1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam

199 1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Hiện tượng Mực Nước Biển Dâng Dị Thường Không Phải Do Bão Xẩy Ra Tại Các Vùng Cửa Sông Ven Biển Việt Nam
Tác giả TS. Bùi Xuân Thông
Trường học Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển
Chuyên ngành Khoa học Môi Trường, Khí tượng Thủy văn
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức điều tra khảo sát thực tế bổ sung số liệu 81.3 Các nguồn số liệu khác thu thập phục vụ 8 nghiên cứu của đề tài 1.4 Kết quả tổng hợp các đợt mực nước biển dâng 9 1.6 Bộ dữ liệu t

Trang 1

Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Quốc gia

Báo cáo

tổng kết đề tài nghiên cứu

khoa học và công nghệ cấp bộ

Đề tài:

Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng

dị thường không phải do b∙o xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài : TS Bùi Xuân Thông

7047

05/12/2008

Hà Nội 2007

Trang 2

1.2 Tổ chức điều tra khảo sát thực tế bổ sung số liệu 8

1.3 Các nguồn số liệu khác thu thập phục vụ 8

nghiên cứu của đề tài

1.4 Kết quả tổng hợp các đợt mực nước biển dâng 9

1.6 Bộ dữ liệu tổng hợp kết quả của đề tài 15

Đánh giá các mối quan hệ tác động hiện

tượng mực nước biển dâng cao dị thường

2.1 Hoạt động địa chấn trong khu vực Biển Đông 16

và lân cận với hiện tượng mực nước biển dâng dị thường xẩy

ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam

2.2 Đặc điểm thống kê dao động mực nước tổng cộng 24

2.3 Đặc điểm thống kê tần suất xuất hiện các loại hình khí 32

áp liên quan thời kỳ gió mùa đông bắc ở Biển Đông

2.4 Tần suất độ cao sóng, gió thời kỳ gió mùa đông bắc 36

2.5 Thống kê tổng hợp các điều kiện synop 41

2.6 Nghiên cứu khả năng phát triển sóng lừng thời kỳ gió mùa 48

Trang 3

3.5 Điều kiện phát triển sóng lớn ven bờ 56

Đề xuất phương hướng xây dựng quy trình cảnh báo hiện tượng mực nước biển dâng dị thường kỳ Triều cường

4.1 Cơ sở xây dựng quy trình cảnh báo mực nước biển dâng cao dị

4.2 Nội dung cần tham khảo để xây dựng bản tin cảnh báo 59

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

61

Trang 4

Báo cáo tổng kết đề tài

Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do b∙o xẩy ra tại các vùng

cửa sông, ven biển Việt Nam

đã nhìn thấy rõ nguyên nhân từ đâu, vì vậy các phương pháp tính toán dự báo các hiện tượng này đã phát triển ở các mức nghiệp vụ khác nhau Tuy nhiên còn hiện tượng mực nước biển dâng đáng kể khác xẩy ra trong điều kiện không có bão mang tính chất dị thường phức tạp mà hậu quả gây ra còn nguy hiểm không kém gì nước dâng bão do độ lớn, gây ngập lụt và tính chất không có các điều kiện thời tiết qúa bất thường dẫn đến chủ quan của con người Loại mực nước biển dâng dị thường này tiềm ẩn bên trong tổ hợp các nguyên nhân Trong thực

tế, nhân dân địa phương các vùng ven biển đã nhận biết các đợt mực nước biển dâng dị thường này và như cư dân các vùng biển phía bắc thường gọi là con nước

đông hay hối đông với cột nước khổng lồ từ từ tiến vào bờ phá huỷ các cơ sở hạ tầng, cuộc sống dân sinh Hiện tượng này trong các tài liệu khoa học gọi là sóng Thần phức tạp hơn nhiều vì thực sự chưa rõ cơ chế vật lý hình thành để dự báo Hiện tượng sóng Thần có thể xẩy ra bất kỳ thời gian nào và thường gắn liền với các dao động địa chấn, động đất, hoạt động núi lửa Hiện tượng mực nước biển dâng dị thường xẩy ra khi không có bão có thể là sóng Thần, có thể chỉ là triều cường kết hợp với một số nguyên nhân khác tổ hợp của các loại sóng dài trong

