1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng thị trường bán lẻ việt nam sau 4 năm mở cửa theo cam kết gia nhập wto

26 482 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 314,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bán lẻ là một loại hình hoạt động kinh doanh thương mại, trong đó hàng hóa và dịch vụ được bán trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng để thỏa mãn một nhu cầu nào đó về mặt vật chất hay

Trang 1

I Lý thuyết

I.1 Khái niệm bán lẻ, thị trường bán lẻ

1.1.1 Khái niệm về bán lẻ.

Bán lẻ là một loại hình hoạt động kinh doanh thương mại, trong đó hàng hóa và dịch

vụ được bán trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng để thỏa mãn một nhu cầu nào đó

(về mặt vật chất hay tinh thần) của họ, chứ không phải để kinh doanh.

1.1.2 Thị trường bán lẻ.

Thị trường bán lẻ là tập hợp các yếu tố môi trường, quan hệ trao đổi thương mại bán lẻ

và phương thức tương tác giữa các chủ thể trong điều kiện không gian, thời gian nhấtđịnh nhằm cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng cuối cùng

1.2 Đặc điểm của thị trường bán lẻ

- Đối tượng tác động: chủ yếu là với người tiêu dùng cuối cùng Nhu cầu mua hàng của

khách hàng rất đa dạng, phức tạp và thường xuyên biến động Hàng hóa được mua vớimục đích tiêu dùng, không mang tính thương mại do đó hàng hóa đã trao đổi sẽ không

có cơ hội quay lại thị trường Vì vậy, người mua cũng là người tiêu dùng cuối cùng

- Phạm vi không gian thị trường của các điểm bán lẻ: không gian hẹp, song số lượng các

mối quan hệ giao dịch( số lượng khách hàng) lại lớn và mang tính ổn định không cao.Hàng hóa đa dạng, phong phú Phần lớn các nơi bán lẻ cung cấp nhiều loại hàng hóakhác nhau, vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, vừa tăng cường hiệu quả kinhdoanh trong từng kỳ Trong các cửa hàng chuyên doanh, tùy theo từng chủng loại sảnphẩm, nhà sản xuất còn đa dạng hóa nhiều chủng loại mặt hàng có kích cỡ, chất lượng,màu sắc, kiểu dáng khác nhau để khách hàng có nhiều sự lựa chọn

- Có sự tham gia trực tiếp của khách hàng và ảnh hưởng lớn: Khách hàng tác động

mạnh đến giao dịch bán lẻ Khách hàng chủ động và độc lập trong quyết định mua hàng.Thông thường đối với hoạt động bán lẻ, người bán hàng không có quá trình thăm dò nhucầu khách hàng trước khi tiếp xúc với người tiêu dùng Khách hàng có khả năng tàichính, có động cơ mua hàng cụ thể và có quyết định tương đối độc lập

- Tỷ trọng sử dụng lao động sống cao: từ không đào tạo đến có đào tạo.Thị trường bán lẻ

là khu vực thu hút nhiều lao động lớn

1.3 Chức năng của bán lẻ hàng hóa

Bán lẻ hàng hóa gồm 4 chức năng chính là :

- Hình thành danh mục mặt hàng và dịch vụ bổ sung phù hợp : Nghiên cứu nhu cầu

và nhà cung cấp, đảm bảo lợi thế cạnh tranh

Cửa hàng bán lẻ cần phải khai thác một số lượng lớn các sản phẩm được sản xuất bởinhiều công ty khác nhau Điều nầy là cần thiết vì nó mang lại cho khách hàng sự thoảimái trong việc lựa chọn sản phẩm, nhãn hiệu, mùi vị, màu sắc, qui cách bao bì đóng gói

và cả các mức giá khác nhau Chính vì vậy cho nên các cửa hàng bán lẻ phải rất thậntrọng trong việc chọn lưa những nhóm hàng hóa và dịch vụ thích hợp nhất cho từng cửahàng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng ở khu vực mà cửa hàng tọa lạc

- Tổ chức lại hàng hóa cho phù hợp với quy cách mua và tiêu dùng

Chúng ta đều biết rằng bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không hề đơngiản đối với đa số các nhà sản xuất và các nhà bán sỉ Do vậy các nhà sản xuất và cácnhà bán sỉ thường thích bán từng lô lớn cho những nhà bán lẻ chuyên nghiệp để họ chia

Trang 2

nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng theo qui cách phù hợp với thói quen mua sắm củangười tiêu dùng tại địa phương ấy

- Đảm bảo trạng thái sẵn sàng của lô hàng cho việc mua và sử dụng

Một trong những chức năng chính của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làm cho hànghóa lúc nào cũng có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến Người bán lẻ thông thườngkhông thích trữ chỉ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại họ thích trữ nhiềumặt hàng với khối lượng càng nhỏ càng tốt Vì như thế khách hàng luôn luôn có nhiều

sự chọn lựa hơn Hưởng lợi từ chức năng này của người bán lẻ, khách hàng không phảimua dự trữ nhiều sản phẩm trong nhà Họ chỉ mua đủ dùng vì sản phẩm lúc nào cũng cósẵn ở cửa hàng bán lẻ

- Tổ chức dự trữ hàng hóa tại vị trí không gian chờ phù hợp

Bên cạnh những chức năng trên, nhà bán lẻ còn tạo ra mặt bằng trưng bày hàng hóa rộnglớn có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú, giúp khách hàng thoảimái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua

1.4 Vai trò của bán lẻ hàng hóa

- Là lĩnh vực hoạt động quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp đáng kể vào GDP,

thu hút lao động… Sự tồn tại của bán lẻ là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và pháttriển của các ngành sản xuất trong xã hội

Doanh thu bán lẻ trên mỗi thị trường thể hiện sức khỏe của nền kinh tế : quy mô, tìnhhình phát triển hay xu hướng nền kinh tế đất nước Bên cạnh đó những chuyển dịch trênthị trường bán lẻ còn cho thấy sự thay đổi trong mức sống của người dân Thị trườngbán lẻ tăng trưởng tốt đồng nghĩa với thu nhập trung bình của người dân quốc gia đótăng lên, sức mua cải thiện, chất lượng đời sống nâng cao Ngoài ra, bán lẻ là khu vựcthu hút lực lượng lao động lớn, góp phần tạo công ăn việc làm cho một tỉ lệ lớn ngườilao động trên thế giới

- Ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của quốc gia, là nền tảng cho bán buôn và bán

xỉ…Thị trường cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin cần thiết để tiến hàng sảnxuất và phân phối về nhu cầu thị trường, thị trường cần cái gì, cần bao nhiêu Từ đó, nhàsản xuất và nhà bán lẻ cung cấp cho thị trường những hàng hóa mà thị trường cần và cácdoanh nghiệp sẽ nhận lại được từ thị trường số tiền tương ứng với giá trị hàng hóa dịch

vụ mà doanh nghiệp đã cung cấp

- Là cầu nối kinh tế quan trọng giữa những nhà SX-KD với người tiêu dùng

Trong khi người tiêu dùng có nhu cầu về nhiều loại hàng hóa với khối lượng nhỏ thìngười sản xuất để đảm bảo lợi nhuận phải sản xuất với một khối lượng lớn Khi xã hộingày càng phát triển, thu nhập của người dân tăng lên, nhu cầu tiêu dung ngày càng đadạng, phong phú Trong khi đó các doanh nghiệp sản xuất thì sản xuất với khối lượnglớn để đạt hiểu quả sản xuất theo tính kinh tế của quy mô Thị trường bán lẻ giải quyếttốt sự khác biệt giữa sản xuất quy mô lớn và tiêu dùng đa dạng khối lượng nhỏ bằngcách mua hàng hóa của nhiều nhà sản xuất khác nhau, bán lại cho nhiều người tiêu dùng

ở cùng một địa điểm Thị trường bán lẻ giúp giải quyết sự khác biệt và không trùng lặp

về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường bán lẻ

- Các chính sách của nhà nước: đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành

và phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ Các chính sách nhà nước còn có vai tròtạo ra môi trường cạnh tranh giữa các nhóm đối tượng tham gia vào thị trường bán lẻ

Trang 3

Thị trường bán lẻ ngày càng phát triển thì các chính sách của nhà nước càng có xuhướng thông thoáng hơn và tạo ra môi trường kinh doanh công bằng hơn với các chế tài

cụ thể

- Các yếu tố về kinh tế: đối với thị trường bán lẻ thì các yếu tố kinh tế được hiểu là tổng

cung và cầu về hàng hóa dịch vụ bán lẻ, đây cũng là yếu tố tác động quyết định đến sựhình thành và mức độ phát triển của thị trường bán lẻ

 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế:

 Lạm phát

 Tình hình thu hút vốn FDI:

 Chỉ số giá tiêu dùng CPI

- Yếu tố văn hóa: đây là yếu tố tác động đến sự sống còn của thị trường bán lẻ Thị

trường bán lẻ được coi là thị trường trung gian giữa các nhà sản xuất cung ứng với ngườitiêu dùng Do vậy sức mua, thị hiếu mua sắm, độ tuổi của người tiêu dùng là yếu tố địnhhướng sự phát triển của thị trường Rõ ràng những nơi có mật độ dân cư đông đúc thì thịtrường bán lẻ sẽ phát triển thuận lợi hơn nơi có mật độ dân cư thưa Nơi người dân giàu

có, mức chi tiêu lớn thì thị trường bán lẻ cũng sẽ phát triển mạnh mẽ hơn những nơi dân

cư nghèo đói, mức chi tiêu nhỏ

- Cơ sở hạ tầng: các yếu tố về cơ sở hạ tầng có liên quan đến hoạt động sản xuất

kinh doanh của các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân tham gia vào thị trường bán lẻ Cácyếu tố đó cụ thể là: trình độ hiện đại của hệ thống giao thông, bến bãi, thông tin liên lạc;chi phí vận chuyển, bảo quản; chi phí xây mới, thuê, mua mặt bằng,…

- Yếu tố khoa học kỹ thuật: khoa học – kỹ thuật quyết định và chi phối việc ứng

dụng khoa học – kỹ thuật trên thị trường, quyết định sự ra đời của sản phẩm mới, hìnhthành phương thức kinh doanh mới, ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu dùng của người dân.Một số yếu tố khoa học và kỹ thuật tác động đến thị trường bán lẻ đó là: trình độ trang

bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế; mức độ đầu tư khoa học công nghệ và tốc độtriển khai của ứng dụng trên nền kinh tế; chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật củaquốc gia

1.6 Cấu trúc thị trường bán lẻ

- Thị trường vô hình : người mua và người bán không trực tiếp gặp gỡ nhau mà thôngqua các tiến bộ của công nghệ thông tin như Internet, điện thoại và địa điểm cung cấphàng hóa dịch vụ cũng là những địa điểm vô hình như các trang website điển hình:ebay.com, amazon.com, enbac.com, Hình thức mua bán trên mạng trên thế giới đãphát triển rất lâu nhưng ở Việt Nam chỉ mới nổi lên những năm gần đây với tốc độ pháttriển rất nhanh chóng và đã hình thành thị trường bán lẻ vô hình rất sôi động, phong phúvới đầy đủ các loại mặt hàng

- Thị trường hữu hình: người bán và người mua gặp gỡ, trao đổi trực tiếp vói nhau ở cácđịa điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ hữu hình như chợ, đại lý, siêu thị, trung tâm thươngmại Thị trường bán lẻ hữu hình vần đóng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinhdoanh Bộ phận chính của thị trương bán lẻ hữu hình là các tổ chức bán lẻ có quy mônhư trung tâm mua sắm, đại siêu thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng tiện lợi, cửa hàngchuyên doanh, chợ truyền thống, chợ chuyên doanh, Bên cạnh đó còn có bộ phận nhỏ

đó là hình thức bán rong, nó không gắn liền với một địa điểm hay một của hàng cố định.Thương mại bán rong bao gồm những người bán hàng tại nhà, những người đến tận hộgia đình để giới thiệu và bán hàng Những người bán hàng ở các chợ cuối tuần, chợ tết,

Trang 4

bán hàng ở đường phố và các xe bán hàng chủ yếu là hàng thực phẩm và đồ tươi sống.

