1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc

552 1,6K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 552
Dung lượng 29,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Hà Nội Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, phần lớn diện tích tự nhiên là đồng bằng, độ cao trung bình 5-20m so với mực nước biển.. Mặt khác do Hà Nội nằm ở gần phần đỉn

Trang 1

và Môi trường và công nghệ và đào tạo

Báo cáo

Nhiệm vụ Khoa học

Đánh giá diễn biến môi trường khu vực trọng điểm phát triển kinh tế xã hội của hai vùng tam giác phía Bắc và phía Nam

Tập II

đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp

bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía bắc

Trang 2

và Môi trường và công nghệ và đào tạo

Báo cáo

Nhiệm vụ Khoa học

Đánh giá diễn biến môi trường khu vực trọng điểm phát triển kinh tế xã hội của hai vùng tam giác phía Bắc và phía Nam

Bộ Chủ quản : Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ Quản lý Đề tài : Bộ Khoa học và Công nghệ

Bộ Tài Nguyên và Môi trường

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp

Hà Nội, năm 2004

Trang 3

mục lục

Trang

1.2 Diễn biến đặc điểm khí hậu - thuỷ văn vùng KTTĐPB 10

1.3 Đặc điểm thuỷ văn, hải văn của vùng 14

1.4 Đánh giá nguy cơ thiên tai về khí tượng, thuỷ văn và hải văn

Chương II : Hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội

đến năm 2010 ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 39

2.1 Phát triển và phân bố dân số của vùng thời gian qua 39

2.2 Hiện trạng và quy hoạch phát triển đô thị đến năm 2010 40

2.3 Hiện trạng và quy hoạch phát triển giao thông của vùng đến năm 2010 53

2.4 Hiện trạng và quy hoạch phát triển công nghiệp của vùng đến năm 2010 56

2.5 Hiện trạng và quy hoạch phát triển nông nghiệp của vùng đến năm 2010 73

2.6 Hiện trạng và quy hoạch phát triển thuỷ sản của vùng đến năm 2010 76

2.7 Hiện trạng và quy hoạch phát triển rừng và lâm nghiệp trong vùng

2.8 Hiện trạng và quy hoạch phát triển du lịch của vùng đến năm 2010 81

2.9 Nhận định chung về quy hoạch phát triển KTXH của vùng đến năm 2010

và tác động của nó đối với môi trường 83

Chương III : Diễn biến tài nguyên sinh vật trong vùng KTTĐPB 93

3.1 Đánh giá hiện trạng và dự báo xu thế diễn biến đa dạng sinh học trên phần

3.2 Đánh giá hiện trạng và dự báo xu thế diễn biến đa dạng sinh học ven biển

và hải đảo vùng KTTĐPB đến năm 2010 101

3.3 Đánh giá hiện trạng và diễn biến rừng 115

4.1 Tình hình sử dụng đất vùng KTTĐPB 130

4.2 Tài nguyên đất và đất bị thoái hoá vùng KTTĐPB 133

4.3 Tác động của việc sử dụng phân bón đến môi trường đất 136

4.4 Ô nhiễm đất do sử dụng hoá chất BVTV 137

4.5 Ô nhiễm đất do tác động của hoạt động SXCN, tiểu thủ công nghiệp

chế biến nông sản và làng nghề 138

Chương V : Diễn biến môi trường nước lục địa của vùng KTTĐPB 146

5.1 Nguồn gốc ô nhiễm và các tác động đến MT nước mặt vùng KTTĐPB 146

5.2 Hiện trạng và diễn biến chất lượng nước mặt vùng KTTĐPB 148

5.3 Dự báo diễn biến môi trường nước mặt vùng KTTĐPB 171

5.4 Đánh giá diễn biến môi trường nước dưới đất 216

Chương VI : Đánh giá diễn biến và dự báo môi trường nước biển ven bờ 237

6.2 Đánh giá diễn biến nguồn chất thải vào biển ven bờ 238

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA

Trang 4

6.3 Hiện trạng chất lượng MT biển khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh 247 6.4 Tác động qua lại của phát triển KTXH tới MT trong khu vực 256 6.5 Dự báo diễn biến môi trường nước biển ven bờ đến 2010 258 6.6 Tính toán diễn biến và dự báo chất lượng nước biển ven bờ 261

Chương VII : Diễn biến môi trường không khí và tiếng ồn ở vùng KTTĐPB 276

7.2 Dự báo nguồn khí thải ở vùng KTTĐPB 295 7.3 Diễn biến môi trường tiếng ồn đô thị vùng KTTĐPB 309 7.4 Dự báo mức ồn giao thông đến năm 2010 315

Chương VIII : Diễn biến nguồn phát sinh và quản lý CTR vùng KTTĐPB 327

8.1 Hiện trạng và dự báo chất thải rắn sinh hoạt 327 8.2 Hiện trạng và dự báo chất thải rắn công nghiệp 335 8.3 Hiện trạng và dự báo CTR y tế vùng KTTĐPB đến năm 2010 338 8.4 Các vấn đề bức bách trong công tác quản lý CTR vùng KTTĐPB 339

Chương IX : Diễn biến MT nông nghiệp, nông thôn và làng nghề vùng KTTĐPB

9.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp 343 9.2 Đánh giá môi trường các làng nghề thuộc vùng KTTĐPB 361 9.3 Cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn 382

10.1 Hiện trạng, diễn biến và dự báo MTLĐ ở vùng KTTĐPB 397 10.2 Hiện trạng và diễn biến sức khoẻ MT cộng đồng ở vùng KTTĐPB 418

Chương XII : Đề xuất các giải pháp BVMT vùng KTTĐPB

12.1 Các vấn đề môi trường bức bách trong vùng KTTĐPB 458 12.2 Các giải pháp chung về quy hoạch môi trường vùng KTTĐPB 465 12.3 Các giải pháp bảo vệ, bảo tồn ĐDSH và rừng 473

12.5 Đề xuất các giải pháp BVMT nước mặt vùng KTTĐPB 492 12.6 Các giải pháp BVMT tài nguyên nước ngầm 499 12.7 Một số giải pháp BVMT nước biển ven bờ 499 12.8 Các giải pháp BVMT không khí và giảm tiếng ồn 501 12.9 Các giải pháp quản lý chất thải rắn 526 12.10 Các giải pháp BVMT trong khai thác than ở Quảng Ninh 529 12.11 Các giải pháp BVMT trong sản xuất nông nghiệp 536 12.12 Các giải pháp BVMT đối với làng nghề 537

Trang 5

Danh sách những người tham gia nghiên cứu

Bộ Chủ quản : Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ Quản lý Đề tài : Bộ Khoa học và Công nghệ

Bộ Tài Nguyên và Môi trường

Với sự tham gia chính của các cán bộ khoa học :

1 GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng - Trung tâm KTMT Đô thị và Khu công nghiệp

2 GS.TS Trần Hiếu Nhuệ - Trung tâm KTMT Đô thị và Khu công nghiệp

3 PGS.TS Trần Đức Hạ - Trung tâm KTMT Đô thị và Khu công nghiệp

4 PGS.TS Nguyễn Kim Thái - Trung tâm KTMT Đô thị và Khu công nghiệp

5 TS Nguyễn Quỳnh Hương - Trung tâm KTMT Đô thị và Khu công nghiệp

6 TS Lê Văn Nãi - Trung tâm KTMT Đô thị và Khu công nghiệp

7 KS Thái Minh Sơn - Trung tâm KTMT Đô thị và Khu công nghiệp

8 KTS Phạm Ngọc Hồng - Trung tâm KTMT Đô thị và Khu công nghiệp

9 TS Đặng Trần Duy - Viện Khí tượng - Thuỷ văn

10 PGS.TS Lê Thái Bạt - Hội Khoa học Đất Việt Nam

11 GS.TSKH Đặng Trung Thuận - Đại học Khoa học Tự nhiên

12 GS.TSKH Phạm Văn Ninh - Trung tâm Môi trường Biển, Viện Cơ học

13 PGS.TS Đặng Kim Chi - Viện KH&CN Môi trường, ĐHBK

14 PGS.TS Phạm Bình Quyền - TT Tài nguyên &Môi trường, Đại học KHTN

15 GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

16 TS Hồ Thanh Hải - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

17 PGS TS Ngô Ngọc Cát - Viện Địa lý - Viện KH&CN Việt Nam

18 Th.S Võ Trí Chung - Viện Môi trường và PTBV

19 GS.TS Đào Ngọc Phong - Đại học Y khoa Hà Nội

20 PGS.TS Lê Vân Trình - Viện NC KHKT và Bảo hộ Lao động

Trang 6

Các chữ viết tắt

B&ATNĐ : Bão và áp thấp nhiệt đới

KHCN&MT : Khoa học công nghệ và môi trường

QT&PTMT : Quan trắc và phân tích môi trường

Trang 7

Lời nói đầu

Tập báo cáo này (tập II) là báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu "Đánh giá diễn

biến môi trường và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường ở khu vực kinh tế trọng

điểm phía Bắc" (gồm các tỉnh/thành Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương và Quảng Ninh)

thuộc Nhiệm vụ Bảo vệ môi trường cấp Nhà nước "Đánh giá diễn biến môi trường khu

vực trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội của hai vùng tam giác phía Bắc và phía Nam", được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (trước đây) giao cho Trung tâm

Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp (ĐHXD) chủ trì thực hiện từ tháng 8/2002 đến nay

Tham gia nghiên cứu phần II "Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất các giải

pháp bảo vệ môi trường ở khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc" bao gồm các cán bộ

khoa học của các cơ quan khoa học ở Trung ương và địa phương, như là : Trường Đại học Xây dựng (Trung tâm CEETIA và Khoa Kỹ thuật Môi trường); Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Trung tâm Thông tin và Tư liệu, Viện Địa lý, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Trung tâm Khảo sát, Nghiên cứu và Tư vấn Môi trường Biển, Phân viện Hải dương học Hải Phòng), Đại học Quốc gia Hà Nội (Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Khoa Địa lý), Viện Môi trường và Phát triển Bền vững, Đại học Y Hà Nội (Khoa Y tế Cộng đồng), Hội Khoa học Đất Việt Nam, Viện Khí tượng Thuỷ văn, Đại học Bách khoa Hà Nội (Viện KH và CN Môi trường), Trung tâm Hỗ trợ Cộng đồng Phát triển Bền vững, Trung tâm Môi trường và An toàn Hoá chất, Viện NCKHKT Bảo hộ Lao động, 4 Sở KHCN &MT (trước đây) của 4 tỉnh/thành Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương và Quảng Ninh

Trong báo cáo trình bày một cách tổng hợp và định lượng những nét cơ bản về hiện trạng và qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội của 4 tỉnh thành trên; Hiện trạng môi trường (nước mặt, nước dưới đất, nước biển ven bờ, đất, không khí, tiếng ồn, chất thải rắn, môi trường lao động, rừng và các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học, môi trường các khu công nghiệp, môi trường nông nghiệp, môi trường các làng nghề, môi trường giao thông đô thị, thiên tai và sự cố môi trường, môi trường và sức khoẻ cộng

đồng); Dự báo diễn biến các thành phần môi trường đến năm 2010 do phát triển kinh

tế - xã hội gây ra; Đề xuất các giải pháp về qui hoạch, quản lý và công nghệ nhằm bảo

vệ môi trường theo các thành phần môi trường, theo các khu vực và theo các ngành sản xuất; Đề xuất quy hoạch mạng lưới quan trắc và phân tích môi trường của khu vực

Trang 8

Chương I

Đặc điểm địa lý, địa hình vùng trọng điểm

phát triển kinh tế phía Bắc

1.1 Vị trí địa lý và địa hình vùng

• Vị trí địa lý

Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (KTTĐPB) gồm 8 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Tây và Quảng Ninh Đây là vùng lãnh thổ kéo dài theo phương Tây Nam - Đông Bắc, nằm từ phần rìa phía Bắc của đồng bằng châu thổ sông Hồng, đến mút Đông Bắc tận cùng của Việt Nam Nhưng theo Đề cương của Nhiệm vụ được giao chỉ tập trung nghiên cứu 4 tỉnh/thành trong vùng là Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương và Quảng Ninh

Vì vậy, tuy gọi là vùng nghiên cứu, nhưng lãnh thổ này không có đường ranh giới khép kín, mà thực chất nó gồm hai bộ phận: phía Tây là thành phố Hà Nội, phía Đông

là 3 tỉnh liền kề gồm Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh, chúng được nối với nhau qua địa phận 2 tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên (Hình 1.1)

Vùng KTTĐPB chiếm giữ một vị trí địa lý vô cùng quan trọng Đó là đầu mối giao thông đường hàng không, đường sắt và đường bộ nối liền với vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng Tây Bắc, vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước, là cửa ngõ sang tỉnh Quảng Tây Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái, ra với thế giới bên ngoài bằng đường thuỷ qua các cảng biển lớn như Hải Phòng, Cái Lân, Cửa Ông v.v

Ví trí của vùng KTTĐPB được xác định bởi các toạ độ địa lý :

Từ 200 35' đến 21044' vĩ độ Bắc

1050 44' đến 108005' kinh độ Đông Các tỉnh thành trong vùng được giới hạn bởi các toạ độ địa lý:

Tỉnh, thành Vĩ độ Bắc Kinh độ Đông

Hà Nội 20053' - 21035' 105044'-106002' Hải Dương 20036' - 21033' 106009' - 106036' Hải Phòng 20035' - 21001' 106029' - 107005' Quảng Ninh 20040' - 21044' 106005' - 108005' Vùng KTTĐPB về phía Bắc giáp Trung Quốc (tỉnh Quảng Tây), các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Thái Nguyên Phía Tây giáp Vĩnh Phúc và Hà Tây Phía Nam giáp Hưng Yên và Thái Bình Phía Đông là biển Đông Vùng KTTĐPB giữ vai trò đầu tàu,

có sức hút và khả năng lan toả rộng, tác động trực tiếp đến các quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh giáp ranh và cả miền Bắc nói chung

Theo số liệu thống kê, vào năm 2002 vùng KTTĐPB có tổng diện tích 9.992 km2với dân số toàn vùng là 7.382 nghìn người, được phân bố như sau :

Trang 9

(Nguồn: Niên giám thống kê 2002 )

Trong vùng KTTĐPB có 2 thành phố loại I: Hà Nội, Hải Phòng; 2 thành phố loại 3: Hải Dương, Hạ Long; 4 thị xã: Đồ Sơn, Uông Bí, Cẩm Phả, Móng Cái; 34 huyện lỵ Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật,

đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, giao dịch quốc tế của cả nước

Hải Phòng - thành phố cảng biển là cửa ngõ ra biển chủ yếu của vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng và cả Bắc Bộ nói chung, đồng thời còn có thể dùng cho cả tỉnh Vân Nam của Trung Quốc

Quảng Ninh với cảng biển nước sâu Cái Lân, với cửa khẩu Móng Cái và di sản thiên nhiên thế giới, vịnh Hạ Long mở ra những cơ hội mới trong phát triển của toàn vùng

Các tuyến quốc lộ số 5, số 10, số 18; các tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Kép - Hạ Long là những trục giao thông chính nội vùng và liên vùng Tất cả những lợi thế đó đã làm cho vùng KTTĐPB có một vị trí địa lý - chính trị cực kỳ quan trọng và có ưu thế đặc biệt so với các vùng khác trong cả nước

• Địa hình (hình 1.2)

Nét độc đáo của vùng KTTĐPB là có địa hình đa dạng, từ kiểu địa hình đồi núi

đến địa hình đồng bằng, ven biển và hải đảo, trong đó Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng

là 3 tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, có kiểu địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích Ngược lại, Quảng Ninh thuộc miền Đông Bắc, có dạng địa hình đồi núi chiếm phần chủ yếu Vùng KTTĐPB có đường bờ biển dài 375km với hàng nghìn đảo

đã tạo nên kiểu địa hình hải đảo có một không hai ở Việt Nam

Đặc điểm địa hình đã chi phối mạnh mẽ các dạng tài nguyên thiên nhiên trong vùng: đất, rừng, mạng lưới thuỷ văn, cảnh quan và tài nguyên du lịch, đồng thời cũng

ảnh hưởng lớn đến cơ cấu sản xuất và phân bố dân cư trong vùng

Tuy nhiên, vùng KTTĐPB nghiên cứu là một vùng không khép kín, vì vậy việc phân tích đặc điểm địa hình theo qui mô toàn vùng ít có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Thêm vào đó hiện nay các dạng tài nguyên và các yếu tố môi trường trong vùng

được quản lý chủ yếu theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, do vậy dưới đây trình bày khái quát về đặc điểm địa hình theo từng đơn vị tỉnh thành, bắt đầu từ thành phố Hà Nội

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 4

Trang 10

Hình 1.1 Bản đồ vị trí địa lý vùng KTTĐPB

Hình 1.2 Bản đồ địa hình vùng KTTĐPB

Trang 11

Thành phố Hà Nội

Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, phần lớn diện tích tự nhiên là đồng bằng, độ cao trung bình 5-20m so với mực nước biển Địa hình thấp dần theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cũng là hướng dòng chảy của sông Hồng Thấp nhất là vùng đất thuộc huyện Thanh Trì có cao độ trung bình 4-5m với nhiều khu đất trũng ngập nước tự nhiên hoặc nhân tạo Do địa hình thấp hơn mặt đê nên vào mùa mưa việc thoát nước, chống ngập úng phải giải quyết bằng bơm động lực cưỡng bức

Mặt khác do Hà Nội nằm ở gần phần đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng nên theo phương Nam - Bắc - Tây Bắc bề mặt địa hình chuyển dần từ đồng bằng thấp (Thanh Trì, Từ Liêm) sang gò cao (Đông Anh), rồi đến gò đồi thực thụ (Sóc Sơn) với những đồi độc lập hoặc dải đồi có độ cao hơn 100m với các đỉnh cao như núi Mỏ 112m, núi Vành 293m, núi Chân Chim 462m, cao nhất là núi Hàm Lợn 468m ở phía giáp ranh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc

Trong phạm vi Hà Nội có một dạng địa hình nhân tạo rất độc đáo, đó là các tuyến

đê dọc hai bờ sông Hồng và sông Đuống, có độ cao tương đối 5-6m so với nền địa hình phía trong đồng Các tuyến đê này ngăn lũ sông Hồng, bảo vệ thủ đô Hà Nội, nhưng đồng thời cũng luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố môi trường, nhất là khi mực nước lũ sông lên đến cao trình 13m hay hơn nữa

Tỉnh Hải Dương

Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm ở rìa bắc của đồng bằng này nên địa hình phân hoá thành hai phần rõ rệt: đồi núi thấp và đồng bằng Phần đồi núi thấp có diện tích 140 km2, chiếm 9% diện tích tự nhiên, thuộc hai huyện Chí Linh

và Kinh Môn, độ cao địa hình dưới 1000m Đây là vùng địa hình được hình thành trên nền địa chất trầm tích Trung sinh Hướng núi chính chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

Tại địa phận bắc huyện Chí Linh có dãy núi Huyền Đính với đỉnh cao nhất là Dây Diều (618m), ngoài ra còn có Đèo Chê (533m), núi Đai (508m) Đây là nơi khởi đầu của hệ thống núi thuộc cánh cung Đông Triều sẽ được đề cập tiếp theo ở phần sau ở huyện Kinh Môn có dãy Yên Phụ chạy dài 14km, gần như song song với quốc lộ 5, với đỉnh cao nhất là Yên Phụ (246m) Vùng Côn Sơn - Kiếp Bạc tuy địa hình không cao, nhưng nổi lên một số đỉnh như Côn Sơn (gần 200m), Ngũ Nhạc (238m) Cảnh quan và thiên nhiên vùng đồi núi thấp phù hợp với việc phát triển du lịch, khai thác tài nguyên đá vôi

Vùng đồng bằng nằm ở hạ du sông Thái Bình, gồm 9 huyện và thành phố Hải Dương có diện tích 1521,2km2, chiếm 91% diện tích tự nhiên Vùng này được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa, chủ yếu của sông Thái Bình và sông Hồng Độ cao trung bình 3-4m, đất đai bằng phẳng, màu mỡ, thích hợp cho canh tác nông nghiệp

Địa hình tỉnh Hải Dương nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, theo hướng dòng chảy của sông Thái Bình Phía Đông của tỉnh có một số vùng trũng xen lẫn vùng đất cao, thường bị ảnh hưởng của thuỷ triều và úng ngập vào mùa mưa

Thành phố Hải Phòng

Hải Phòng cũng là một lãnh thổ thuộc Đồng bằng sông Hồng, nhưng là thành phố ven biển, nằm ở vùng cửa sông của hệ thống sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc Bộ: bao

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 6

Trang 12

gồm 11 quận huyện thị trên đất liền và 2 huyện đảo là Cát Hải và Bạch Long Vĩ Do

vị trí địa lý như vậy nên Hải Phòng có các kiểu địa hình đa dạng và đặc biệt

Hải Phòng có khoảng 397 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 180 km2 Nếu tính cả diện tích vùng triều ở Phù Long - Cát Bà và Cát Hải thì diện tích đảo lên tới

271 km2, chiếm 17,9% diện tích thành phố Đảo xa bờ nhất là Bạch Long Vĩ (cách bờ 136km về phía Đông Nam) Hiện nay chỉ có 5 đảo đang có dân cư sinh sống thường xuyên Có thể chia các đảo ở Hải Phòng thành 2 nhóm: nhóm đảo đá (đảo Hòn Dấu, quần đảo Long Châu, quần đảo Cát Bà, đảo Bạch Long Vĩ ) và nhóm đảo cát (các

đảo Phù Long, Cát Hải )

Dựa vào các chỉ tiêu về độ cao, độ dốc và mức độ chia cắt, có thể chia lãnh thổ Hải Phòng ra các kiểu địa hình sau đây:

- Đồi và núi thấp bị chia cắt mạnh

Địa hình đồi bị chia cắt mạnh chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên của thành phố, tập trung chủ yếu ở phía Bắc huyện Thuỷ Nguyên, quận Kiến An và thị xã Đồ Sơn Các đồi có dạng dải, với độ cao phần lớn trong khoảng 40-100m, kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

Địa hình núi thấp cũng bị chia cắt rất mạnh, tập trung ở quần đảo Cát Bà, Long Châu và phía Bắc huyện Thuỷ Nguyên Hầu hết các đỉnh có độ cao từ 100m đến 250m (cao nhất là 331m ở phần tây đảo Cát Bà) Đặc điểm nổi bật nhất là đỉnh sắc nhọn, sườn dạng răng cưa dốc đứng, lởm chởm tai mèo và có nhiều hang động tiêu biểu cho địa hình cacxtơ nhiệt đới ở vùng Đông Bắc nước ta

- Đồng bằng tương đối bằng phẳng

Địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích thành phố với độ cao trung bình 1,2m Tuy nhiên, ở mỗi nơi lại có những nét khác biệt ở Thuỷ Nguyên, phần phía Tây đồng bằng có độ cao 1,0-1,2m, trong khi đó ở phía Đông bị hạ thấp chỉ còn 0,5-1,0m ở An Hải, độ cao bình quân của đồng bằng là 1,0-1,5m, còn ở Kiến Thụy là 1,0-1,2m

0,8 Địa hình đáy biển

Đáy biển của Hải Phòng vốn là vùng đồng bằng lục địa bị biển làm ngập Căn cứ vào độ sâu, độ dốc và mức độ chia cắt, có thể chia thành các kiểu hình thái dưới đây: + Đáy bằng dạng sóng, phân bố trong phạm vi vịnh Lan Hạ và Hạ Long với độ sâu trung bình 5-10m (tối đa 39m), bị chia cắt mạnh do có nhiều đảo ngầm và rãnh ngầm

+ Đáy bằng tương đối bằng phẳng kéo thành một dải chạy song song với bờ và chiếm phần lớn diện tích đáy biển ở Hải Phòng

+ Đồng bằng ven biển hiện tại, cao 0-2m, hàng ngày chịu ảnh hưởng của biển, vì thế ngoài quá trình bồi tụ do sông còn có vai trò của thuỷ triều và sóng Do biên độ thuỷ triều lớn đến 4m, tác động của thuỷ triều rất mạnh, lượng phù sa của hệ thống sông Thái Bình ít, lại nằm trong vùng sụt lún địa chất nên đồng bằng ven biển ở đây phát triển rất chậm, tuy vẫn có những bãi triều cao và bãi triều thấp khá rộng Đó là kiểu đồng bằng ven biển cửa sông hình phễu (esturia) Đây cũng là vùng đặc trưng của kiểu địa hình bờ biển tích tụ - thuỷ triều

Trang 13

Tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất so với các tỉnh thành khác trong vùng KTTĐPB Quảng Ninh là tỉnh ven biển ở miền Đông Bắc của nước ta, có phần

đất liền rộng lớn, trong đó có 6 huyện miền núi: Hoành Bồ, Bình Liêu, Hải Hà, Đầm

Hà ,Tiên Yên và Ba Chẽ Quảng Ninh có vùng biển bao la với hàng nghìn đảo hợp thành 2 huyện đảo là Vân Đồn và Cô Tô

Khác với 3 tỉnh/thành: Hà Nội, Hải Dương và Hải Phòng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh là vùng đất có lịch sử phát triển lâu dài trên nền cấu trúc địa chất phức tạp, vì vậy Quảng Ninh có đầy đủ các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng, ven biển và cả hệ thống đảo và thềm lục địa

Diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh là 5.899km2, trong đó đồi và núi thấp là

bộ phận quan trọng nhất chiếm tới 80% diện tích, đồng bằng chỉ chiếm khỏang 18%, còn lại là diện tích đồi núi đá vôi, hải đảo

ở phía Tây Bắc là vùng đồi thấp, tiếp đến là dãy núi cao - cánh cung Đông Triều Phía Nam và Đông Nam là miền đồng bằng ven biển Ngoài khơi là hàng nghìn đảo nhỏ đá vôi hoặc sa, diệp thạch tạo thành bức bình phong chắn gió cho đất liền

Có thể chia địa hình Quảng Ninh thành các kiểu sau đây:

- Địa hình núi thấp

Vùng Đông Triều - Móng Cái (cánh cung Đông Triều) thuộc kiểu địa hình núi thấp Cánh cung Đông Triều chạy theo hướng Tây - Đông ở phía Nam và hướng Đông Bắc - Tây Nam ở phía Bắc, được coi là xương sống của lãnh thổ tỉnh Quảng Ninh Nó

có vai trò quan trọng trong việc hình thành các yếu tố tự nhiên ở hai sườn Bắc - Nam Cánh cung Đông Triều gồm hai dải núi chính, phía Nam là dải núi Nam Mẫu, phía Bắc là dải núi Bình Liêu Giữa hai phần trên là bộ phận núi đồi thấp với những con sông cắt qua, đó là vùng đồi Tiên Yên- Ba Chẽ

Phía Nam của cánh cung Đông Triều, chạy từ Đông Triều đến thị xã Cẩm Phả theo hướng Tây - Đông, có độ cao không quá 1000m, trừ đỉnh Yên Tử có độ cao 1064m, đỉnh Am Váp 1094m và núi Thiên Sơn ( Hoành Bồ ) 1019m Dải đồi thấp Nam Đông Triều - Mông Dương có độ cao từ 200 đến 400m là miền sụt võng trước núi vào đại Trung sinh Đó là bể than antraxit lớn nhất của nước ta Phần phía Bắc của cánh cung Đông Triều có nhiều núi cao trên 1000m nằm rải rác, không tạo thành một

hệ núi ở Bình Liêu có núi Cao Xiêm 1375m, Đầm Hà có Cao Đông Châu 1089m, Hải Hà có Nam Châu Lãnh 1506m Địa hình ở đây bị phân cắt mạnh, sườn dốc, thung lũng hẹp và sâu

Địa hình đồng bằng của tỉnh Quảng Ninh chiếm diện tích nhỏ, bao gồm một dải hẹp ven biển từ Móng Cái đến Tiên Yên và vùng phía Nam Đông Triều, Uông Bí, Yên Hưng Đây là những đồng bằng nhỏ hẹp được bồi đắp bởi phù sa của các sông suối

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 8

Trang 14

trong tỉnh và hệ thống sông Thái Bình Riêng đồng bằng ở Yên Hưng và Đông Triều

do được bồi đắp của một phần phù sa sông Thái Bình là những đồng bằng khá lớn Tiếp nối phần đồng bằng ra biển là các bãi triều có rừng ngập mặn với diện tích rộng Biển và địa hình bờ biển là dạng địa hình đặc trưng và quan trọng của tỉnh Quảng Ninh Vùng biển Quảng Ninh rộng tới 6000km2 là phần phía Tây Bắc của vịnh Bắc

Bộ Đây là một vịnh nông với nhiều đảo và quần đảo chắn phía ngoài nên rất kín gió

và lặng sóng Vịnh biển ở đây rất nông, không nơi nào sâu quá 20 m, vật liệu nền gồm cát, bùn, sét, nhiều nơi có đá ngầm Trên mặt vịnh có rất nhiều đảo, đây là vùng biển

có nhiều đảo nhất Việt Nam - tới trên 3000 đảo lớn nhỏ Những đảo lớn nhất là Cái Bầu, Cái Chiên, Vĩnh Thực, Ngọc Vừng, Cô Tô, Vạn Vược Các núi đá trên các đảo

có độ cao trung bình từ 150 đến 200 m Đỉnh cao nhất là núi Nàng Tiên cao 470 m trên đảo Cái Bầu Ngoài các đảo lớn, còn có hàng nghìn đảo nhỏ xếp thành hai dãy nối đuôi nhau từ núi Ngọc đến Nam Hạ Long Đó là vùng núi đất và núi đá vôi cổ bị ngập nước biển Đây là vùng cacxtơ sót điển hình có các vách đá dốc đứng, sắc nhọn, nhiều hang động

Đường bờ biển của Quảng Ninh dài 250 km, bị chia cắt mạnh bởi đồi núi ăn ra sát biển và bởi các vịnh đảo, cửa sông Đoạn bờ biển từ Móng Cái đến Cửa Ông tương đối bằng phẳng, được bồi tụ - mài mòn, tạo nên các bãi triều rộng, sú, vẹt mọc trên diện tích lớn đứng hàng thứ hai của cả nước (sau Cà Mau) Riêng bờ biển Trà Cổ sóng mạnh, tạo nên bãi cát bằng phẳng, kéo dài trên 15 km, là bãi biển vào loại đẹp ở miền Bắc Việt Nam Đoạn bờ biển từ Cửa Ông đến Yên Lập có một vài con sông nhỏ, đồi núi ra sát biển, bờ biển dựng đứng, nhiều hốc mòn ở chân núi đá vôi, có nhiều cảng tốt Đoạn từ Yên Lập đến cửa Nam Triệu, đồi núi thấp, các bãi triều rộng nhưng thấp,

bị ngập khi triều lên, muốn khai thác để canh tác phải quai đê lấn biển

Nhìn chung vùng KTTĐPB có các kiểu địa hình chính: Núi thấp, đồi, đồng bằng,

bờ và đáy biển, hải đảo, trong đó lãnh thổ Quảng Ninh chủ yếu là địa hình đồi núi Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng chủ yếu là địa hình đồng bằng Hải đảo là kiểu địa hình

độc đáo nhất của vùng

Địa hình đồi núi là chủ yếu đã làm cho Quảng Ninh có diện tích đất nông nghiệp rất ít, chỉ chiếm 10,1%, thấp nhất so với các tỉnh khác trong vùng KTTĐPB Chất lượng đất xấu, điều kiện tưới tiêu không thuận lợi, kết quả năng suất cây trồng thấp Ngược lại, diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh này rất lớn so với các tỉnh khác trong vùng và chiếm 40%, theo nguồn gốc phát sinh thì rừng của Quảng Ninh rất tốt, song hiện nay độ che phủ rừng tự nhiên ở Quảng Ninh chỉ đạt 27,8% diện tích tự nhiên (Niên giám thống kê 2002) Năm 1995 diện tích rừng tự nhiên ở Quảng Ninh là 150.000 ha, độ che phủ rừng là 25% Từ đó có thể thấy rằng trong thời gian qua do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu do tác động của con người, diện tích rừng tự nhiên đã giảm đi đáng kể và đây là một trong những biến động tài nguyên lớn nhất ở Quảng Ninh

Thiên nhiên đã ban tặng cho Quảng Ninh một kiểu địa hình độc đáo đó là địa hình cacxtơ trên biển với nhiều hang động đẹp, điển hình là trên các đảo trong vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long Cùng với quần đảo Cát Bà của Hải Phòng, các cụm đảo của Quảng Ninh là những tài nguyên du lịch vô cùng quý giá, đồng thời cũng là nơi

có thể xây dựng các khu bảo tồn biển có giá trị

Trang 15

1.2 diễn biến đặc điểm Khí hậu - thuỷ văn vùng KTTĐPB

Đặc điểm khí hậu của vùng:

Vùng trọng điểm phát triển kinh tế xã hội phía Bắc có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm nhiều mưa, mùa đông lạnh và khô, toàn vùng nằm trong hạ lưu 2 hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình

Chế độ khí hậu vùng KTTĐPB chịu ảnh hưởng sâu sắc của Biển Đông mà trực tiếp là ảnh hưởng của Vịnh Bắc Bộ (với diện tích khoảng 150.000 km2), thể hiện ở 3 lĩnh vực chủ yếu là giảm nóng mùa hè, giảm lạnh mùa đông, tạo ra các dạng thời tiết khí hậu đặc sắc như sương mù và thời tiết ẩm ướt và ấm trong mùa đông lạnh khô, tạo

ra một chế độ mưa phong phú quanh năm

1.2.1 Cường độ trực xạ và cân bằng bức xạ mặt trời ở Hà Nội:

Bảng 1.1: Cường độ trực xạ trung bình (calo/cm2.phút) ở Hà Nội

Bảng 1.2 : Cân bằng bức xạ trung bình (calo/cm2.phút) ở Hà Nội

Tháng

9h30 0,20 0,29 0,48 0,45 0,27 12h30 0,37 0,45 0,70 0,54 0,41 15h30 0,17 0,24 0,38 0,24 0,16 18h30 -0,03 -0,03 -0.02 -0,04 -0,04 Cân bằng bức xạ trung bình năm ở Hà Nội có giá trị âm khi mặt trời sắp lặn, đạt cực tiểu khi mặt trời mọc, sau đó chuyển sang giá trị dương và đạt cực đại vào giữa trưa, nhìn chung cân bằng bức xạ ở Hà Nội buổi sáng lớn hơn buổi chiều (bảng 1.2) Bức xạ tổng cộng và cân bằng bức xạ trung bình năm ở Hà Nội có giá trị tương ứng vào khoảng 100 và 40-70 kcal/cm2, tương đối cao vào mùa hè (nhưng không vượt quá 120 kcal/cm2) và thấp vào mùa đông

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 10

Trang 16

1.2.2 Khí áp:

Bảng 1.3 : Khí áp cao nhất và thấp nhất đã ghi được

Địa phương Độ cao

(m) Giá trị mb Ngày Giá trị mb Ngày

Hải Phòng 113 1020,9 21/1/1983 950,6 21/7/1977 Quảng Ninh 87 1029,4 21/1/1983 966,7 3/7/1964

Khí áp ở vùng có giá trị thấp vào mùa hè, cao hơn vào mùa đông, chênh lệch trung bình giữa hai mùa khoảng từ 14 đến 17 mb Những giá trị khí áp cao nhất và thấp nhất

đã ghi được (bảng 1.3) là kết quả ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc và bão mạnh

1.2.3 Tốc độ gió:

Bảng 1.4: Tốc độ gió trung bình (m/s) tháng và năm

Địa phương I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Hà Nội 2,1 2,3 2,2 2,4 2,4 2,0 2,0 1,7 1,7 1,8 1,8 1,9 2,0 Hải Dương 2,4 2,5 2,3 2,3 2,5 2,4 2,5 2,0 2,0 2,2 2,3 2,2 2,3 Hải Phòng 3,1 3,1 3,2 3,5 3,8 3,5 3,5 3,0 3,2 3,5 3,4 3,2 3,6 Quảng Ninh 2,7 2,3 2,0 2,2 2,8 2,8 3,0 2,7 3,0 3,3 3.1 2,9 2,7

Tốc độ gió trung bình tương đối đồng đều giữa các tháng trong năm và giữa các

địa phương trong vùng và có giá trị từ 2,0 đến 3.6 m/s (bảng 1.4), thấp nhất ở Hà Nội -

địa phương nằm sâu nhất trong đất liền, cao nhất ở Hải Phòng do trạm quan trắc đặt trên đỉnh đồi Phủ Liễn cao 113 m

1.2.4 Lượng mây phủ

Vùng có nhiều mây quanh năm, trong đó chủ yếu là mây tầng thấp trung bình chiếm 79% (bảng 1.5)

Bảng 1.5: Lượng mây dưới (số phía trên mỗi ô) và lượng mây tổng quan

(số phía dưới mỗi ô) trung bình tháng và năm

8,8 9,1

7,5 8,5

5,4 7,5

4,7 8,1

4,1 7,7

4,3 7,9

4,2 6,7

4,7 6,3

5,3 6,4

6,0 6,6

6,0 7,6 Hải Phòng 7,6

7,9

8,8 9,1

8,9 9,3

7,9 8,8

5,9 7,8

5,2 8,5

4,5 8,1

4,7 8,3

4,4 7,1

4,7 6,4

5,1 6,1

5,8 6,4

6,1 7,8

Quảng Ninh 7,4

7,7

8,7 8,9

8,8 9,1

7,9 8,7

5,8 7,7

5,2 8,4

4,7 8,0

4,9 8,3

4,4 7,0

4,6 6,1

5,0 6,2

6,0 6,3 6,1 7,7

Trang 17

1.2.5 Một số hiện tượng thời tiết nguy hiểm

• Dông :

Dông là một trong những hiện tượng thời tiết nguy hiểm bởi nó thường đi kèm với những hiện tượng thời tiết khốc liệt khác như tố, lốc, mưa đá, vòi rồng, số ngày có dông tại trạm ở vùng trung bình hàng năm từ 36 đến 53 ngày, phía Tây sâu trong đất liền có dông nhiều hơn vùng ven biển (bảng 1.7)

Bảng 1.7: Số ngày có dông tại trạm trung bình tháng và năm

Địa phương

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Hà Nội 0,2 0,6 1,6 5,9 9,0 8,8 9,8 8,8 5,4 1,9 0,4 0 52,4Hải Dương 0,2 0,7 1,6 5,1 7,4 9,3 8,6 10,2 6,7 2,8 0,4 0 53,0Hải Phòng 0,1 0,4 1,1 3,5 5,1 6,2 5,5 7,3 4,5 1,8 0,1 0 35,6Quảng Ninh 0,2 0,4 1,2 3,8 5,1 7,1 6,5 9,6 5,3 1,6 0,1 0,1 41,0

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 12

Trang 18

1.2.6 Mưa :

Vùng có nhiều mưa, mưa tập trung chủ yếu trong 5 tháng mùa hè, lượng mưa mùa

hè nhìn chung chiếm 75 đến 80% tổng lượng mưa năm, tháng 8 là tháng nhiều mưa nhất (bảng 1.8)