đó có sóng Thần Tuy nhiên hiện tượng này chưa được tổng kết công bố qua các tài liệu trong nước, với các tài liệu quốc tế chúng tôi chưa tìm hiểu được nhiều Qua một số công trình nghiên cứu về các quá trình động lực ở vùng thềm lục địa nơi chuyển tiếp của các khối nước kết hợp với đặc thù của khu vực có hệ thống gió mùa ngự trị luân phiên trong năm kết hợp với tính chất triều nhiệt đới hiện tượng dâng cao mực nước biển vùng ven bờ đã được đề cập đến trong công trình của Ken Brink Điều kiện nghiên cứu những vấn đề như thế này ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, vì vậy khi tổng quan đề tài đã gặp những khó khăn tập hợp các bài báo khoa học có liên quan ở trong nước cũng như ở nước ngoài do số lượng tài liệu rất hạn chế

ở Việt Nam chỉ trong vòng hơn 10 năm gần đây khi các phương tiện thông tin đại chúng phát triển, hiện tượng mực nước biển dâng cao dị thường mới

Trang 5

được công bố kịp thời rộng rãi, nhờ đó đề tài đã tập hợp được một khối lượng số liệu, tư liệu có giá trị Nhờ các thông tin này mà mà các cấp quản lý, các cơ quan khoa học mới tập trung đặt ra các nội dung nghiên cứu tìm hiểu và có các biện pháp phòng tránh ban đầu Tổng quan về các hiện tượng này thông qua các nguồn thông tin khác nhau đã được đề tài tập hợp và đánh giá ở chương I tổng quan về về số liệu và tư liệu liên quan hiện tượng mực nước biển dâng dị thường Tuy nhiên các tài liệu nghiên cứu liên quan đến hiện tượng mực nước biển dâng cao vào các kỳ triều cường còn chưa nhiều

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu xem xét hiện tượng mực nước biển dâng dị thường vào các kỳ triều có biên độ lớn trong năm

Xuất phát từ thực tế có hiện tượng mực nước biển dâng cao vào kỳ triều cường mà nhân dân địa phương các vùng ven biển, cửa sông thường gọi chung là triều cường Trung tâm Khí tuợng Thuỷ văn Biển sau nhiều năm theo dõi và tổ chức đo đạc khảo sát các hiện tượng mực nước biển dâng đã đề xuất đề tài nghiên cứu hiện tượng này Nhiệm vụ đặt ra cần giải quyết ở đây là tìm hiểu các

điều kiện liên quan đến hiện tượng mực nước biển dâng dị thường xẩy ra trong các kỳ con nước triều lớn gây ngập lụt tại các vùng cửa sông ven biển

Đề tài: “Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không

phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông, ven biển Việt Nam” được thực hiện

theo quyết định của Bộ Tài nguyên và Môi trường Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài đã được xác định qua ý kiến của hội đồng xét duyệt và thẩm định đề tài Đề tài đặt ra nhiệm vụ tìm hiểu, xác định nguyên nhân hiện tượng, nghiên cứu cơ chế hình thành và đề xuất bước đầu các hướng cảnh báo nhằm giảm thiểu thiệt hại cho các vùng ven biển, cửa sông Trong báo cáo này sử dụng danh từ triều cường để chỉ tính chất một pha triều có cường độ lớn hay còn gọi là con nước lớn trong năm Hiện tượng mực nước biển dâng dị thường xẩy ra vào các kỳ con nước lớn này thường được nhân dân địa phương gọi chung là triều cường Tuy nhiên về mặt khoa học cần có sự phân biệt rõ triều cường và mực nước biển dâng cao vào kỳ triêud cường Trong báo cáo này chúng tôi sử dụng danh từ triều cường để nói đến pha triều cường, mực nước biển dâng cao vào các kỳ triều cường là chỉ đến sự kết hợp của pha triều này với các nguyên nhân khác

Do còn nhiều hạn chế nhận thức về cơ chế quan hệ giữa động đất và sóng Thần vấn đề dự báo sóng Thần chưa thực hiện được ở các nước có nền khoa học tiên tiến cũng như ở các nước đang phát triển khác Chính vì vậy nội dung nghiên cứu mực nước biển dâng dị thường gắn liền với hiện tượng động đất chỉ

được xem xét ở mức độ hạn chế trong khuôn khổ đề tài này

Nội dung nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong phạm vi của hiện tượng triều cường, một mặt phải tổng hợp được thực tế hiện tượng đã xẩy ra, mặt khác phải làm rõ trong phạm vi có thể về nguyên nhân khác kèm theo xẩy ra