II Thực trạng

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường bán lẻ Việt Nam

Quy mô dân số

Tốc độ tăng trưởng dân số là một trong những nhân tố chính hỗ trợ cho sự tăng trưởngcủa thị trường bán lẻ VN Khi quy mô dân số ngày càng tăng thì nhu cầu đối với nhữngsản phẩm bán lẻ cũng sẽ tăng theo Dân số trung bình cả nước năm 2012 ước tính 88,78triệu người, tăng 1,06% so với năm 2011 Trong tổng dân số cả nước năm nay, dân sốkhu vực thành thị là 28,81 triệu người, tăng 3,3% so với năm trước; dân số khu vực nôngthôn là 59,97 triệu người, tăng 0,02%

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 52,58 triệu người, tăng 2,3% so vớinăm 2011, trong đó lao động nam chiếm 51,3%; lao động nữ chiếm 48,7% Lao động từ

15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2012 là 51,69 triệu người, tăng 2,7% so với năm 2011

Sức mua và chi tiêu dành cho tiêu dùng

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng trưởng bình quân khoảng 7,3%/nămtrong giai đoạn 2002 – 2007 và dự báo sẽ tăng lên khoảng 10,3%/năm trong giai đoạn

2007 – 2012 Thu nhập bình quân đầu người năm 2012 1540USD/ năm Sau 20 nămphát triển, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng 11,43 lần

Theo thống kê năm 2012, chi tiêu cho thực phẩm và đồ uống của người tiêu dùng Việtđạt 276 USD/người/năm Dự kiến đến năm 2016, tổng chi tiêu của người tiêu dùng vớithực phẩm và đồ uống sẽ tăng lên 25,2 tỷ USD so với mức 17,7 tỷ USD năm 2011 Thunhập cải thiện sẽ giúp người dân chi tiêu nhiều qua đó sẽ giúp thị trường bán lẻ VN tiếptục tăng trưởng trong những năm tới

Có thể thấy sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã giúp Việt Nam trở thành mộttrong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong khu vực, đã kích thích và thúcđẩy người tiêu dùng chi tiêu mạnh hơn, với tốc độ tăng trưởng chi tiêu tiêu dùng bìnhquân đạt 17,2%/năm.

Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đóng vai trò quan trọng tạo tiền đề phát triển thịtrường bán lẻ Việt Nam là một trong những nước thuộc nền kinh tế mới nổi ở châu Á,tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm lên tới 6 – 7%/năm

Tăng trưởng kinh tế năm 2012 của Việt Nam đạt mức 5.03% theo Tổng cục thống kê.Mức này thấp hơn so với dự báo gần đây là 5.2% - 5.3% Cụ thể, GDP quý I tăng4.64%, quý II tăng 4.8%, quý III tăng 5.05% và quý IV tăng 5.44% So với năm 2011,GDP năm nay giảm 0,86% Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê cho rằng, trong bối cảnhkinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạmphát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa đã tăng từ 90 tỷ USD năm 2008 lên gần 136

tỷ USD vào năm 2012, và tăng gấp 1,5 lần

Tiến trình đô thị hóa

Một trong những thành quả của quá trình tăng trưởng cao đó là tiến trình đô thị hóa diễn

ra nhanh chóng Đây là yếu tố quan trọng và có vài trò lớn trong việc tạo môi trườngsống và phát triển cho thị trường bán lẻ Hầu hết các mô hình bán lẻ ở Việt Nam tậptrung ở các khu vực thành thị và dân số thành thị cũng dễ dàng tiếp cận được các loại

Trang 5

hình bán lẻ nhiều hơn so với người dân ở nông thôn Do đó, quá trình đô thị hóa sẽ tạonên sự tăng trưởng mạnh mẽ cho thị trường bán lẻ của VN Theo báo cáo “Đánh giá Đôthị Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới, tốc độ đô thị hóa của VN bình quân đạt

3,4%/năm, đa số tập trung trong và xung quanh TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội

Tập quán tiêu dùng thay đổi theo hướng hiện đại

Người tiêu dùng Việt Nam nói chung vẫn giữ những thói quen tiêu dùng truyền thống.Đối với mặt hàng lương thực, thực phẩm, họ thích đi chợ hàng ngày để mua thực phẩmcho gia đình mình Một tỷ lệ khá lớn người Việt Nam vẫn thích mua sắm ở các chợ haycửa hàng tạp hóa nhỏ do thuận lợi về giao thông, tiết kiệm thời gian và do mối quan hệvới người bán hàng Trên thị trường Việt Nam, các thực phẩm tươi sống được ưu thíchhơn hơn thực phẩm đã qua chế biến do quan niêm về hàm lượng dinh dưỡng, độ “ tươi”

và đảm bảo của thực phẩm Một nguyên nhân nữa khiến người dân Việt Nam vẫn giữthói quen mua thực phẩm tươi sống là tỷ lệ hộ gia đình có điều kiện sử dụng tủ lạnh và

lò vi sóng chỉ khoảng 13%.Tuy nhiên, những năm gần đây, xu hướng tiêu dùng củangười VN ở thành thị xuất hiện những thay đổi theo hướng tiếp nhận phong trào muasắm hiện đại

Tự do hóa thương mại

Mặc dù Chính phủ tiếp tục kiểm soát khá chặt chẽ đối với hoạt động bán lẻ, tuy nhiên xuhướng này sẽ dần thay đổi theo hướng cởi mở và tự do hơn theo lộ trình cam kết khiViệt Nam gia nhập WTO Việc để nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường bán lẻtrong nước sẽ là áp lực buộc các doanh nghiệp bán lẻ trong nước phải đổi mới theohướng hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, nâng cao năng suất, kiểm soát tốt chi phí vàquan tâm hơn đến hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm và các dịch vụ chăm sóckhách hàng Theo tổ chức nghiên cứu thị trường Nielsen, trong mức tăng trưởng doanhthu bán hàng bình quân hàng năm của Việt Nam thì giá cả tăng chiếm tới 70% khoảntăng đó Dự báo doanh số bán lẻ trong giai đoạn 2013 – 2015 bình quân tăng khoảng8,5%/năm

2.2 Thị trường bán lẻ Việt Nam

Năm 2008, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thếgiới, nhờ kinh tế tăng trưởng mạnh, thu hút đầu tư nước ngoài cao, đặc biệt là người tiêudùng thuộc hàng trẻ nhất châu Á và ngày càng mạnh tay chi tiêu