Bảng 1.8: Lượng mưa (mm) trung bình tháng và năm

Hà Nội 19 27 46 88 191 240 286 314 258 135 52 18 1674Hải Dương 20 26 43 94 198 226 236 286 217 140 47 19 1552Hải Phòng 25 35 49 90 205 238 270 341 292 166 52 30 1793Quảng Ninh 28 33 48 99 201 292 371 520 349 175 69 23 2209

1.2.7 Nhiệt độ:

Trung bình tháng của các yếu tố nhiệt độ không khí (nhiệt độ trung bình, trung bình thấp nhất, trung bình cao nhất) đạt giá trị cực tiểu vào tháng 1, cực đại vào tháng 7

• Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng và năm :

Bảng 1.9: Nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng và năm

Trang 19

• Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng và năm (bảng 1.11):

Bảng 1.11: Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng và năm

1.3 Đặc điểm Thuỷ Văn, Hải văn của vùng

1.3.1 Sơ lược địa lý sông : Vùng trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội phía Bắc có

hai hệ thống sông là sông Hồng và sông Thái Bình

+ Sông Hồng : Có chiều dài 1126 Km (tính từ thượng nguồn sông Thao), diện tích

lưu vực 143.000 Km2, khoảng 1/2 độ dài và trên 1/2 diện tích lưu vực sông thuộc địa phận nước ta Sông Hồng là hợp lưu bởi 3 sông là sông Đà, sông Lô và sông Thao tại Việt Trì Lượng dòng chảy năm của sông Hồng vào khoảng 112.109m3 (gần 2/3 số đó

được tập trung từ lưu vực nội địa), ứng với lưu lượng trung bình năm là 3560 m3/s, trong đó phần do sông Đà đóng góp là 53,4.109m3 (chiếm 48%), do sông Lô đóng góp

là 32,6.109m3 (chiếm 30%), do sông Thao đóng góp là 24,3 109m3 (chiếm 22%) Đến

Hà Nội sông Hồng phân lưu theo sông Đuống, đưa khoảng 28 đến 30% lưu lượng nước sang sông Thái Bình, sau đó sông Hồng tiếp tục phân lưu thành nhiều nhánh ở hạ lưu, đưa nước ra Biển Đông qua các cửa Ba Lạt, cửa Trà Lý, cửa Đáy và cửa Lạch Giang

+ Sông Thái Bình : Hệ thống sông Thái Bình đi qua địa phận tỉnh Hải Dương và

thành phố Hải Phòng thuộc vùng KTTĐPB, là hợp lưu của 3 sông là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam, diện tích lưu vực sông tính đến Phả Lại là 12.680 km2 Lượng dòng chảy trung bình năm do nước tập trung từ các lưu vực của bản thân từ 4,1

đến 4,8.109m3/năm, và do nước sông Hồng chuyển sang qua sông Đuống là 27,8.109 m3, như vậy sông Thái Bình hàng năm đổ ra Biển Đông tổng cộng khoảng trên 31.109m3 nước qua các cửa Nam Triệu, cửa Cấm, cửa Văn úc và cửa Thái Bình, trong đó gần 90% là nước của sông Hồng

1.3.2 Một số đặc trưng thuỷ văn hai hệ thống sông :

Các số liệu cực trị và trung bình: Mực nước trung bình trên sông Hồng tại Hà Nội

trong mùa lũ là 728 cm, trong mùa cạn là 344 cm Mực nước trung bình đỉnh lũ trên sông Thái Bình tại Phả Lại Hà Nội là 535 cm, trong mùa cạn là 92 cm (bảng 1.12)

Bảng 1.12: Mực nước thấp nhất tuyệt đối (Hm- năm xảy ra), cao nhất tuyệt đối (Hx - năm xảy ra) và mực nước trung bình (H) theo tháng, mùa và năm

Trang 20

• Đặc điểm chế độ thuỷ văn của 2 hệ thống sông :

a Chế độ dòng chảy năm của 2 hệ thống sông có hai mùa rõ rệt:

+ Mùa lũ của cả 2 hệ thống sông thường kéo dài 5 tháng, từ tháng VI đến tháng X, dòng chảy mùa lũ chiếm 70 đến 75% dòng chảy năm

Trên sông Hồng, mực nước và lưu lượng nước lớn nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng VIII, thấp nhất vào tháng III Lưu lượng nước trung bình trong mùa lũ lớn gần gấp 4 lần mùa cạn Biên độ lũ (chênh lệch giữa mực nước cao nhất và thấp nhất trong một đợt lũ) trung bình từ 3 đến 5 mét, có khi vượt quá 10 mét ( biên độ lũ năm 1971 trên sông Hồng tại Hà Nội là 11,78 m)

Số trận lũ có mực nước đỉnh lũ vượt mức báo động III (Hà Nội từ 11,5 m trở lên) trung bình là 0,48 trận/năm

Số trận lũ có mực nước đỉnh lũ vượt mức nguy hiểm (vượt mức 13,0 m trở lên -

đây là mức nước cao cực kỳ nguy hiểm vì hệ thống đê sông Hồng được thiết kế bảo

đảm an toàn đến mức nước 13,3 m) trung bình là 0,05 trận/năm, nửa thế kỷ qua chỉ có

3 năm xảy ra mực nước đỉnh lũ sông Hồng tại Hà Nội vượt quá 13 m là các năm 1969,

1971 và 1996, riêng năm 1971 mực nước thực đo đạt đến 14,13 m (nếu không xảy ra

vỡ đê Cống Thôn mực nước thực đo chắc còn cao hơn nữa)

Trên sông Thái Bình, biên độ lũ tại Phả Lại trong trận lũ lớn năm 1971 là 7,09 m, mực nước lớn nhất tại Phả Lại vượt quá 6 mét có tần suất rất thấp, trong vòng 40 năm lại đây chỉ xuất hiện 2 lần, vào các năm 1971 (6,12 m) và 2001 (6,10 m)

+ Mùa cạn kéo dài 7 tháng, từ tháng XI năm trước đến tháng IV năm sau, tình trạng cạn kiệt nhất thường xảy ra vào tháng III, dòng chảy tháng này của cả 2 hệ thống sông không bao giờ vượt quá 3% dòng chảy năm

b Chế độ thuỷ văn của hai hệ thống sông chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuỷ triều vùng biển Vịnh Bắc Bộ ( Vịnh có chế độ nhật triều đều - mỗi ngày một lần nước lên, đỉnh triều - và một lần nước xuống, chân triều), biên độ triều vào loại lớn nhất so với các vùng biển khác của Việt Nam, trong thời kỳ triều cường, có thể đạt tới

3 - 4 mét ảnh hưởng của thuỷ triều đối với chế độ thuỷ văn vùng hạ lưu sông thể hiện

rõ đối với một số yếu tố thuỷ văn:

+ Trong mùa lũ, khi triều cao, nên mực nước vùng cửa sông cao làm dồn ứ nước

do đó khả năng tiêu thoát nước lũ trong sông giảm, mực nước sông cao kéo dài, ngược

Trang 21

lại khi triều thấp, mực nước vùng cửa sông thấp, dòng chảy và lưu lượng sông tăng, khả năng tiêu thoát lũ nhanh, nước lũ rút nhanh

+ Trong mùa cạn, mực nước sông vùng hạ lưu lên xuống theo thuỷ triều, tuy mức

độ dao động càng lên thượng lưu sông càng giảm nhưng trên sông Hồng có thể đến

Hà Nội, trên sông Thái Bình vượt quá Phả Lại về phía thượng lưu Khi triều cao, thường xuyên xuất hiện dòng chảy ngược, dẫn nước mặn xâm nhập sâu về phía thượng lưu sông đến 20 - 30 km kể từ cửa sông

c Chế độ thuỷ văn hai hệ thống sông có tác động qua lại Sông Đuống nối sông Hồng với sông Thái Bình, hàng năm sông Đuống đưa khoảng 27,8.109 m3 nước sông Hồng sang sông Thái Bình, lượng nước này lớn gấp nhiều lần lượng nước tập trung

được từ chính các lưu vực của bản thân sông Thái Bình, vì vậy sông Thái Bình có vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát lũ cho sông Hồng, chế độ lũ sông Thái Bình có quan hệ chặt chẽ với chế độ lũ của sông Hồng Tuy nhiên mối quan hệ đó chỉ thể hiện

rõ khi mực nước của cả hai hệ thống sông ở mức cao, đặc biệt khi trên hai hệ thống sông đồng thời có lũ Thành phần lũ thượng lưu sông Thái Bình tham gia tạo đỉnh lũ tại Phả Lại trung bình chỉ chiếm 29,5% trong khi lũ sông Hồng qua sông Đuống tham gia tạo lũ trên sông Thái Bình chiếm đến 70,5%

d Khả năng điều tiết chế độ thuỷ văn hai hệ thống sông ngày một cao: Từ năm

1990, hồ Hoà Bình được đưa vào vận hành, có ảnh hưởng nhất định đến chế độ thuỷ văn sông Hồng và sông Thái Bình:

+ Hạ thấp đỉnh lũ trong mùa lũ: trên sông Hồng tại Hà Nội và sông Thái Bình tại Phả Lại trung bình được từ 10 đến 30 cm, có khi được từ 0,7 đến 1 m

+ Nâng cao lưu lượng và mực nước sông trong mùa cạn Lưu lượng nước trên sông Hồng tại Hà Nội, vào tháng cạn nhất nâng lên gần 2 lần , mực nước tăng 40 đến 70

cm, trên sông Thái Bình tại Phả Lại tăng khoảng 15 đến 30 cm

+ Khả năng điều tiết chế độ thuỷ văn của hai hệ thống sông sẽ tiếp tục được tăng cường khi các hồ chứa nước mới được tiếp tục xây dựng và vận hành (hồ Tuyên Quang trên sông Gâm, hồ Sơn La trên sông Đà)

1.3.3 Đặc điểm hải văn vùng ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng :

• Mực nước biển thấp nhất :

Bảng 1.13: Mực nước biển thấp nhất (cm) theo tháng và năm

(ngày/tháng/ năm xảy ra)

Tháng Trạm

Đảo

Cô Tô

2 10/70

6 5/56

12 4/66

6 27/85

3 7/69

0 14/68

8 10/68

7 25/69

18 12/70

18 25/80

12 17/85

2 12/69

0 14/6/68

Hồng Gai 6

9/66

0 5/66

16 5/67

9 9/69

19 25/70

2 13/68

8 2/69

16 8/68

14 22/84

34 27/68

21 24/68

7 22/68

0 5/2/66

Đảo

Hòn Dấu

-6 18/65

9 15/65 14/65

12 11/85

2 7 7/65

-3 13/64

7 12/64

6 8/64

17 15/60

26 27/68

2 23/64

-7 21/64

-7 21/12/64

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 16

Trang 22

Bảng 1.13 cho thấy mực nước biển thấp nhất vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng

nhìn chung dao động quanh mực nước biển tiêu chuẩn (0)

• Mực nước biển trung bình:

Mực nước biển trung bình vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng dao động quanh

mực 2m, vùng biển Quảng Ninh cao hơn vùng biển Hải Phòng khoảng 20cm (bảng 1.14)

Bảng 1.14: Mực nước biển trung bình (cm) theo tháng và năm

Tháng Trạm

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Bảng 1.15: Độ cao sóng lớn nhất (cm) theo tháng (ngày/năm xảy ra)

và theo năm (ngày/tháng/năm xảy ra)

Tháng Trạm

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

250 3/65

29026/61

38030/71

41012/61

55012/62

61021/64

38022/64

440 2/64

380 25/69

300 8/69

610 21/8/64

75 NN

10026/73

2503/64

15011/62

1257/73

125

NN

100 8/81

100 13/75

250 3/7/64

230 28024/58

3504/59

40019/75

5603/64

50013/68

56020/75

240 13/60

210 1/59

210 1/63

560 20/9/75

Dưới áp lực chung của thay đổi khí hậu toàn cầu và ở Việt Nam, vùng KTTĐPB

còn chịu thêm áp lực do chính mình tạo ra, đó là những quá trình đô thị hoá, phát triển

công nghiệp, dịch vụ … kèm theo chúng là sự thay đổi mục tiêu sử dụng đất, phá huỷ

cảnh quan môi trường, tăng nhanh lượng các loại chất thải… do đó vùng này chịu áp

lực của thay đổi khí hậu và môi trường cao hơn các vùng khác

a Các sự kiện tiềm ẩn nguy cơ thiên tai :

Việt Nam phải thường xuyên đối mặt với các thiên tai chính là : bão, lũ lụt, hạn,

sụt lở đất và cháy rừng, các thiên tai lũ lụt và bão ở cấp độ mạnh, các thiên tai khác ở

Trang 23

cấp độ yếu Như vậy, các thiên tai chính ở Việt Nam có quan hệ với các điều kiện khí tượng thuỷ văn và việc đánh giá chúng ở Việt Nam nói chung và ở 2 vùng trọng điểm phát triển kinh tế xã hội nói riêng chủ yếu là đánh giá tình trạng và khả năng xảy ra những biến động bất thường của các điều kiện khí tượng thuỷ văn cụ thể sau đây:

1 Biến động bất thường ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới (B&ATNĐ), thể hiện ở 4 yếu tố :

- Số lượng B&ATNĐ ảnh hưởng hàng năm

- Gió mạnh trong bão

- Mưa lớn gây lũ lụt và ngập úng

- Mực nước biển dâng trong bão

2 Lũ lớn bất thường trong sông

3 ít mưa kéo dài, dòng sông cạn kiệt (hạn thuỷ văn)

4 Sự tăng bất thường các hiện tượng thời tiết thuỷ văn khốc liệt (lũ quét, mưa đá,

1 Diễn biến của yếu tố trên vùng trong thời gian dài

2 Hiện trạng yếu tố trên vùng trong vài năm gần đây

3 Cảnh báo, dự báo xu thế của yếu tố trong thời gian tới, thu thập một số mô hình

Bảng 1.16: Số lượng B&ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến vùng KTTĐPB trung bình

tháng và năm (nguồn: [19, 22])

Tháng, năm Năm

Trang 24

• Số lượng B&ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp trong mấy năm gần đây:

Bảng 1.17 cho thấy, số lượng B&ATNĐ đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến vùng trọng điểm phát triển kinh tế xã hội phía bắc trung bình trong mấy năm gần đây (1995-2002) là 0,6 cơn/năm, dưới mức trung bình (1,15 cơn/năm), thậm chí 3 năm liền (1998, 1999, 2000) không có B&ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp

Bảng 1.17: Số lượng B&ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến vùng KTTĐPB trong mấy

năm gần đây

Tháng, năm Năm

b Gió mạnh trong bão ở vùng KTTĐPB

• Tình hình gió mạnh do bão đã xảy ra:

Bảng 1.18 trình bày tỷ xuất các cơn B&ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến vùng trọng

điểm phát triển kinh tế xã hội phía Bắc theo cấp gió mạnh nhất của chúng

Bảng 1.18: Tỷ xuất các cơn B&ATNĐ đổ bộ vào vùng thời kỳ 1955-1994 theo cấp

gió mạnh nhất (nguồn: [12])

Cấp gió <,= Cấp 7

(Dưới 62 km/giờ)

Cấp 8-9 (62-88 km/giờ)

Cấp 10-11 (88-102 km/giờ)

>,= cấp 12 Trên 118 km/giờ)

Theo quy ước quốc tế, những xoáy thuận nhiệt đới có tốc độ gió mạnh nhất bằng hoặc dưới cấp 7 là áp thấp nhiệt đới, từ cấp 8 đến cấp 11 là bão, từ cấp 12 trở lên là bão mạnh, như vậy khoảng 65% số B&ATNĐ đổ bộ vào bờ biển Hải Phòng-Quảng Ninh là bão, trong đó 13% là bão mạnh

Trang 25

Bảng 1.19 cho thấy, trong mấy chục năm qua, các địa phương thuộc vùng KTTĐPB đều đã từng chịu ảnh hưởng trực tiếp của những cơn bão mạnh, tốc độ gió

đều trên cấp 13, kể cả Hà Nội nằm sâu trong đất liền

Trạm Khí tượng Phủ Liễn (Hải Phòng) có độ cao 113 m, vì vậy số đo tốc độ gió mạnh ở trạm này nhìn chung lớn hơn tốc độ gió thực ở độ cao 10 m dưới chân đồi 1-2 cấp

Bảng 1.19: Những tốc độ gió mạnh trong bão đã quan trắc được ở vùng KTTĐPB

(nguồn: [12, 15, 22])

Hà Nội 34 m/gy (cấp 12)

31 m/gy (cấp 11)

Vera vào Hải Phòng ngày 8/7/1956 Carmen vào Quảng Ninh ngày 17/8/1963 Hải Dương >40 m/gy (>cấp 13)

38 m/gy (cấp 13)

Joe vào Hải Phòng ngày 23/7/1980 Wendy vào Hải Phòng ngày 9/9/1968 Hải Phòng(1) 51 m/gy (cấp 16)

>50 m/gy (>cấp 16)

44 m/gy (cấp 14)

Sarah vào Hải Phòng ngày 21/7/1977 Wendy vào Hải Phòng ngày 9/9/1968 Warren vào Quảng Ninh ngày 20/8/1981 Quảng Ninh 45 m/gy (cấp 14)

>40 m/gy (>cấp 13)

40 m/gy (cấp 13)

Winnie vào Quảng Ninh ngày 3/7/1964 Wendy vào Quảng Ninh ngày 9/9/1968 Carmen vào Quảng Ninh ngày 17/8/1963

• Tình hình gió mạnh do bão trong mấy năm gần đây :

Mấy năm gần đây (1995-2002), ảnh hưởng của B&ATNĐ đến vùng KTTĐPB chẳng những ít về số lượng mà cường độ bão cũng không mạnh, chỉ có 2 cơn bão số IV/1996 và số II/1997 có tốc độ gió mạnh nhất đo được ở Hải Phòng 30 m/s, giật 33-

34 m/s, tương ứng gió cấp 11, giật cấp 12

• Đánh giá chu kỳ gió mạnh do bão ở các tốc độ khác nhau (bảng 1.18)

Bảng 1.20: Tốc độ gió mạnh nhất có thể xảy ra theo chu kỳ (số năm)

Bảng 1.20 cho thấy chu kỳ xảy ra gió mạnh 34 m/s ở Hà Nội, 49 m/gy ở Hải Phòng và 41m/gy ở Quảng Ninh là 50 năm

c Mưa lớn do bão và các nguyên nhân khác ở vùng KTTĐPB

Tổng lượng mưa do bão nhìn chung chiếm từ 30 đến 40% tổng lượng mưa năm, mưa bão có cường độ mạnh đồng thời xảy ra trên phạm vi rộng, thường kéo dài 2-4

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 20

Trang 26

ngày, tập trung trong 1-2 ngày, với tổng lượng mưa 200-400 mm, có khi tới 500-600

mm là nguyên nhân gây ngập úng kéo dài trong nội đồng, nguy cơ ngập úng đặc biệt nguy hiểm khi có 2 cơn bão đổ bộ vào cùng một vùng trong khoảng thời gian dưới 10 ngày

• Một số đặc điểm chế độ mưa:

+ Lượng mưa trung bình các tháng mùa mưa:

Vùng KTTĐPB có chế độ mưa phong phú, tập trung trong những tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 9), tháng VIII là tháng nhiều mưa nhất, lượng mưa trong mùa mưa trung bình chiếm từ 75 đến 82% tổng lượng mưa cả năm (bảng 1.21)

Bảng 1.21 : Lượng mưa (mm) trung bình tháng trong mùa mưa

Tháng

Địa

Mùa mưa

Tỷ lệ mưa mùa mưa/năm

đến 7 cm bao phủ toàn vùng, lượng nước này dồn xuống những vùng có địa hình thấp,

sẽ gây ngập úng sâu ở những vùng này

Bảng 1.22: Lượng mưa TB ngày (mm/ngày) những ngày có mưa trong mùa mưa

Tháng

Địa

Mùa mưa

Bảng 1.23 cho thấy, những trận mưa cường độ mạnh với lượng mưa vượt quá

100 mm/24 giờ có thể xảy ra ở mọi địa phương trong vùng với số ngày trung bình hàng năm từ 1,2 đến 3,2 ngày/năm, các địa phương ven biển (Quảng Ninh, Hải Phòng) nhiều hơn địa phương sâu trong đất liền (Hà Nội)

Trang 27

Bảng 1.23: Số ngày mưa trung bình với lượng mưa lớn hơn 100 mm/24 giờ

Bảng 1.24 Những ngày có mưa với cường độ đặc biệt lớn đã xảy ra ở vùng KTTĐPB

Hà Nội 569 mm/ngày (xx/7/1902)

395 mm/ngày (10/11/1984) Hải Dương 288 mm/ngày (24/7/1980)

270 mm/ngày (15/10/1940) Bão Joe vào Hải Phòng Hải Phòng 491 mm/ngày (22/9/1927)

Nguồn: [12, 18, 22]

Bảng 1.24 trình bày những ngày mưa với cường độ lớn đã ghi được ở vùng KTTĐPB, qua đó cho thấy, cường độ mưa ngày lớn nhất có thể lớn gấp mấy chục lần cường độ mưa trung bình, thời gian mưa có thể kéo dài mấy ngày hoặc hơn nữa, nhất

là khi có ảnh hưởng của B&ATNĐ Cường độ mưa mạnh, thời gian mưa kéo dài, diện mưa rộng, nước không tiêu thoát kịp, dồn xuống những vùng trũng, tình trạng ngập úng kéo dài ở đó chắc chắn sẽ xảy ra

+ Lượng mưa các thời đoạn có mưa liên tục:

Bảng 1.25 cho thấy, cường độ mưa mạnh nhất trong các thời đoạn có mưa liên tục tương đối đồng đều đối với các địa phương thuộc vùng, tuy nhiên nhìn chung các địa phương ven biển mạnh hơn các địa phương nằm sâu trong đất liền

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 22

Trang 28

Bảng 1.25 Lượng mưa (mm) lớn nhất tuyệt đối và năm xảy ra trong các thời đoạn

mưa xảy ra liên tục (phút)

Lượng mưa lớn nhất trong các thời đoạn mưa liên tục

• Tình hình mưa ở vùng KTTĐPB trong mấy năm gần đây

Bảng 1.26 cho thấy, tổng lượng mưa mùa trung bình thời kỳ 1995-2002 ở các địa phương thuộc vùng trọng điểm phát triển kinh tế xã hội phía bắc đều dưới trung bình, lượng mưa mỗi mùa mưa trung bình thiếu hụt từ 100 đến 150 mm, tuy nhiên trong những thời đoạn ngắn hơn và ở những địa phương cụ thể mưa nhiều vẫn xảy ra, trong

đó đáng kể là:

+ Những tháng mưa nhiều trong thời đoạn 1995-2002:

* ở Hải Phòng và Quảng Ninh, tháng 8/95 đã có mưa lớn, tổng lượng mưa tháng

là 671 và 1123 mm, lớn gấp trên 2 lần trung bình nhiều năm

* ở Quảng Ninh, tháng 7/97 đã có mưa lớn, tổng lượng mưa tháng đạt 721 mm lớn gần gấp 2,5 lần trung bình nhiều năm

* ở Hà Nội, tháng 6/98 đã có mưa lớn, tổng lượng mưa tháng đạt 614 mm, lớn gấp 2,6 lần trung bình nhiều năm

Bảng 1.26: Chuẩn sai tổng lượng mưa các tháng mùa mưa trong mấy năm gần đây

Tháng Năm Địa phương

Trang 29

+ Những ngày mưa đặc biệt lớn trong thời đoạn 1995-2002:

* Ngày 14 tháng 9 năm 1998 ở Hải Phòng mưa 140 mm, gần bằng lượng mưa trung bình tháng 9

* Ngày 15 tháng 9 ở Tiên Yên mưa 387 mm, ở Cửa Ông mưa 269 mm bằng 2/3 lượng mưa trung bình tháng 9

d Nước dâng trong bão

• Chế độ mực nước biển vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng :

Khi không có bão, mực nước biển thực tế là mực thuỷ triều Khi có bão, mực nước biển thực tế là mực thuỷ triều cộng với mực nước dâng trong baõ, gió mạnh, sóng cao trên nền mực nước biển cao sẽ là thảm hoạ cho những vùng bão đổ bộ vào thời kỳ triều cường (thời kỳ thuỷ triều cao nhất) Gió mạnh, sóng lớn trên nền mực nước biển cao, sóng biển xô vào bờ, phá vỡ hoặc vượt qua đê biển tràn sâu vào đất liền, sóng tràn đến đâu quét sạch mọi sự sống và những công trình do con người đã tạo dựng đến

đấy, thảm hoạ còn để lại hậu quả lâu dài bởi tình trạng ruộng đất bị nhiễm mặn

ở vùng đã ghi được giá trị nước dâng cực đại khi có bão là 1,00 m tại Hòn Dấu ngày 28/7/1986, 1,6 m tại Cửa Ông ngày 17/8/1963 và 2,24 m tại Đồ Sơn Hải Phòng + Mực nước biển cao nhất:

Bảng 1.27: Mực nước biển cao nhất (cm) theo tháng và năm (ngày, tháng, năm đã

quan trắc được)

Tháng Trạm

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

394 4/66

397 18/68

424 25/66

442 3/65

433 2/69

421 17/63

410 22/65

430 17/73

459 25/72

454 23/68

459 25/11/72 Hồng Gai 427

10/69

410 5/66

388 15/69

381 18/72

423 26/66

431 7/85

429 1/69

415 17/63

408 5/68

423 12/71

430 23/68

470 26/84

470 26/12/84

351 15/69

343 18/72

385 26/86

390 21/85

389 18/71

383 26/73

370 6/84

421 22/85

400 25/72

400 23/68

421 22/10/85

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 24

Trang 30

Mực nước biển cao nhất đo được ở cảng Hải Phòng là 4,25 m xảy ra ngày 26 tháng 9 năm 1955 khi cơn bão Kate với sức gió cấp 12 đổ bộ vào thời kỳ triều cường, gió mạnh, sóng cao trên nền nước biển dâng trong bão đã gây vỡ đê biển huyện An Hải Mực nước biển cao nhất ở Hồng Gai là 4,70 m đo được ngày 26 tháng 12 năm