đồng thời trong thời kỳ con nước triều lớn Như vậy nhiệm vụ đặt ra của đề tài đã

rõ ràng hơn khi được giới hạn trong thời gian xác định là kỳ triều có độ lớn nhất

Trang 6

con “nước rươi” thường xẩy ra ở các vùng ven biển cửa sông miền Bắc, gió Chướng ở các vùng ven biển cửa sông đồng bằng Nam Bộ theo quan điểm của đề tài cần được tổ chức nghiên cứu ở quy mô khác vì cơ chế hoạt động của các hiện tượng này có nhiều đặc điểm khác với hiện tượng triều cường được đặt ra giải quyết ở đây

Có nhiều kỳ triều cường có độ lớn cao song không xẩy ra hiện tượng mực nứớc biển dâng cao gây ngập lụt ven bờ Vì vậy danh từ chung triều cường để chỉ hiện tượng gây ngập lụt ven bờ là không đúng Vì vậy trong phạm vi đề tài chỉ tập trung làm rõ khái niệm mực nước biển dâng cao xẩy ra vào kỳ triều cường gây ngập lụt ven bờ Rõ ràng là cần phải nói rõ mực nước biển dâng cao vào kỳ triều cường

Trên cơ sở số liệu tổng hợp, kết hợp điều tra khảo sát thực tế từ nhiều nguồn khác nhau về hiện tượng triều cường trong những năm gần đây đề tài nghiên cứu xem xét đến các điều kiện tự nhiên khác như trường khí áp, gió, sóng, mực nước thực đo và hoạt động địa chấn, động đất trong khu vực theo nguyên tắc xem xét vai trò từng yếu tố và loại trừ Sau khi đã có được những nhận thức nhất định về các nguyên nhân, đề tài đi vào phân tích cơ chế phát triển

hệ sóng lừng trong điều kiện chế ngự của các đợt gió mùa trên phạm vi Biển

Đông và sau cùng là sự tổng quát cơ chế sinh ra mực nước biển dâng ven bờ trong các điều kiện nói trên với các nguồn lực có tính chất nguyên nhân dẫn đến mực nước biển dâng cao, giải thích hiện tượng mực nước biển dâng cao này trên nguyên lý cơ bản hiệu ứng bơm Ekman Trên đây là quan điểm nhận thức của đề tài để thực hiện các nội dung đề cương đã đặt ra và giải thích cơ chế hiện tượng mực nước biển dâng cao vào các kỳ triều cường

Kết quả sau cùng của đề tài là đề xuất một quy trình để cảnh báo hiện tượng ngập lụt do tổ hợp triều - sóng lừng và các tác động khác được xem như là các nguyên nhân chính Mặt khác để làm rõ hơn cơ chế động lực của hiện tượng mực nước biển dâng cao trong các điều kiện kể trên đề tài đặt vấn đề xây dựng mô hình số trị để mô phỏng toàn diện hiện tượng với các điều kiện địa phương cụ thể Bản thân đề cương đề tài có đặt vấn đề phát triển mô hình mô phỏng nước dâng 2D do gió mạnh xẩy ra tại các vùng ven bờ, song trong quá trình nhận thức lại chúng tôi cho rằng hiện tượng đang xem xét không đơn giản là do gió mạnh gây nước dâng cục bộ Mô hình nước dâng này sẽ đúng hơn khi áp dụng để mô tả hiện tượng gió Chướng ở các vùng cửa sông đồng bằng Nam Bộ

Sau kết quả thẩm định đề cương, ý kiến của Hội đồng là cần cân nhắc xem xét lại nội dung mô hình nước dâng gió 2D áp dụng cho toàn vùng Biển Đông,

đề tài đã thay thế việc xây dựng mô hình mô phỏng nước dâng do gió 2D bằng mô hình tính toán dự báo sóng lừng Việc thay thế này hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học sau khi xem xét lại quá trình phát triển sóng gió và quá trình lan truyền

hệ sóng lừng đối với tác động vùng ven bờ Việt Nam Mặt khác khi xem xét

đánh giá lại các nguồn số liệu thu được cho thấy khá phổ biến hiện tượng mực nước biển dâng cao dị thường xẩy ra trong điều kiện gió địa phương không lớn tại các vùng ven bờ Việt Nam trong khi đó trên bản đồ synop tốc độ gió ngoài