Trang 6

Trong những năm gần đây, thị trường bán lẻ của Việt Nam xấu đi, xuống hàng thứ 6năm 2009, thứ 14 năm 2010, thứ 23 năm 2011 và thứ 32 năm 2012 Các nhà đầu tư đánhgiá thị trường bán lẻ Việt Nam còn nhiều rào cản như: những bất ổn của tình hình kinh

tế vĩ mô, thủ tục cấp giấy phép còn nhiêu khê, sức mua trên thị trường giảm, quy hoạchthị trường bán lẻ không đồng bộ, chất lượng chuỗi cung ứng kém, chất lượng nguồnnhân lực còn thấp… Ông Huỳnh Phước Cường, Giám đốc Dịch vụ các nhà bán lẻ, Công

ty GFK Việt Nam, cho biết trong năm 2012, tốc độ tăng trưởng của thị trường điện tửlần đầu tiên có xu hướng giảm trong suốt 5 - 6 năm qua Chỉ có thiết bị gia dụng có giátrị tăng trưởng dương, còn tất cả các mặt hàng khác đều giảm

Tuy nhiên, bức tranh thị trường bán lẻ Việt Nam ngày càng nhiều màu sắc và đa dạng:Các loại hình kinh doanh bán lẻ khá phong phú và đa dạng bao gồm 6 loại hình chính:

- Trung tâm thương mại cao cấp như: Diamond, Vincom, Grand, Pico, Parkson

- Siêu thị

- Nhà bán lẻ chuyên về một category: ví dụ như bán lẻ điện máy, bán lẻ nội thất hay bán

lẻ thời trang : dienmay.com, Nguyễn Kim, Trần Anh

- Các cửa hàng tiện lợi

- Hệ thống bán lẻ truyền thống vẫn giữ ưu thế : thị trường bán lẻ Việt Nam nhìn

chung là thị trường phân tán và quy mô khá khiêm tốn nếu xét trên cả quy mô dân số.Chợ và các cửa hàng theo kiểu hộ gia đình vẫn chi phối cà thị trường Mặc dù có các quyđịnh về cấm bán hàng rong tại một số quận nội thành ở Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh đã được ban hành từ tháng 2/2008, loại hình này vẫn giữ vai trò đáng kể trong thóiquen mua sắm của người dân Việt Nam

Đặc biệt là khu vực nông thôn nơi có khoảng 70% dân số Việt Nam đang sinh sống, hệthống bán lẻ truyền thống chiếm vị trí gần như áp đảo Trong thời kỳ năm 2006 -2009doanh thu từ hệ thống bán lẻ truyền thống đang giữ khoảng 90% tổng doanh thu bán lẻhàng hóa trên thị trường

Hệ thống bán lẻ hiện đại ở Việt Nam tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: trung tâmthương mại, siêu thị, của hàng tiện ích Thành phố Hồ Chí Minh là nơi siêu thị đầu tiênxuất hiện tại thị trường Việt Nam Tháng 10/1993, siêu thị đầu tiên được mở là siêu thịthuộc sở hữu nhà nước tính từ thời điểm đó đến nay, cùng với sự phát triển của nền kinh

tế, sự gia tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và sự tăng trưởng mạnh mẽ củangành du lịch nội địa đã thúc đẩy các mô hình bán lẻ nở rộ

Nói đến thành công của nhà bán lẻ Việt Nam có thể kể đến SaigonCo.op mart

Saigonco.op mart- nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam- trực thuộc Liên hiệp các Hợp tác

xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh Co.op Mart hiện là doanh nghiệp có nhiềusiêu thị nhất Việt Nam, với gần 60 siêu thị phủ khắp nước này Hệ thống siêu thịSaigonco.op là 1 trong những hệ thống siêu thị lớn nhất nước ta với sự đầu tư hiện đại,công nghệ quản lý chuyên nghiệp Thành công của Saigonco.op đáng kể nhất là đượcbầu chọn trong top 500 nhà bán lẻ hàng đầu châu Á trong 6 năm liên tiếp (2004- 2009)

Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động và chiếm lĩnh thị trường: Năm 1999, thị trường bán lẻ Việt Nam bắt đầu có sức hấp dẫn mạnh

mẽ đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đi đầu là tập đoàn Bourbon của Pháp với siêu thịđầu tiên BigC tại Đồng Nai Tiếp sau đó hàng loạt các tên tuổi khác như Metro C

Trang 7

Cash&Carry ( Đức) xâm nhập vào thị trường Việt Nam

Ngày 1/1/2009, thị trường bán lẻ Việt Nam mới mở cửa cho các doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài hoạt động theo những cam kết trong khuôn khổ WTO Có tên tuổi lớn trênthị trường bán lẻ Việt Nam đang có đến 21 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài,trong khi các doanh nghiệp Việt Nam tuy có số lượng đông đảo nhưng để lại dấu ấnkhông nhiều

Trước sự co hẹp của một số doanh nghiệp trong nước, nhiều đại gia nước ngoài nhanhchóng mở rộng để chiếm lĩnh thị phần Có thể điểm qua một số tên tuổi nước ngoài đãrất thành công ở thị trường Việt Nam như Metro Cash & Carry ( Đức), nhà đầu tư nướcngoài đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh bán lẻ Việt Nam từ năm 2001,Casino Group ( Pháp), nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên với thương hiệu BigC, LionGroup ( Malaysia) được biết đến với thương hiệu trung tâm thương mại cao cấp Parksonvới 7 chi nhánh và đang tiếp tục mở rộng, tập đoàn Circle K (Mỹ) chỉ mới hoạt độnghơn 2 năm trên thị trường bán lẻ Việt Nam nhưng đã phát triển hệ thống phân phối vớihơn 20 cửa hàng tiện dụng Ngoài ra còn nhiều tên tuổi nổi tiếng khác như: Zen Plaza,Family Mart, Minishop ( Nhật), Diamond Plaza, Lottle Mart ( Hàn Quốc), Dairy Farrm(Hồng Kong), Gouco Group ( Hà Lan), đang không ngừng phát triển dịch vụ, mạnglưới tại thị trường Việt Nam. Trên thị trường bán lẻ Việt Nam, Big C và Metro là 2 nhàbán lẻ đến từ nước ngoài có hoạt động rộng khắp

Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn nhiều yếu kém

- Quy mô nhỏ: Doanh nghiệp bán lẻ nói chung còn gặp nhiều khó khăn về vốn.

