối 2 giờ
Trang 362.2 Đối t−ợng nghiên cứu
Đối t−ợng nghiên cứu gồm 47 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát độ I lựa chọn một cách ngẫu nhiên và đ−ợc điều trị nội trú, ngoại trú tại bệnh viện YHCT Tỉnh Thái Bình
đau l−ng, mỏi gối, ù tai,hoảng hốt, dễ sợ, ngủ ít, hay mê
Trang 372.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
* Theo YHHĐ:
- Tăng huyết áp thứ phát
- Bệnh tăng huyết áp từ độ II trở lên (Theo JNC VII)
- Suy gan, suy thận
- Tăng huyết áp đã có các biến chứng nặng
- Tăng huyết áp có kèm các bệnh cấp và mạn tính khác
- Phụ nữ có thai và cho con bú
- Không chấp hành đúng các quy định của phương pháp nghiên cứu
- áp dụng chế độ phòng chống THA bằng ăn uống, luyện tập, sinh hoạt theo hướng dẫn về bệnh THA có hiệu quả
* Theo YHCT:
- Huyễn vựng thể tâm tỳ hư, thể can dương thượng xung
- Các trường hợp trúng phong và di chứng trúng phong
2.3 Địa điểm vμ thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Bệnh viện YHCT Thái Bình tại khoa tổng hợp, khoa nội
- Thời gian: Từ tháng 4/2008- 8/2009
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu lâm sàng
Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng mở, so sánh trước và sau điều trị
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu sau:
2
2 2 / 1
) (
) 1
Z
ư
Trang 38Trong đó: p= 0,63 (kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thúy)
Trên thực tế chúng tôi nghiên cứu trên 47 bệnh nhân
2.4.3 Tiến hành nghiên cứu lâm sàng
- Bệnh nhân được khám và chẩn đoán xác định theo đúng các tiêu chuẩn
+ Cách đo: Bệnh nhân được nghỉ ngơi trước khi đo 15 phút, mỗi bệnh nhân được đo 2 lần cách nhau 2 phút, kết quả là số đo trung bình của 2 lần đo Nếu có sự giao động giữa 2 lần đo > 5mmHg thì đo lần thứ 3 và kết quả là số
đo trung bình của 3 lần Mỗi bệnh nhân phải được khám 2 lần, cả 2 lần đều có chỉ số huyết áp cao mới kết luận là bệnh THA
Làm nghiệm pháp Osler xem có tăng huyết áp giả tạo không, đo huyết áp
ở tư thế đứng sau 1-3 phút xem có tụt huyết áp tư thế không
- Hướng dẫn bệnh nhân chế độ làm việc, sinh hoạt, ăn uống: Không làm việc nặng, căng thẳng, sinh hoạt điều độ, giảm muối, kiêng rượu bia, bỏ thuốc lá, cà phê, thể dục, thể thao nhẹ nhàng
Trang 39- Tiến hành điều trị: Những bệnh nhân đủ điều kiện nghiên cứu được nhập viện điều trị nội trú, ngoại trú thời gian điều trị là 30 ngày và theo dõi sau 30 ngày ngừng thuốc
thuốc được sắc lấy 100ml chia làm 2 lần uống vào trước bữa ăn trưa và tối 2 giờ hàng ngày Trong thời gian điều trị, không dùng bất kỳ loại thuốc hạ huyết áp nào khác
đáy mắt, creatinin
2.5 Phương pháp đánh giá kết quả
2.5.1 Đánh giá tác dụng hạ huyết áp
* Tiêu chuẩn đánh giá:
xếp loại kết quả:
- Tốt (loại A): HATB giảm ≥ 15mmHg
Trang 40- Khá (loại B): HATB giảm 10 - 14mmHg
- Trung bình (loại C): HATB giảm 5 - 9mmHg
- Kém (loại D): HATB giảm <5mmHg hoặc không giảm hoặc tăng
* Phương pháp đánh giá
Đo huyết áp hàng ngày vào thời gian nhất định (9h sáng), rồi lấy trung bình cộng của 10 ngày vào các thời điểm ngày thứ 10, thứ 20, thứ 30
2.5.2 Đánh giá tác dụng trên các triệu chứng lâm sàng
* Tiêu chuẩn đánh giá:
- Tốt (loại A): Các triệu chứng không còn hoặc giảm mạnh > 50%
- Trung bình (loại B): Các triệu chứng giảm nhẹ < 50%
- Kém (loại C): Các triệu chứng không thay đổi
* So sánh các triệu chứng trước và sau điều trị về mức độ, thời gian, tính chất
2.5.3 Đánh giá tác dụng trên các chỉ số cận lâm sàng
So sánh sự biến đổi các chỉ số trước và sau điều trị: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, công thức bạch cầu, Cholesterol toàn phần, Triglycerid, HDL- C, LDL- C, Glucose, Ure, ALT, AST, Creatinin
2.6 Theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc
Phát ban, mẩn ngứa, đau bụng, đi ngoài lỏng, nôn mửa, vàng da, phù