Trang 7

khơi lại rất lớn Kết quả này đã dẫn đến ý tưởng thay thế mô hình tác động trực tiếp của nước dâng do gió khu vực bằng tác động lan truyền của hệ sóng lừng có nguồn gốc với hệ thống gió đổi hướng hoặc suy giảm ở vùng ngoài khơi

Trong quá trình thực hiện đề tài, chủ nhiệm đề tài nhận được sự giúp đỡ rất nhiều và có hiệu quả các cơ quan quản lý và nhiều nhà khoa học tâm huyết với nhiệm vụ của đề tài Chúng tôi xin chân thành cám ơn kỹ sư Thiệu Quang Tân Đài Khí tượng Thuỷ văn Khu vực Nam Trung Bộ, GSTS Nguyễn Đình Xuyên viện Vật lý Địa cầu, Tiến sỹ Nguyễn Lan Châu Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn TW, ThS Hoàng Trung Thành đã cung cấp rất nhiều thông tin tư liệu phục vụ cho đề tài Đề tài đã tập hợp được một nhóm cộng tác viên nhiệt tình đóng góp có hiệu quả trong các chuyên đề của đề tài Nhóm sóng : TS Nguyễn Doãn Toàn, KS Trịnh Tuấn Đạt, nhóm địa chấn: TS Nguyễn văn Lương, KSC Đào Trọng Hiển, nhóm mực nước và điều tra khảo sát: KS Bùi Thái Hoành, ThS Nguyễn Anh Tuấn, ThS Hoàng Trung Thành, KS Nguyễn Quốc Trinh, nhóm Khí tượng KS Trịnh văn Việt Chủ nhiệm đề tài xin được bày tỏ lòng biết

ơn tới các cộng tác viên và các bạn đồng nghiệp khác Trong quá trình thực hiện

đề tài, chúng tôi luôn nhận được sự đồng tình động viên khích lệ để nhanh chóng hoàn thành mục tiêu của đề tài từ các cấp lãnh đạo của Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển, Trung tâm Khí ượng Thuỷ văn Quốc gia và Vụ Khoa học Công nghệ Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhân dịp này chủ nhiệm đề tài xin được bày

do điều kiện địa phương Để tách được ảnh hưởng của các dao động địa chấn mà

đề tài chưa có điều kiện đi sâu, chúng tôi bước đầu đối chiếu thời gian xẩy ra triều cường có tồn tại hoạt động địa chấn khu vực hay không, tỷ lệ trùng lặp là bao nhiêu Như vậy, còn lại là phải xét đến các dao động sóng trong khí quyển

và thuỷ quyển quy mô Biển Đông

Hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không có bão xẩy ra từ nhiều năm nay ở Việt Nam nhưng vấn đề tổng kết của các cơ quan nghiên cứu là chưa

Trang 8

chưa được phổ biến rộng rãi Do những điều kiện khó khăn như vậy đề tài chỉ tập trung tổng kết hiện tượng triều cường trong thời gian khoảng 20 năm gần đây Vì vậy các loại số liệu khác trong đề tài cũng chỉ tập chung phần lớn trong thời gian 10 - 20 năm gần đây Có loại số liệu được tập hợp dài hơn 10 năm, tuy nhiên cũng có loại số liệu đề tài chỉ trích ra ở khoảng thời gian vào các tháng thường xẩy ra triều cường để mô tả tính đại diện quy luật của hiện tượng

Nguồn số liệu

a Thông tin và số liệu về hiện tượng triều cường được tập hợp từ các báo cáo của Đài Khí tượng Thuỷ văn Khu vực Nam Trung Bộ, thông tin tổng hợp từ các báo: Tuổi Trẻ Thành phố HCM, báo Công an Thành phố HCM, báo Thanh Niên và báo Lao Động Tập hợp các nguồn thông tin này thông qua các mẫu thống kê điều tra của đề tài

b Số liệu về hoạt động địa chấn khu vực đựợc tập hợp từ kết quả đề tài

“Nghiên cứu đánh giá độ nguy hiểm sóng thần đối với dải ven biển Việt Nam”,

đề tài cấp viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2005 do GS.TS Nguyễn Đình Xuyên chủ nhiệm [5]

c Nguồn số liệu về các hiện tượng thời tiết biển đặc biệt được tổng hợp từ tài liệu Tổng kết điều kiện khí tượng thuỷ văn hàng năm của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn TW [2]

d Nguồn số liệu về các loại hình thế khí áp và gió điển hình được tổng hợp từ kết quả các đề tài KT 03- 4 do TS Nguyễn Mạnh Hùng chủ nhiệm [4], đề tài KHCN 06 13 do TS Bùi Xuân Thông chủ nhiệm [3]

e Nguồn số liệu về sóng, mực nước quan trắc và thực đo được tập hợp từ các tài liệu của Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển và các tài liệu tổng kết các