1984

• Cảnh báo khả năng các mực nước biển cao :

Kết quả tính cho thấy ở vùng ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng khả năng mực nước biển dâng trong bão cao nhất có thể đạt 2,1 m Thuỷ triều cao nhất 3,9 m Sóng cao nhất 4,0 m Khi có sự trùng hợp xảy ra chỉ của 2 trong 3 yếu tố này, mực đỉnh sóng có thể cao đến 6-7 m

Bảng 1.28: Chu kỳ lặp lại (năm) các mực nước biển (cm) cực đại và cực tiểu ở trạm

đảo Hòn Dấu thuộc vùng biển Hải Phòng

Chu kỳ (năm) Mực nước (cm)

Đánh giá chung về ảnh hưởng của bão :

Vùng KTTĐPB chịu ảnh hưởng mạnh của bão cả về cả về số lượng và cường độ Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ảnh hưởng này có biểu hiện suy giảm Quy luật của nhiều hiện tượng tự nhiên, trong đó có bão, là biến động theo chu kỳ, kết quả nghiên cứu cho biết số lượng B&ATNĐ ảnh hưởng đến Miền Bắc Việt Nam có các chu kỳ 9, 11 và 17 năm Vì vậy, ảnh hưởng của bão nói chung, gió mạnh và mực nước biển dâng trong bão nói riêng luôn luôn là những nguy cơ thiên tai tiềm ẩn đối với vùmg KTTĐPB

Vùng KTTĐPB nhiều mưa với lượng lớn, và phân bố đều khắp Mấy năm gần đây, tình hình mưa của vùng có biểu hiện suy giảm, nhưng hiện tượng mưa đặc biệt lớn vẫn xảy ra, gây ngập úng kéo dài ở nhiều địa phương Ngập úng là nguy cơ thiên tai tiềm ẩn thường xuyên trong mùa mưa đối với mọi địa phương thuộc vùng KTTĐPB,

đặc biệt khi có ảnh hưởng của B&ATNĐ

1.4.2 Đánh giá nguy cơ thiên tai

a Lũ lớn trong sông:

• Một số trận lũ lớn đã xảy ra:

+ Năm 1913 xảy ra lũ lớn trên sông Hồng, gây vỡ đê ở nhiều nơi, nước lũ tràn vào nội đồng làm ngập trên 300.000 ha đồng ruộng, trong đó có trên 100.000 ha lúa mất trắng thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình

+ Năm 1915 xảy ra lũ lớn trên sông Hồng, gây vỡ đê ở 42 điểm, nước lũ tràn vào nội đồng làm ngập 325.000 ha đồng ruộng, trong đó có 221.000 ha lúa mất trắng thuộc các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Bắc Ninh Các đường quốc lộ 1,

2, 3, 5, 6 bị ngưng trệ, nhà máy dệt Nam Định tạm ngừng hoạt động

+ Tháng VIII-1945 xảy ra lũ lớn trên sông Hồng, mực nước thực đo tại Hà Nội là 12,68 m gây vỡ đê ở 52 điểm, nước lũ tràn vào nội đồng làm ngập khoảng 312.000 ha

Trang 31

đồng ruộng thuộc 11 tỉnh thành ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, tổng thiệt hại tương

đương 14,3 triệu tấn thóc Mực nước hoàn nguyên của trận lũ này tính được nếu giả thiết không xảy ra vỡ đê là 14,1 m

+ Tháng VIII-1971 xảy ra lũ lớn lịch sử trên sông Hồng và sông Thái Bình, lưu lượng đỉnh lũ tại Sơn Tây lên đến 37.800 m3/s, gấp trên 10 lần lưu lượng đỉnh lũ trung bình và gấp khoảng 100 lần lưu lượng mùa cạn, mực nước thực đo lớn nhất tại Hà Nội

là 14,13 m (mực nước hoàn nguyên - tính được khi giả thiết không xảy ra vỡ đê Cống Thôn là 14, 60 m), tại Phả Lại là 7,21 m (cùng xảy ra trong ngày 22/8/1971), đê chính

và đê bối bị tràn và vỡ ở nhiều nơi, cộng với việc thực hiện các biện pháp chủ động phân lũ, chậm lũ, nước lũ tràn vào nội đồng làm ngập trên 250.000 ha đồng ruộng, trong đó mất trắng trên 160.000 ha lúa, gần 3.000.000 người bị ảnh hưởng

Sông Thái Bình, trong lịch sử đã xảy ra các trận lũ lớn với mực nước đỉnh lũ đo

được ở Phả Lại: 7,21 m trong mùa lũ năm 1971; 6,53 m mùa lũ năm 1985; 6,95 m mùa lũ năm 1986 và 6,62 m trong mùa lũ năm 1995

• Tình hình lũ trên 2 hệ thống sông trong mấy năm gần đây (1995-2002):

Mức đỉnh lũ cao nhất năm trung bình trong 8 năm qua tăng 0,84 m trên sông Hồng và tăng 0,54 m trên sông Thái Bình so với trung bình của nhiều năm (bảng 1.29) Trong thời kỳ này, sự điều tiết của hồ Hoà Bình làm giảm mức đỉnh lũ trên sông Hồng tại Hà Nội và trên sông Thái Bình tại Phả Lại trung bình từ 10 đến 30 cm, khi có lũ ở cấp nguy hiểm có thể giảm mạnh hơn từ 0,5 đến 0,8 m, nếu không có sự

điều tiết đó, mực nước đỉnh lũ tại Hà Nội năm 1996 có thể đạt đến mức 13,1 m, thế

mà số năm mực đỉnh lũ đạt mức báo động III (11,5 m) trên sông Hồng là 3/8 = 37,5% cũng lớn hơn so với trung bình nhiều năm (32,5%), những số liệu đó cho thấy lũ sông Hồng thời kỳ gần đây có biểu hiện tăng so với trung bình nhiều năm cả về tần xuất lẫn cường độ

Bảng 1.29: Mực nước, lưu lượng nước các trận lũ lớn nhất năm thời kỳ 1995-2002

trên hệ thống sông Hồng (tại Hà Nội) và sông Thái Bình (tại Phả Lại)[10, 11]

Sông Hồng (tại Hà Nội) Sông Thái Bình (tại Phả Lại) Năm Mực nước cao

nhất (mét)

Lưu lượng (m 3 /s)

Đỉnh lũ (mét)

Lưu lượng (m /s) 3

đo lưu lượng

Trang 32

Trung bình mực nước đỉnh lũ lớn nhất trên sông Thái Bình tại Phả Lại trong các năm từ 1995 đến 2002 là 5,94 m, trên mức trung bình 54 cm và trên mức báo động III

đến 44 cm, trong đó 2 năm 1995-1996 mực nước đỉnh lũ cao nhất năm vượt quá báo

động III đến trên 1 m

• Chu kỳ tự nhiên lặp lại trận lũ lịch sử năm 1971 trên sông Hồng là 100 năm, nhờ

sự điều tiết của hồ Hoà Bình kéo dài 10 lần tức khoảng 1000 năm

• Đánh giá chung về lũ, lụt

Lũ lớn, mực nước cao, tốc độ dòng chảy mạnh, nguy cơ thiên tai do nước tràn đê hoặc vỡ đê trên 2 hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình là nguy cơ thiên tai tiềm ẩn thường xuyên trong mùa mưa lũ đối với vùng KTTĐPB

b Ngập úng nội đồng

• Một số trận ngập úng nội đồng diện rộng và kéo dài

Ngập úng có nguy cơ kéo dài khi ngập úng do mưa lớn tại chỗ, đồng thời ngoài sông có lũ lớn, vào thời kỳ triều cường, nước lũ tiêu thoát chậm, mực nước sông cao, hoạt động của các hệ thống tiêu thoát nước nội đồng bị hạn chế, ngập úng cũng còn xảy ra khi phải vận hành các biện pháp phân lũ, chậm lũ

+ Một số trận ngập úng sâu và kéo dài đã xảy ra trên vùng hoặc những vùng liền kề:

* Trận úng ngập tháng XI/1984 ở đồng bằng Bắc Bộ do mưa lớn tại chỗ, lượng mưa 2 ngày 9 và 10 tháng XI ở nhiều nơi thuộc đồng bằng Bắc Bộ lên đến 500-700

mm, gấp trên 10 lần tổng lượng mưa trung bình cả tháng XI Tổng diện tích đồng ruộng bị ngập úng lên đến 70-80.000 ha, 45% diện tích Hà Nội bị ngập sâu 0,3 đến 0,5 m, đặc biệt vùng phía Tây và Nam ngập sâu đến 0,5 - 1,0 m kéo dài 7- 8 ngày, hoạt động của nhiều nhà máy, xí nghiệp, các dịch vụ cấp điện và nước bị ngưng trệ kể cả hoạt động của sân bay Nội Bài

* Trận úng ngập tháng VII năm 1997: mưa vừa đến mưa to xảy ra liên tục từ 17

đến 27 tháng VII năm 1997 đã làm Hà Nội bị ngập úng sâu và kéo dài, nhất là ở phía Nam thành phố

* Thành phố Hải Phòng có nhiều cửa sông lớn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, độ cao mặt đất trung bình của thành phố thấp hơn mực nước triều cao nhất, vì vậy ngập úng là nguy cơ thường xuyên ở nhiều vùng của thành phố, trong đó phải kể đến những năm ngập úng nặng là năm 1963, 1968, 1971, 1983, 1984, 1990, 1993 và 1996, độ sâu ngập úng trung bình từ 0,2 đến 1,0 m

+ Ngập úng sẽ sẩy ra khi có lũ lớn phải sử dụng các biện pháp phân lũ, chậm lũ: khi lũ lớn và khi các hồ chứa đã hết khả năng điều tiết, nhưng mực nước ở Hà Nội vẫn

có khả năng vượt quá 13,4 m thì buộc phải chủ động cho nước lũ tràn ngập có kiểm soát một số vùng dân cư để hạ thấp được mực nước đỉnh lũ (cắt đỉnh lũ), làm chậm lũ

ở hạ lưu, các giải pháp này sẽ còn được sử dụng ít nhất đến khi hồ Sơn la hoàn thành, việc tháo nước tràn ngập các vùng dân cư quanh vùng KTTĐPB thực sự là thảm hoạ

về nhiều mặt chẳng những đối với các vùng này mà còn tác động về nhiều mặt đối với vùng trọng điểm Theo kế hoạch, các biện pháp phân lũ, chậm lũ cụ thể là:

* Phân lũ sông Hồng qua Đập Đáy vào sông Đáy, nước sẽ được chứa vào hồ Vân Cốc, sau đó tràn ngập sâu 1-4 m trên diện tích gần 24.000 ha với khoảng 600 nghìn

Trang 33

dân sinh sống của 57 xã thuộc 2 huyện Chương Mỹ và Mỹ Đức (Hà Tây) bên hữu ngạn sông Đáy Việc phân lũ qua Đập Đáy đang có nhiều vấn đề nẩy sinh bởi đập

Đáy qua nhiều năm sử dụng, đã xuống cấp, lưu lượng phân lũ của nó hiện chỉ còn bằng 3/5 lưu lượng thiết kế (3000 so với 5000 m#/s thiết kế) Bãi sông Đáy qua nhiều năm bị dân chiếm dụng làm thổ canh thổ cư đã thu hẹp nhiều, sự chiếm dụng đó chẳng những làm dòng chảy phân lũ bị giảm mà cuộc sống của hàng chục vạn dân ở

đây cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi phân lũ

* Các khu chậm lũ (chủ động phá đê cho nước sông Hồng tràn vào làm chậm lũ lớn trên sông đe doạ an toàn hệ thống đê) là:

Khu Tam Thanh với diện tịch bị ngập lụt khoảng 4690 ha thuộc 2 huyện Tam Nông và Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ, lượng nước phân lũ khoảng 200 triệu m3

Khu Lương Phú Quảng Oai tỉnh Hà Tây với diện tích bị ngập lụt khoảng 1749 ha, lượng nước phân lũ khoảng 620 triệu m3

Khu Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc với diện tích bị ngập lụt khoảng 4000 ha, lượng nước phân lũ khoảng 130 triệu m3

c Hiện tượng sạt lở bờ sông :

Hiện tượng sạt lở bờ sông là nguy cơ thiên tai tiềm ẩn đối với an toàn của đê và

đời sống của cư dân ven đê, trong những năm gần đây hiện tượng này xảy ra nghiêm trọng ở vùng hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình Trên dòng chính sông Hồng có tới

35 đoạn bị sạt lở, tổng cộng chiều dài sạt lở đến 78 km Hiện tượng này đã xảy ra ngay ở Hà Nội, đặc biệt đoạn chân cầu Long Biên, bãi Tứ Liên, bãi Phúc Xá Gần

đây, ngày 27 tháng VIII năm 2003, ven sông thuộc phường Bạch Đằng quận Hoàn Kiếm bị sạt lở một đoạn dài 30 m, rộng 3-4 m Cùng ngày, tại Km số 9+100 đê tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Gia Lâm bị sạt lở một đoạn dài lấn sâu vào phía đê khoảng 1 m Từ Km 19 đến Km 22 bờ tả ngạn sông Đuống thuộc huyện Gia Lâm cũng bị sạt lở nghiêm trọng Do sạt lở, đã phải di dời 305 căn nhà của hàng trăm hộ dân ra khỏi vùng nguy hiểm, hàng nghìn ha đất canh tác bị mất do sạt lở