Một siêu thị bán lẻ do một doanh nghiệp Việt Nam mở thường chỉ được đầu tư số vốnchưa đến 10 tỷ trong khi các nhà bán lẻ nước ngoài có thể đầu tư lên gấp 13 lần, khoảng

130 tỷ Một hệ quả khá rõ ràng là doanh thu bình quân của siêu thị trong nước chỉ bằng35% siêu thị nước ngoài Do thiếu vốn, các nhà bán lẻ Việt Nam không thể đầu tư chonghiệp vụ hậu cần: bến bãi, kho hàng hay phương tiện chuyên chở Điều này làm chocác nhà bán lẻ trong nước ngày càng tụt lại trong cuộc đua với các nhà bán lẻ chuyênnghiệp nước ngoài Nếu trên các thị trường phát triển và trong các chuỗi siêu thị bán lẻcủa các nhà đầu tư nước ngoài, xe chuyên chở hạng nặng, lên tới 30 tấn và xe contanierhay pallet, trong khi các hệ thống siêu thị của các nhà bán lẻ Việt Nam vẫn sử dụng xehạng nhẹ dưới 7 tấn Năng lực chuyên chở hạn chế khiến các doanh nghiệp Việt Namtốn nhiều thời gian hơn và không đưa khách hàng dịch vụ nhanh nhất và chất lượngnhất

- Trình đô quản lý lạc hậu

Do lĩnh vực bán lẻ hiện đại của Việt Nam chỉ mới thực sự bắt đầu vào những năm 1990nên kinh nghiệm các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có được khá hạn chế Đội ngũ quản

lý thiếu cơ hội tiếp cận với những mô hình bán lẻ thành công trên thế giới.Mô hình quản

lý ở hầu hết các cơ sở bán lẻ của Việt Nam còn khá cứng nhắc, kém linh hoạt Cácdoanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vì tiềm lực tài chính hạn chế, không có kinh nghiệmtrong việc xây dựng các chương trình đãi ngộ nhân viên nên thường tỏ ra yếu thế trongviệc tuyển dụng những vị trí hàng đầu có khả năng chỉ đạo hoạt động kinh doanh, vạchchiến lược dài hạn cho công ty Đây là một cản trở lớn cho các doanh nghiệp bán lẻnước ta

- Chất lượng nguồn nhân lực nói chung còn thấp: Nguồn lao động làm việc trong

ngành hiện nay không được đào tạo bài bản Nguyên nhân chính do ở Việt Nam hiện

Trang 8

chưa có 1 chương trình đào tạo chính quy về bán lẻ Nhân viên làm việc trong các siêuthị chỉ tốt nghiệp hết trung học phổ thông Bên cạnh đó, bản thân các doanh nghiệp cũngkhông tỏ ra thực sự hiệu quả trong quá trình đào tạo nhân viên của mình Tình trạngthường thấy ở các siêu thị, của hàng tiện ích do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ là hiểubiết của nhân viên về các loại hàng hóa thường rất hạn chế Số lượng nhân viên có đủkiến thức để giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng chỉ là một tỉ lệ rất nhỏ.

- Hoạt động liên kết hạn chế

Các doanh nghiệp VN vào thời điểm hiện nay vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầmquan trọng của việc liên kết Trên cả nước hiện mới chỉ ghi nhận 2 tổ chức của các nhàbán lẻ trong nước Đó là hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR) và công ty cổ phầnđầu tư và phát triển hệ thống phân phối Việt Nam ( VDA) Do chưa hiểu hết được vaitrò liên kết, và những liên kết trên thị trường mới chỉ hạn chế ở mục đích hỗ trợ thànhviên chưa phát huy được ý nghĩa to lớn của mình

2.3 Các cam kết của Việt Nam về vấn dề dịch vụ phân phối khi gia nhập WTO

Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, nhiều thành viên đã đưa ra yêu cầu rất cao,

đề nghị ta mở cửa thị trường dịch vụ phân phối và coi đây là điều kiện tiên quyết choviệc chấp nhận ta gia nhập WTO Cam kết của Việt Nam trong WTO đối với dịch vụphân phối được thiết kế trên cơ sở Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam-Hoa

Kỳ (BTA) Tuy nhiên, do các Thành viên WTO coi BTA chỉ là khởi điểm để đàm phánnên cam kết của Việt Nam trong WTO có nhiều thay đổi so với BTA

Theo phân loại của WTO, ta đã cam kết mở cửa các dịch vụ phân phối sau khi gia nhậpWTO: Dịch vụ đại lý hoa hồng, Dịch vụ bán buôn, Dịch vụ bán lẻ ( kể cả hoạt động bánhàng đa cấp) , Dịch vụ nhượng quyền thương mại

Về hình thức hoạt động, ngay khi gia nhập WTO ta cam kết cho phép các nhà phân phốinước ngoài được lập liên doanh với đối tác Việt Nam để cung cấp dịch vụ phân phốinhưng tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49%, kể từ ngày1/1/2008, hạn chế 49% vốn góp sẽ được bãi bỏ Kể từ ngày 1/1/2009, ta cho phép lậpdoanh nghiệp phân phối 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Ngoài ra, đối với dịch vụnhượng quyền thương mại, từ ngày 11/01/2007, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lậpchi nhánh để cung cấp dịch vụ này Tuy nhiên, trưởng chi nhánh phải là người thườngtrú tại Việt Nam

Tuy nhiên, Việt Nam hạn chế khả năng mở thêm điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài thông qua việc kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) Kiểm tra nhu cầukinh tế có thể hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tình hình thực tế để xemxét có cấp phép cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay không Ví dụ, mộtdoanh nghiệp phân phối A có vốn đầu tư nước ngoài muốn mở thêm một siêu thị bán lẻtại địa phương X (ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất của doanh nghiệp A), cơ quan có thẩmquyền sẽ xem xét số lượng người tiêu dùng tại địa phương, số các siêu thị, cửa hànghiện có, dự tính nhu cầu trong tương lai, v.v để quyết định có cho phép doanh nghiệp A

mở thêm siêu thị bán lẻ hay không

Theo cam kết gia nhập WTO đối với dịch vụ phân phối, các doanh nghiệp bán lẻ có vốnđầu tư nước ngoài muốn lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất sẽ được các cơquan quản lý xem xét nhu cầu kinh tế Tuy nhiên, quy trình xem xét, cấp phép cơ sở bán

lẻ ngoài cơ sở thứ nhất sẽ được thiết lập và công bố công khai, việc kiểm tra nhu cầukinh tế, cấp phép sẽ dựa trên các tiêu chí khách quan, bao gồm số lượng các nhà cung

Trang 9

cấp dịch vụ (các cơ sở bán lẻ) đang hiện diện trong một khu vực địa lý, sự ổn định củathị trường và và quy mô địa lý .