đề tài nghiên cứu ứng dụng của TS Nguyễn Doãn Toàn [7]

f Nguồn số liệu về bão và nước dâng bão được tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu các đề tài của viện Cơ học Việt Nam và Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển [6]

g Bảng Thuỷ Triều do Trung tâm Khí Tượng Thuỷ Văn Biển biên soạn xuất bản

h Nguồn số liệu từ 03 đợt khảo sát thực tế hiện tượng triều cường của Trung tâm Khí Tượng Thuỷ Văn Biển (Đợt triều cường năm 2000 tại Sa Huỳnh, Phú Yên), Đề tài tổ chức kết hợp với viện Địa chất Địa Vật biển và Đề tài tổ chức độc lập trong năm 2005- 2006 [ Phụ lục]

Trang 9

1.2 Tổ chức điều tra khảo sát thực tế bổ sung số liệu

Trên đây đã kể ra các nguồn số liệu mà đề tài đã tổng hợp được Để bổ sung số liệu và khẳng định các tính chất cơ bản của các đợt triều cường, đề tài đã

tổ chức hai đợt khảo sát thực tế trong thời gian thực hiện đề tài

Mục tiêu của các đợt khảo sát thực tế này là xem xét đánh giá hiện tượng mực nước biển dâng này xẩy ra ở địa phương trong các điều kiện như thế nào về thời tiết Mặt khác qua điều tra trong nhân dân và tự cao đạc để xác định độ cao mực nước biển dâng ở tại địa phương đó

Đợt 1: Đề tài kết hợp với điều tra khảo sát ven bờ về hiện tượng mực nước

biển dâng xẩy ra tại các vùng ven biển miền Trung và Nam Bộ của đề tài

“Nghiên cứu đánh giá độ nguy hiểm sóng thần đối với dải ven biển Việt Nam”

do viện Vật lý Địa cầu tổ chức trong thời gian 20 tháng 5 đến 15 tháng 6 năm

2005 do Kỹ sư chính Đào Trọng Hiển - Viện Địa chất Địa Vật lý biển tham gia chủ trì (Có Phụ lục kèm theo)

Kết quả điều tra khảo sát trong nhân dân tại 18 điểm thuộc 11 tỉnh dọc ven bờ miền Trung và Nam Bộ cho thấy những đợt sóng biển dâng cao gây ngập lụt phần lớn do bão gây ra, trong đó có 10 địa điểm nhân dân nhận biết được dư chấn động đất nhưng mực nước dâng không lớn và 4 địa điểm nhân dân địa phương còn nhớ được nước biển dâng cao gây ngập lụt ven bờ xẩy ra trong điều kiện không có bão vào thời kỳ gió mùa đông bắc dịp cuối năm dương lịch Kết quả này kết hợp với các nguồn thông tin khác cho thấy hiện tượng triều cường thường xẩy ra vào thời kỳ con nước lớn tại các địa phương này, mặc dù các kết quả điều tra này chưa hẳn đã tách được dao động mực nước gây ra ngập lụt là có nguyên nhân địa chấn hay không Các khảo sát này chỉ xác định được thông tin tương đối về khoảng thời gian xẩy ra mực nước biển dâng lớn, không chỉ rõ được

độ cao là bao nhiêu và thời gian chính xác xẩy ra các độ cao đó

Đợt 2: Đề tài tổ chức điều tra khảo sát độc lập sau đợt triều cường xẩy ra

tại các tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định vào dịp cuối năm 2005 đầu năm 2006 Đợt khảo sát này thực hiện từ 2- 20 tháng 2 năm 2006 Kết quả điều tra khảo sát đo

đạc cho thấy trong thời gian từ tháng 10 năm 2006 tháng 2 năm 2006 tại khu vực này chỉ có một cơn bão và một áp thấp nhiệt đới gây ảnh hưởng 2 đợt triều cường xẩy ra độc lập với thời điểm có bão và áp thấp nhiệt đới tại các xã Hoài Hải, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định vào thời gian khoảng 21 giờ ngày 27 -11-