Hiện tượng sạt lở thường xảy ra vào những tháng cuối mùa lũ, khi mực nước sông thấp dần, đôi khi cả trong mùa cạn Hiện tượng sạt lở có nguyên nhân khách quan (cấu trúc tầng đất ven bờ) và nguyên nhân chủ quan do những hoạt động vô thức của con người như khai thác cát sỏi bừa bãi, xây dựng các công trình, đổ phế liệu phế thải

ra sông, làm thay đổi địa hình lòng sông, thay đổi dòng chảy của sông, hoạt động của các phương tiện vận tải tốc độ cao trên sông cũng là nguyên nhân sạt lở bờ sông…

1.4.3 Đánh giá nguy cơ thiên tai do hạn thuỷ văn

Sự giảm mực nước và lưu lượng nước của sông thấp hơn một giá trị quy định được gọi là hạn thủy văn Vấn đề hạn thuỷ văn ngày càng có vai trò quan trọng và được xem như một thiên tai bởi lẽ ở nước ta, thuỷ điện là nguồn năng lượng chủ yếu cung cấp cho các hoạt động của đất nước, nếu hạn thuỷ văn xảy ra trong thời gian dài, nguồn nước cạn kiệt, các nhà máy thuỷ điện sẽ phải ngừng hoạt động sẽ là thảm hoạ

đối với mọi hoạt động của đất nước

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 28

Trang 34

Trong lịch sử đã ghi được một số lần hạn thủy văn trên sông Hồng thể hiện ở mực nước xuống thấp :

+ Ngày 27/3/1956 mực nước thấp nhất (lịch sử) tại Hà Nội là 173 cm

+ Ngày 09/5/1960 mực nước ở Hà Nội là 190 cm, ứng với lưu lượng là 350 m3/s Hạn thuỷ văn trên sông Hồng có nguyên nhân từ hạn thuỷ văn trên các sông Đà, sông Thao, sông Lô Nhờ sự điều tiết của hồ Hoà Bình, xả nước trong mùa cạn để phát

điện, những mực nước thấp như vậy ở Hà Nội chắc không còn xảy ra Tuy nhiên hạn thuỷ văn trên các sông hợp lưu của sông Hồng vẫn còn là nguy cơ tiềm ẩn, nhất là đối với sông Đà, nguồn cấp nước của hồ Hoà Bình Năm 1997 mùa mưa ở Bắc Bộ kết thúc sớm khi hồ Hoà Bình chưa tích đủ nước, mặc dù việc sử dụng nước phát điện đã tiết kiệm đến mức tối đa, nhưng sang đầu năm 1998, mực nước hồ hoà Bình đã xuống thấp dưới mực nước chết, nguy cơ ngừng phát điện đã phải thực hiện nếu như mùa mưa năm đó không bắt đầu sớm hơn bình thường

1.4.4 Đánh giá nguy cơ thiên tai do ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết thuỷ văn khốc liệt (lũ quét, mưa đá, tố, lốc, vòi rồng…)

a Lũ quét

Trên địa bàn vùng TĐKTPB, Quảng Ninh là địa phương có điều kiện tự nhiên dễ phát sinh lũ quét nhất, bởi hệ thống sông ở Quảng Ninh có độ dốc lớn, thượng nguồn các sông này thường có mưa cường độ lớn, mấy năm gần đây ở Quảng Ninh đã xảy ra

2 trận lũ quét:

* Từ 1 đến 4/7/1998 mưa to ở Bắc Bộ với lượng mưa phổ biến từ 100-200 mm, riêng Quảng Ninh có nơi mưa đến 650 mm, lũ quét đã xảy ra ở xã Yên Hưng huyện Quảng Hà ngày 4/7

* Từ 27 đến 29/6/2001 mưa to ở Quảng Ninh với lượng mưa phổ biến từ 100-200

mm, có nơi gần 400 mm, lũ quét đã xảy ra ở xã Tràng Lương huyện Đông Triều ngày 28/6

b Dông, tố, lốc, mưa đá và vòi rồng, là những hiện tượng tự nhiên có biểu hiện khác nhau nhưng có cùng bản chất và nguyên nhân hình thành là điều kiện khí quyển nóng ẩm với độ bất ổn định nhiệt ẩm cao, tạo thành những khối mây đối lưu phát triển mạnh

Số ngày có dông ở vùng trọng điểm phát triển kinh tế xã hội phía Bắc trung bình

từ 40 đến 50 ngày/năm (bảng 1.7), trong cơn dông thường phát sinh những trận tố lốc hoặc vòi rồng trên phạm vi hẹp là những hiện tượng thời tiết khốc liệt, sự tàn phá của

nó có tính huỷ diệt, rất khó khăn trong cứu nạn cứu hộ Số liệu quan trắc đã ghi lại một số trận tố, lốc hoặc vòi rồng đã xảy ra ở các địa phương thuộc vùng KTTĐPB :

• Trong mấy chục năm qua :

* ở Quảng Ninh đã có 3 lần vòi rồng xuất hiện, 1 lần vào tháng 6/1959 và 2 lần trong tháng 8 năm 1961

* Ngày 23 tháng 6 năm 1968 vòi rồng đã xuất hiện ở huyện Tứ lộc, Hải Dương làm chết 4 người, cuốn mất 10 tấn thóc, vặn nát 8 mẫu lúa, nhiều nhà cửa bị đổ hoặc hư hại

Trang 35

* Ngày 28 tháng 4 năm 1979 dông kèm mưa đá và lốc diện rộng đã xuất hiện ở Hải Phòng, gió mạnh đến 31 m/gy (cấp 11), đường kính hạt mưa đá đến 1 cm

* Ngày 16 tháng 4 năm 1984 lốc xoáy mạnh đã xuất hiện ở Hải Phòng, với đường kính trung bình 400-500 m, lốc xoáy đã di chuyển và tàn phá một vệt dài 8 Km, tốc

độ gió đo được ở rìa ngoài lốc xoáy là 24 m/gy, nhà cửa (tường 20 cm), cây cối (đường kính đến 1 m), cột điện cao thế và hạ thế đều bị lốc xoáy vặn đổ trong phạm vi 400-500 m dọc đường lốc xoáy di chuyển

• Trong mấy năm gần đây :

* Năm 1998 lốc đã xuất hiện ở Thuỷ Nguyên, Hải Phòng ngày 3/5; ở huyện Từ Liêm ngày 16/5; ở Quận Đống Đa ngày 4/6

* Năm 2000 lốc đã xuất hiện ở Quảng Ninh và Hải Phòng ngày 22/8

* Năm 2001 lốc đã xuất hiện ở Quảng Ninh 2 lần vào các ngày 9/5 và 17/7

• Đánh giá chung :

Các hiện tượng khí tượng - thuỷ văn khốc liệt tuy phạm vi nhỏ nhưng có sức tàn phá ghê gớm, mang tính huỷ diệt, chúng lại thường xuất hiện bất ngờ, diễn biến nhanh nên không kịp chuẩn bị phòng tránh, đặc biệt đối với lũ quét, điều kiện tìm kiếm cứu hộ sau thiên tai này vô cùng khó khăn

Thiên tai do các hiện tượng khí tượng thuỷ văn khốc liệt là nguy cơ tiềm ẩn đối với mọi địa phương, tuy nhiên, thực tế cho thấy, Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng các hiện tượng này thường xảy ra nhiều hơn với cường độ mạnh hơn so với Hà Nội và Hải Dương

1.4.5 Đánh giá nguy cơ thiên tai do rét trong mùa đông và nắng nóng quá mức trong mùa hè đối với vùng KTTĐPB

a Rét mùa đông:

Nhiệt độ không khí xuống thấp quá giới hạn chịu đựng của cây trồng vật nuôi sẽ làm chúng chết hàng loạt, sức khoẻ con người cũng bị ảnh hưởng, nhu cầu cung ứng năng lượng của xã hội tăng cao, vì vậy nhiệt độ thấp mùa đông là yếu tố khí tượng tiềm ẩn nguy cơ thiên tai, chúng được đánh giá bởi hai đại lượng là nhiệt độ thấp nhất

trong ngày và nhiệt độ trung bình ngày, rét đậm xảy ra khi nhiệt độ trung bình ngày

hạ xuống từ 150C đến trên 130C, rét hại sẽ xảy ra khi nhiệt độ trung bình ngày từ

130C trở xuống

• Tình hình nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông đã ghi nhận được ở vùng KTTĐPB

Bảng 1.30: Nhiệt độ không khí thấp nhất (Tm0C) tuyệt đối tháng các tháng mùa đông

Trang 36

Bảng 1.30 cho thấy, (1) nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối ở Hà Nội là 2,70C

đo được ngày 12/1/1955, ở Hải Phòng là 4,50C đo được ngày 14/2/1968, ở Quảng Ninh là 50C đo được ngày 18/1/1967, khi nhiệt độ không khí xuống dưới 50C, nhiệt độ lớp không khí sát mặt đất và nhiệt độ mặt đất còn thấp hơn nữa, có thể đến 00C, sương muối, băng giá sẽ hình thành, các cây trồng và vật nuôi không được bảo vệ sẽ chết hàng loạt

Đợt rét kéo dài từ 13/1 đến 12/2 năm 1989 đã gây ra nhiệt độ thấp nhất trên dưới

5oC ở vùng KTTĐPB, làm hàng trăm ngàn ha mạ và lúa cấy bị chết, hàng ngàn trâu bò

bị chết

• Tình hình nhiệt độ thấp nhất mùa đông trong mấy năm gần đây:

Bảng 1.31 cho thấy trong mấy năm gần đây, phù hợp xu thế chung “Trái Đất ấm dần lên”, nhiệt độ tối thấp vùng KTTĐPB cũng tăng lên, chuẩn sai nhiệt độ tối thấp trung bình mùa đông thời kỳ 1995-2002 có giá trị từ +0,40C đến +1,00C

Bảng 1.31: Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng và mùa ở vùng thời kỳ

1995-2002 (nguồn: [10, 11])

Tháng Yếu tố Địa phương

Hà Nội 19.8 16.2 15.0 15.9 18.9 17.2 Hải Phòng 19.1 15.7 14.5 15.0 18.1 16.5

Nhiệt độ thấp nhất trung bình

thời kỳ 1995-2002

Quảng Ninh 19.2 15.0 14.3 15.1 18.1 16.3

Hà Nội +1.2 +0.8 +1.1 +0.8 +0.8 +1.0 Hải Phòng +0.5 +0.2 +0.6 +0.2 +0.5 +0.4 Chuẩn sai

6,0 0C (21/2)

11,8 0 C (24/1)

9,3 0 C (20/1)

9,2 0 C (12/1)

9,1 0 C (1/2)

9,4 0 C (24/12)

10,7 0 C (5/1) Quảng

Ninh

8,7 0 C

(6/1)

5,30 C 21/2

10,0 0 C (12/1)

9,9 0 C (5/2)

9,5 0 C (13/1)

8,3 0 C (2/2)

6,8 0 C (24/12)

10,8 0 C (5/1)

Nguồn: [10, 11]

• Tình hình rét đậm rét hại:

Bảng 1.33: Số ngày rét đậm rét hại nhiều năm và thời kỳ 1995-2002 ở vùng KTTĐPB

Đông Xuân Tháng

1998 1999

1999 2000

2000 2001

2001 2002

Trung bình 1995/2002

Trung bình N/năm

Trang 37

Những tính toán cho thấy, chu kỳ lặp lại nhiệt độ thấp nhất dưới 30C ở Hà Nội là

50 năm, lặp lại nhiệt độ 4,70C ở Hải Phòng là 20 năm, lặp lại nhiệt độ 4,60C ở Quảng Ninh là 20 năm

Rét mùa đông là yếu tố tiềm ẩn nguy cơ thiên tai đối vớivùng KTTĐPB, đặc biệt

đối với sản xuất nông nghiệp Mấy năm gần đây, thời gian rét, mức độ rét có biểu hiện xuy giảm nhưng nhiều đợt rét đậm rét hại vẫn xảy ra gây tổn thất lớn đối với sản xuất nông nghiệp và sức khoẻ con người

b Nhiệt độ cao mùa hè

Nhiệt độ không khí tăng cao vượt quá giới hạn chịu đựng của cây trồng vật nuôi

sẽ làm cho chúng bị chết hàng loạt, với nhiệt độ cao, sức khoẻ con người cũng bị ảnh hưởng, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan, nhiệt độ cao cũng là tiền đề cho các nguy cơ khác như hoả hoạn, cháy rừng và hạn hán Vì vậy nhiệt độ cao mùa hè là yếu tố khí tượng tiềm ẩn nguy cơ thiên tai

• Tình hình nhiệt độ cao nhất mùa hè đã xảy ra ở vùng KTTĐPB

Bảng 1.34: Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tháng và năm (đậm) [10, 12, 15]