Về diện mặt hàng, Việt Nam mở cửa các dịch vụ phân phối cho tất cả các sản phẩmnhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, trừ các mặt hàng sau đây: Thuốc lá và xì gà, Sách,báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình, Kim loại quý và đá quý Dược phẩm, Thuốc nổ,Dầu thô và dầu đã qua chế biến, Gạo, đường mía và đường củ cải

Đối với các sản phẩm trên, Việt Nam có thể dành quyền phân phối cho các doanhnghiệp trong nước, tức là các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài (đượcthành lập sau khi Việt Nam gia nhập WTO) có thể sẽ không được quyền phân phối cácsản phẩm này Phạm vi chính xác (theo mã phân loại HS của biểu thuế quan) của cácmặt hàng này được quy định tại Quyết định 10/2007/QĐ-BTM của Bộ Thương mại Đối với các sản phẩm mà Việt Nam đã cam kết mở cửa Kể từ ngày gia nhập (11 tháng 1năm 2007), các nhà phân phối có vốn đầu tư nước ngoài được quyền phân phối tất cảcác sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào ViệtNam, ngoại trừ xi măng và clinke; lốp (trừ lốp máy bay); giấy; máy kéo; phương tiện cơgiới; ô tô con và xe máy; sắt thép; thiết bị nghe nhìn; rượu và phân bón

Từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, các nhà phân phối có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được phânphối (thông qua dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ) máy kéo, phương tiện cơgiới, ô tô con và xe máy

Kể từ ngày 11/1/2010, các nhà phân phối có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được phân phốitất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam Ngoài ra, ta cũng cho phép việc bán hàng qua mạng từ nước ngoài vào Việt Nam, việcbán hàng này liên quan tới việc phân phối qua phương thức 1 (cung cấp qua biên giới).Việc phân phối qua phương thức này có thể được thực hiện dưới dạng mua, bán hànghóa qua mạng hoặc đặt hàng qua thư Tuy nhiên, đối với phương thức này, ta chỉ camkết cho phép các nhà phân phối nước ngoài được bán các loại hàng hoá sau:

- Các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân

- Các chương trình phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc vì mụcđích thương mại

Đối với các sản phẩm khác, việc bán hàng qua mạng sẽ tuân thủ các quy định hiện hànhcủa pháp luật Việt Nam

2.4 Thị trường bán lẻ Việt Nam trước gia nhập WTO

Hình thức phân phối hàng hóa ở Việt Nam trước năm 1986 chủ yếu là theo hình thứctem phiếu Khi đó hầu hết các hàng hóa đều do nhà nước thu thập rồi phân phối theokiểu phổ thông đầu phiếu Với kiểu phân phối này người dân đều được nhận một sốlượng hàng hóa như nhau Ban đầu, hình thức này tỏ ra vô cùng hiệu quả đặc biệt tronghoàn cảnh chiến tranh Nhưng sau này, khi dành được độc lập cuộc sống của người dânbắt đầu thay đổi thì hình thức phân phối này không còn phù hợp nữa

Sau năm 1986 cùng với sự thay đổi của đất nước thì thị trường bán lẻ Việt Nam cũng

đã có sự thay đổi Hàng hóa đã bắt đầu được phân phối theo kiểu thị trường, tức là theonhu cầu, thu nhập của người dân Hệ thống cửa hàng bán lẻ và các chợ phát triển nở rộ.Hàng hóa được tự do lưu thông trên thị trường Trên thị trường bắt đầu xuất hiện nhiềumặt hàng ngoại nhập Cùng với sự nở rộ của thị trường thì hàng loạt các doanh nghiệpbán lẻ và tầng lớp thương gia được hình thành Người tiêu dùng Việt Nam bắt đầu làm

Trang 10

quen với các kênh phân phối hiện đại từ năm 1993, khi một siêu thị nhỏ Minimart khaitrương tại TP.Hồ Chí Minh Siêu thị đầu tiên ở Hà Nội cũng là siêu thị Minimart ở tầng

2 chợ Hôm được khai trương vào năm 1995 Do vậy mà nền kinh tế đã phát triển hơntrước, thu nhập của người dân tăng và đặc biệt sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Ánăm 1997 thì hệ thống siêu thị ở Việt Nam phát triển nở rộ Trong thời gian này, nổidanh trong lĩnh vực bán lẻ như: Saigonco.op với hệ thống Co.opmart; công ty ĐôngHưng với hệ thống siêu thị Citimart

Kể từ thời điểm “chạm đáy” với tốc độ phát triển chỉ với 8,26% năm 1999 và nhích lên9,70% năm 2000, thị trường bán lẻ của nước ta cho đến nay cũng liên tục duy trì được

đà tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước (xem biểu đồ)

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu

dùng

Hơn thế, điều đặc biệt quan trọng ở thời điểm hiện nay là nền kinh tế đang đứng trướcngưỡng cửa WTO và mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà chúng ta đang hướng tới là đạtnhịp độ tăng GDP từ 7,5-8%/năm Rõ ràng, cùng với triển vọng phát triển kinh tế sángsủa như vậy, thu nhập của người dân sẽ tiếp tục tăng nhanh và sức mua hứa hẹn cónhững bước tiến vượt bậc trong những năm tới

Đến năm 2007 là mốc quan trọng của thị trường bán lẻ Việt Nam Năm 2007, ViệtNam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và mở cửa hoàntoàn thị trường bán lẻ năm 2009 Thị trường bán lẻ Việt Nam có sự góp mặt của cácdoanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài

Trong đó phải kể đến hệ thống 8 đại siêu thị của tập đoàn Metro Cash&Carry (Đức)trong toàn quốc đang kinh doanh bán buôn bán lẻ 15.000 mặt hàng các loại với giá thấphơn các siêu thị trong nước 10 - 15% Bên cạnh đó là các “đại gia” khác như Bourbon(Pháp), Parkson (Malaysia), Zen Plaza (Hàn Quốc) thu hút được gần 60% lượng kháchhàng trong hệ thống siêu thị

2.5 Thị trường bán lẻ Việt Nam sau 4 năm mở cửa hoàn toàn theo cam kết gia nhập WTO

Trang 11

Sau 4 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) mở cửa thị trường bán lẻ ,thị trường bán lẻ Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng mở cửa sâu rộng hơn, đầy

đủ hơn, hội nhập nhanh hơn vào thị trường khu vực và thế giới theo lộ trình cam kết khichính thức gia nhập WTO

Nền kinh tế Việt Nam đã và đang trải qua thời kỳ khó khăn khi phải đối mặt với tìnhtrạng lạm phát cao, thâm hụt thương mại và sự mất giá đồng nội tệ, từ đó dẫn đến Tổngsản phẩm quốc nội (GDP) năm 2012 chỉ tăng nhẹ ở mức 5,03% Tuy nhiên Việt Namvẫn được đánh giá là một trong những thị trường mới nổi đầy tiềm năng, là cơ sở để pháttriển thị trường bán lẻ so với các nước đã và đang phát triển, thậm chí so với những quốcgia trong nhóm kinh tế siêu cường tiềm năng BRIC bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ vàTrung Quốc

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

Thị trường bán lẻ liên tục phát triển với tốc độ cao từ 20% đến 25% qui mô, tổng mứcbán lẻ hàng hoá dịch vụ đạt từ 750.000-800.000 tỷ đồng những năm 2006-2008, mứctăng trung bình thời kỳ này là 26% cao gấp hơn 3 lần so với tốc độ tăng GDP Đặc biệtnăm 2008 tốc độ tăng đạt kỷ lục 34.9% và tổng giá trị lên tới 1007,2 ngàn tỷ đồng Sangnăm 2009 tốc độ tăng giảm mạnh xuống còn 20,6% điều này giải thích bởi sự tác độngcủa suy thoái kinh tế dẫn đến người dân ít chi tiêu hơn.Tốc độ tăng trưởng kỷ lục vàonăm 2008 là do đó là năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO các rào cản dần được xóa bỏdoanh nghiệp nước ngoài gia nhập thị trường dễ dàng hơn tạo sự cạnh tranh gay gắt làmcho giá giảm cộng với cầu, tiêu dùng của người dân ngày một cao và tốc độ tăng giá tiêudùng ở mức cao

Việt Nam là một thị trường bán lẻ đầy tiềm năng với doanh thu năm 2009, 2010, 2011lần lượt là 39, 44 và 50 tỷ đô la Mỹ (USD) Dự tính nguồn doanh thu bán lẻ sẽ tăng lên

113 tỷ USD vào năm 2013 từ 80 tỷ USD của năm 2012 Theo số liệu thống kê, lĩnh vựcbán lẻ hàng hoá-dịch vụ đã đóng góp khoảng 15% GDP, doanh số bán lẻ bằng 60-70%GDP, góp phần tăng trưởng kinh tế trong những năm qua Theo số liệu của Tổng cụcThống kê, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ năm 2012 đạt trên 2,32 triệu

tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2011 Đóng góp lớn nhất cho con số trên, xét theo nhómngành là kinh doanh thương nghiệp chiếm tỷ trọng 77,1%, tương đương với 1,789 triệu

tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2011 Các nhóm ngành khác, khách sạn nhàhàng đóng góp 11,8%, dịch vụ chiếm 10,1% và du lịch chiếm 1% Xét theo loại hìnhkinh tế, thì khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 1,968 triệu tỷ đồng, chiếm 84,8% và tăng18,4% so với năm 2011 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 67,4 nghìn tỷ đồng,chiếm 2,9% và tăng 34,7% Khu vực kinh tế nhà nước đóng 288,9 nghìn tỷ đồng, chiếm12,3% và giảm 1,2% Năm 2013, ngành công thương đặt mục tiêu đạt tổng mức bán lẻhàng hóa và dịch vụ xã hội năm 2013 khoảng 2,742 triệu tỷ đồng, tăng 18% so với năm

2012.

Tất cả những chỉ số bán lẻ đều phản ánh viễn cảnh khả quan của thị trường bán lẻ trongtrung và dài hạn Mặc dù hiện nay thị trường Việt Nam đã thu hút được khá nhiều cácnhà bán lẻ là các tên tuổi lớn trên thế giới nhưng vẫn thật sự tiềm năng của thị trườngvẫn chưa được khai thác đúng nghĩa

Báo cáo của Research and Markets khẳng định Việt Nam là một trong năm thị trườngbán lẻ sinh lời nhất thế giới, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt23-25%/năm Tuy nhiên, theo số liệu của Retail Asia, doanh thu trên mỗi m2 bán lẻ ở

Trang 12

Việt Nam còn khá thấp so với khu vực, lại chậm cải thiện Năm 2010, doanh thu của hệthống siêu thị hàng đầu Việt Nam chỉ đạt khoảng 5518 USD/m2/năm so với Thái Lan là

6283 USD, Đài Loan là 6797 USD và Singapore là 9025 USD

Tuy nhiên, tổng mức bán lẻ này không có sự đóng góp đồng đều từ các vùng miến trên

cả nước Do điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau nên hoạt động bán lẻ trên các vùngmiền trên cả nước cũng có sự khác biệt Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ tínhtheo các vùng miền được thống kể ở bảng dưới đây

Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ tính theo các vùng trên cả nước:

Trong tất cả các năm, tất cả các vùng thì tổng mức bán lẻ tăng trung bình các năm làkhoảng 26.3% Tổng mức bán lẻ đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Longluôn chiếm 1/3 tổng mức bán lẻ cả nước Khu vực Đông Nam Bộ với các thành phố màmức tiêu dùng lớn ( thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương ) thì tổng mức bán lẻ lớnnhất so với các vùng khác trên toàn quốc