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 32

Trang 38

Bảng 1.34 cho thấy nhiệt độ cao nhất tuyệt đối đã ghi được ở Hà Nội là 42,80C (đo

được trong tháng 5 năm 1926), ở Hải Phòng là 41,50C (đo được trong tháng 5 năm 1914) và ở Quảng Ninh là 37,90C (đo được ngày 28 tháng 7 năm 1968)

• Tình hình nhiệt độ cao nhất ở vùng trong mấy năm gần đây

Bảng 1.35 cho thấy, trong mấy năm gần đây, phù hợp với xu thế chung “ấm lên toàn cầu” nhiệt độ tối cao trung bình tháng và trung bình mùa ở vùng KTTĐPB nhìn chung có xu hướng tăng, Hà Nội tăng 0,70C, Hải Phòng tăng 0,20C

Bảng 1.36 cho thấy những giá trị nhiệt độ cao nhất trung bình tháng và mùa trong mấy năm gần đây ở vùng có xu hướng tăng, đặc biệt ở Hà Nội và Hải Phòng Tuy nhiên, những giá trị cao nhất tuyệt đối của chúng thời kỳ này (bảng 1.34) còn kém xa những giá trị cao nhất tuyệt đối đã xảy ra (bảng 1.34)

Bảng 1.35 : Nhiệt độ cao nhất trung bình tháng và mùa nhiều năm và thời kỳ

1995-2002

Tháng Yếu tố Địa phương

Hà Nội 31.4 32.7 32.9 32.1 31.0 32.0 Hải Phòng 30.6 31.8 32.1 31.4 30.6 31.3

Tx Trung bình

Nhiều năm

Quảng Ninh 30.0 31.2 31.6 31.1 30.6 30.9

Hà Nội 31.7 33.5 33.8 33.0 31.8 32.7 Hải Phòng 30.6 32.0 32.5 31.9 31.0 31.6

Tx Trung bình

thời kỳ 1995-2002

Quảng Ninh 29.5 31.4 31.6 31.5 30.3 30.9

Hà Nội +0.3 +0.8 +0.8 +0.9 +0.8 +0.7 Hải Phòng 0.0 +0.2 +0.4 +0.5 +0.4 +0.3

Trung bình chuẩn sai

38,306/5

38,908/6

39,6015/6

37,709/7

38,0026/5

37,207/5

3806 21/5

Nguồn: [10, 11]

• Cảnh báo, dự báo xu thế nhiệt độ cao nhất của vùng:

Chu kỳ lặp lại nhiệt độ cao nhất ở Hà Nội trên 420C là trên 50 năm Chu kỳ lặp lại nhiệt độ cao nhất 40,20C ở Hải Phòng là 40 năm Chu kỳ lặp lại nhiệt độ cao nhất

380C ở Quảng Ninh là 10 năm

Trang 39

1.4.6 Đánh giá nguy cơ thiên tai vùng KTTĐPB theo tỷ lệ thiên tai

• Khái niệm : Trung tâm quản lý thiên tai vùng Nam á (SADMC), là một trong những cơ quan chuyên môn cấp vùng của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), đã sử dụng tỷ lệ thiên tai (TLTT) để đánh giá mức độ thiên tai xảy ra ở một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, trong khoảng thời gian nào đó TLTT được tính theo những thiệt hại không thể bù đắp:

TLTT = (100 số người chết + số người bị ảnh hưởng)/số dân

Theo số liệu do SADMC công bố, TLTT ở Việt Nam thời kỳ 1964-1989 (26 năm)

là 0,344 xếp thứ 10 trong tổng số 25 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu á và Nam Thái Bình Dương

• TLTT ở Việt Nam thời kỳ 1995-2002

Bảng 1.37: Số liệu tổn thất do thiên tai ở Việt Nam thời kỳ 1995-2001

Năm Cộng Hạng mục

Thiệt hại Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 95-02

Người chết Người 115 1128 941 85 899 775 604 353 4900Người bị thương Người 185 906 1527 522 544 413 288 275 4660

Người ảnh hưởng 1000 ng 1229 6786 497 2851 8414 5196 2591 1680 29244Thiệt hại (ước tính) Tỷ VND 400 7981 7793 1823 5418 5098 3370 2000 34883

Nguồn [9, 11]

Từ bảng 1.38, tính được TLTT ở vùng KTTĐPB thời kỳ 1995-2002 là 0,037 bằng 1/10 TLTT trung bình cả nước

Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp - CEETIA 34

Trang 40

• Nhận xét : Những kết quả tính TLTT kể trên có thể thấy một số nhận xét sau :

* TLTT ở Việt Nam mấy năm gần đây (1995-2002) lớn hơn những thời kỳ trước

đó, như vậy thiên tai ở Việt Nam trong mấy năm gần đây có xu thế tăng

* TLTT ở vùng KTTĐPB thời kỳ 1995-2002 sấp xỉ 1/10 TLTT cả nước, biểu hiện

nguy cơ thiên tai ở vùng này thuộc loại thấp so với nhiều vùng khác

Căn cứ thực trạng thiên tai đã xảy ra trong thời gian dài ở vùng KTTĐPB, căn cứ quy luật biến đổi có chu kỳ của các hiện tượng khí tượng thuỷ văn, vùng KTTĐPB có nguy cơ thiên tai vào loại thấp so với nhiều vùng khácvà có biểu hiện suy giảm trong thời kỳ gần đây chủ yếu do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới đối với vùng giảm, tuy nhiên xu thế đó chỉ là tạm thời Bão, lũ, lụt, ngập úng và rét là những thiên tai tiềm ẩn đối với vùng

• Các giải pháp phòng chống thiên tai

- Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ sạch Thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội

- Nâng cao hệu quả sản xuất và sử dụng năng lượng Khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng sạch

- Thực hiện chương trình phục hồi và phát triển rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc Phát triển trồng cây xanh trong đô thị và các tuyến giao thông thuỷ bộ

- Thực hiện các Chương trình Quốc gia của Việt Nam về biến đổi khí hậu và bảo

vệ tầng ôzôn, góp phần cùng các quốc gia khác tích cực thực hiện Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu và Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn

Ngày đăng: 27/07/2014, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ KHCN&amp;MT, Cục Môi trường. Các quy định pháp luật về Môi trường. Tập I và II. NXB chính trị Quốc gia. Hà Nội –1995,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp luật về Môi trường. Tập I và II
Tác giả: Bộ KHCN&amp;MT, Cục Môi trường
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 1995, 1996
11. Hồ Thị Vân. Tổng quan quá trình xây dựng &amp; Phát triển của mạng l−ới Quan trắc và Phân tích môi tr−ờng Quốc gia ( báo cáo tại Hội thảo “Nâng cao năng lực quan và phân tích môi tr−ờng ở Việt Nam” 19-20 tháng 3 năm 2002 do VCEP tài trợ ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan quá trình xây dựng & Phát triển của mạng l−ới Quan trắc và Phân tích môi tr−ờng Quốc gia
Tác giả: Hồ Thị Vân
Nhà XB: Hội thảo “Nâng cao năng lực quan và phân tích môi tr−ờng ở Việt Nam”
Năm: 2002
12. Nguyễn Anh Hiếu. Quy hoạch mạng l−ới các trạm quan trắc không khí khu vực trọng điểm phát triển kinh tế miền Bắc. Luận văn Thạc sỹ Công nghệ Môi tr−ờng. Hà Néi - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch mạng l−ới các trạm quan trắc không khí khu vực trọng điểm phát triển kinh tế miền Bắc
Tác giả: Nguyễn Anh Hiếu
Nhà XB: Luận văn Thạc sỹ Công nghệ Môi tr−ờng
Năm: 2003
2. Bộ KHCN&amp;MT, Cục Môi trường. Quy định phương pháp quan trắc-phân tích môi tr−ờng và quản lý số liệu. Hà Nội ,2001 Khác
3. Bộ KHCN&amp;MT, Cục Môi trường- Dự án VCEP. Hướng dẫn đảm bảo và kiểm soát chất l−ợng trong quan trắc và phân tích môi tr−ờng. Hà Nội, 6-2000 Khác
4. Bộ KHCN&amp;MT, Cục Môi tr−ờng- Dự án VCEP. Sổ tay quan trắc và phân tích môi tr−ờng. Hà Nội, 5-2000 Khác
5. Bộ KHCN&amp;MT, Cục Môi tr−ờng. Một số phiếu Chỉ thị môi tr−ờng năm 2001. Hà Néi 12/2001 Khác
6. Bộ Tài Nguyên &amp;Môi tr−ờng, Cục Bảo vệ Môi tr−ờng. Báo cáo Tổng hợp quan trắc và phân tích môi tr−ờng các tỉnh phía Bắc Việt Nam năm 2003 Khác
7. Bộ Quốc phòng. Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Công nghệ quân sự. Một số vấn đề về khoa học và Công nghệ môi trường. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội, 2-2003 Khác
8. Các Tiêu chuẩn nhà n−ớc Việt Nam về môi tr−ờng. Tập I: Chất l−ợng n−ớc. Tập II: Chất l−ợng không khí, âm học, Chất l−ợng đất, giấy loại. Hà Nội –1995 Khác
9. Bộ Tài nguyên và Môi tr−ờng. Hiện trạng Môi tr−ờng năm 2003 ( Báo cáo trình Quốc hội khoá XI- kỳ họp thứ 4. Hà Nội 10-2003 Khác
10. Cục Môi tr−ờng. Quy hoạch mạng l−ới các trạm quan trắc và phân tích môi tr−ờng quốc gia đến năm 2010. Hà Nội, 2002 Khác
13. TCVN 7209:2002. Chất l−ợng đất- Giới hạn tối đa cho phép của kim loại nặng trontg đất. Hà Nội – 2002 Khác
14. Uỷ ban Kinh tế Xã hội châu á - Thái Bình D−ơng (ESCAP). H−ớng dẫn các phương pháp luận quan trắc nước, không khí, chất thải nguy hiểm &amp; hoá chất độc.Liên Hợp Quốc New York, 1994 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ vị trí địa lý vùng KTTĐPB - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 1.1. Bản đồ vị trí địa lý vùng KTTĐPB (Trang 10)
Hình 1.2. Bản đồ địa hình vùng KTTĐPB - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 1.2. Bản đồ địa hình vùng KTTĐPB (Trang 10)
Hình 2.1. Sơ đồ định hướng phát triển không gian trung tâm Hà Nội đến năm 2020 - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 2.1. Sơ đồ định hướng phát triển không gian trung tâm Hà Nội đến năm 2020 (Trang 54)
Hình 2.2. Sơ đồ vị trí các KCN ở Hà Nội - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 2.2. Sơ đồ vị trí các KCN ở Hà Nội (Trang 62)
Hình 2.3. Sơ đồ định hướng phát triển không gian đến 2010 thành phố Hải Dương - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 2.3. Sơ đồ định hướng phát triển không gian đến 2010 thành phố Hải Dương (Trang 70)
Hình 2.4. Sơ đồ định hướng phát triển không gian đến 2020 thành phố Hải Phòng - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 2.4. Sơ đồ định hướng phát triển không gian đến 2020 thành phố Hải Phòng (Trang 72)
Bảng 4.10 : Hàm l−ợng một số kim loại nặng trong đất - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Bảng 4.10 Hàm l−ợng một số kim loại nặng trong đất (Trang 144)
Hình 5.1. áp lực của đô thị hoá đối với môi trường ven đô - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 5.1. áp lực của đô thị hoá đối với môi trường ven đô (Trang 152)
Hình 5.2. Diễn biến chất l−ợng n−ớc suối Hợp Phong (ngoại thành Hạ Long) - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 5.2. Diễn biến chất l−ợng n−ớc suối Hợp Phong (ngoại thành Hạ Long) (Trang 154)
Hình 5.3. Hàm l−ợng cặn lơ lửng , mg/l, trong n−ớc sông khu vực tỉnh Quảng Ninh - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 5.3. Hàm l−ợng cặn lơ lửng , mg/l, trong n−ớc sông khu vực tỉnh Quảng Ninh (Trang 156)
Hình 5.5. Diễn biến chất l−ợng n−ớc sông Sặt theo các chỉ tiêu BOD và NH 4 . - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 5.5. Diễn biến chất l−ợng n−ớc sông Sặt theo các chỉ tiêu BOD và NH 4 (Trang 163)
Hình 5.9. Diễn biến chất lượng nước sông Tô Lịch (tại cầu Mới) và sông Kim Ngưu - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 5.9. Diễn biến chất lượng nước sông Tô Lịch (tại cầu Mới) và sông Kim Ngưu (Trang 173)
Hình 5.12. Nồng độ BOD lớn nhất trong nước sông Hồng sau điểm xả nước thải trong - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 5.12. Nồng độ BOD lớn nhất trong nước sông Hồng sau điểm xả nước thải trong (Trang 213)
Hình 5.16. Đồ thị so sánh sự biến đổi mực nước dưới đất trung bình tháng năm - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 5.16. Đồ thị so sánh sự biến đổi mực nước dưới đất trung bình tháng năm (Trang 228)
Hình 5.18. Đồ thị dao động mực nước lỗ khoan quan trắc Q.164a tầng chứa - Đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hình 5.18. Đồ thị dao động mực nước lỗ khoan quan trắc Q.164a tầng chứa (Trang 231)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w