Tổng mức bán lẻ của Đông Nam Bộ gần bằng tổng mức bán lẻ tại Đồng bằng sông Hồng

và Đồng bằng sông Cửu Long cộng lại Như vậy, tổng mức bán lẻ tại ba vùng này đãchiếm tới 2/3 tổng mức bán lẻ của cả nước

Hầu hết các siêu thị lớn, trung tâm thương mại hiện đại đều được xây dựng tại nhữngvùng này Có 2 lí do giải thích cho vấn đề này: tại các vùng này giao thông đi lại vậnchuyển hàng hóa dễ dàng ( vùng đồng bằng đường xá thuận tiện, có những cảng biển lớnnhư Sài Gòn, Hải Phòng ) Thứ 2, những vùng này là những trung tâm kinh tế lớn nhất

Trang 13

cả nước, dân cư tập trung đông đúc, thu nhập người dân cao hơn những vùng khác nênsức tiêu thụ lớn hơn, và ngược lại với những vùng Tây Nguyên, Tây Bắc.

Tổng mức bán lẻ Trung du miền núi phía Bắc chỉ chiếm hơn kém 5% tổng mức bán lẻcủa cả nước Vùng Tây Nguyên tổng mức bán lẻ chỉ chiếm khoảng 3-4% tổng mức bán

lẻ cả nước Do vậy những vùng này cần sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước để phát triểnhoạt động bán lẻ

Mạng lưới phân phối

Mạng lưới bán lẻ ở Việt Nam chủ yếu được phân phối theo các kênh truyền thống nhưchợ ( khoảng 8500 chợ ), các của hàng bán lẻ truyền thống và cửa hàng tạp hóa chiếmkhoảng 80%.Hàng hóa lưu thông qua kênh bán hàng hiện đại ( trung tâm thương mại,siêu thị cửa hàng tự chọn) chiếm khoảng 12% tập trung chủ yếu ở 2 thành phố lớn là HàNội và TP Hồ Chí Minh

Tính đến đầu năm 2012, cả nước có 639 siêu thị, 212 trung tâm thương mại Ngoài ra,còn có hàng nghìn cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tiện lợi theo mô hình hiện đạiphân bố rộng khắp cả nước Trong hệ thống siêu thị hiện nay, hàng hóa sản xuất trongnước chiếm tỷ trọng khoảng 70-80%, tuy nhiên tỷ lệ này cũng khác nhau tùy từng loạihình và quy mô Với loại hình siêu thị, đại siêu thị như BigC, Vinatexmart, Hapromart,Co.opmart… tỷ lệ hàng Việt chiếm khoảng 80-95%; còn với loại chuyên doanh như Siêuthị điện máy Nguyễn Kim, Mediamart, Pico… hàng Việt chỉ chiếm khoảng 50% trongtổng số các mặt hàng bày bán Trong hệ thống bán lẻ của Tổng Công ty Thương mại HàNội (Hapro) có khoảng 15.000 mã hàng hóa, tỷ trọng hàng "nội" chiếm 60-80% Doanhthu từ thị trường nội địa đạt khoảng 4.000 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ hàng Việttrong tổng doanh thu của toàn hệ thống bán lẻ đạt bình quân 30-50% Tương tự, tại hệthống siêu thị BigC, tỷ trọng hàng Việt chiếm hơn 90%, còn lại hàng ngoại chủ yếu làcác mặt hàng hoa quả, rượu bia, bánh kẹo và đồ gia dụng… Sự phát triển của loại hìnhbán lẻ văn minh, hiện đại đã làm thay đổi diện mạo của thương mại bán lẻ và góp phầnlàm thay đổi thói quen mua sắm, tiêu dùng của một bộ phận dân cư, nhất là ở khu vựcthành thị Dù rằng hàng Việt đang chiếm tỷ lệ cao trong hệ thống phân phối bán lẻ,nhưng mẫu mã hàng "nội" vẫn đơn điệu, chưa hấp dẫn người tiêu dùng (NTD) như hànghóa cùng loại được nhập từ nước ngoài Trong số 90% hàng Việt bày bán tại các siêu thị,hầu hết là đồ uống, hàng đông lạnh, thực phẩm, thời trang… Với những mặt hàng thuộcnhóm khác, hàng Việt vẫn đứng sau hàng xuất xứ từ Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc…

Lý giải tình trạng này, theo đại diện các siêu thị là do nhiều sản phẩm chất lượng chưacao, chưa chú trọng đến mẫu mã… trong khi yêu cầu về hàng hóa trong hệ thống phânphối bán lẻ hiện đại phải bảo đảm chất lượng và luôn thay đổi để đáp ứng thị hiếu NTD.Chưa kể hàng hóa Việt khi đưa vào tiêu thụ tại hệ thống bán lẻ hiện đại phải "gánh"thêm nhiều chi phí, như phí thuê quầy, chiết khấu, khuyến mãi, hỗ trợ quảng cáo… nêngiá thành sản phẩm tăng cao so với mặt bằng chung, vì vậy khó thu hút được kháchhàng Đặc biệt là vẫn còn tình trạng một số doanh nghiệp (DN) lợi dụng khuyến mãi đểgian lận thương mại, tiêu thụ các mặt hàng nhái, sắp hết hạn sử dụng, làm ảnh hưởngđến lòng tin của NTD với hàng Việt…

Ngoài ra hàng hóa còn được lưu thông qua các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hình thứcnày chiếm khoảng 6%

Hàng hóa ở các vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh phía nam, miềntrung và miền bắc, tiểu thương, tư thương đảm nhận vai trò phân phối hàng là chủ yếu Nếu đem so sánh với các

Ngày đăng: 27/07/2014, 19:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình bán lẻ nhiều hơn so với người dân ở nông thôn. Do đó, quá trình đô thị hóa sẽ tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ cho thị trường bán lẻ của VN - thực trạng thị trường bán lẻ việt nam sau 4 năm mở cửa theo cam kết gia nhập wto
Hình b án lẻ nhiều hơn so với người dân ở nông thôn. Do đó, quá trình đô thị hóa sẽ tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ cho thị trường bán lẻ của VN (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w