2005 với độ cao nước dâng để lại tai 2 vị trí đo là 1,38m và 1,12m, tại xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi vào thời gian khoảng 14 giờ ngày 9- 2-

2006 với độ cao nước dâng lớn nhất tại 2 vị trí là 1,25m và 1,22m Kết quả khảo sát đo đạc này khẳng định thông tin đã được đăng tải trên các báo và mạng thông tin khác là chính xác Đợt khảo sát này do KS Bùi Thái Hoành chủ trì (Có Phụ lục kèm theo)

1.3 Các nguồn số liệu khác thu thập trong thời gian 10 năm gần đây phục vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 10

2 Biến trình mực nước biển từng giờ tại các trạm có triều ký: Trạm Hòn Dấu, Hòn Ngư, Sơn Trà, Quy Nhơn và Vũng Tầu Mực nước dâng - rút tại các trạm mực

nước khác vào các thời kỳ gió mùa đông bắc và mùa chuyển tiếp

3 Các loại hình khí áp điển hình thời kỳ gió mùa đông bắc

4 Chế độ sóng gió vùng Biển Đông và ven bờ Việt Nam

5 Bảng tổng hợp các điều kiện gió ven bờ, ngoài khơi, khí áp của các tháng xẩy ra vào pha triều cường

6 Tổng kết điều kiện khí tượng thuỷ văn hàng năm trên Biển Đông

7 Bảng Thuỷ triều hàng năm dự tính cho các cảng ven bờ

1.4 Kết quả tổng hợp các đợt mực nước biển dâng cao kết hợp triều cường

Kết quả tập hợp thông tin qua các nguồn khác nhau, kết hợp điều tra, khảo sát được tập hợp trong Bảng 1 Nội dung trong Bảng 1 chỉ ra thời gian xẩy ra theo điều tra thông tin ở địa phương, ngoài ra còn ghi nhận được về tốc độ gió vùng ven bờ nơi xẩy ra mực nước biển dâng, kết hợp với việc xem xét trên bản

đồ synop để chỉ ra tốc độ gió ngoài vùng xa bờ vào cùng thời điểm ở ven bờ Mẫu điều tra ở Bảng 1 còn có thêm thông tin về pha triều và mực nước dâng nếu

có số đo đạc hoặc ước chừng của nhân dân địa phương Ngoài ra trong mẫu điều tra còn tổng hợp lại số liệu về tình trạng hoạt động địa chấn có thể có ở khu vực Biển Đông Địa chỉ các nguồn cung cấp thông tin cũng được tập hợp trong mẫu

điều tra

Bảng 1 Kết quả tổng hợp các đợt mực nước biển dâng dị thường không có

bão trong thời gian tập hợp của đề tài

Tốc

độ (m/s)

và hướng gió ( Ven bờ)

Tốc độ (m/s) và hướng gió ( vùng

xa bờ)

Mực nước dâng

đo

được (M)

Pha triều vào thời

điểm xẩy ra MNbD

Sl về

địa chấn vùng Biển

Đông và lân cận

Nguồn:

Đài KTTVKV Nam Trung Bộ

Trên 16

Kỳ Triều cường

Nguồn:

Đài KTTVKV Nam Trung Bộ

Trang 11

Nguån:

§µi KTTVKV Nam Trung Bé

Kh¶o s¸t cña §Ò tµiViÖn KHCN

Kú TriÒu c−êng

-Kú TriÒu c−êng

-Kú TriÒu c−êng

Kh¶o s¸t cña §Ò tµiViÖn KHCN

Kú TriÒu c−êng

B¸o Tuæi trÎ Th Ph HCM

Kú TriÒu c−êng

Kh¶o s¸t cña §Ò tµiViÖn KHCN

Kú TriÒu c−êng

NgËp lôt

02 lÇn trong ngµy B¸o Tuæi trÎ Th Ph HCM

Kú TriÒu c−êng

Trang 12

-Kú TriÒu c−êng

§oµn Kh¶o s¸t

TT KTTV BiÓn

-Kú TriÒu c−êng

Ngµy ngËp 02 lÇn B¸o Tuæi trÎ Th Ph HCM

ThiÕt

Ngµy:

Th¸ng

-12

2002

16 NE,E

Trªn cÊp

Kú TriÒu c−êng

B¸o Tuæi trÎ Th Ph HCM

B¸o Tuæi TrÎ

Sãng cao, N−íc rót

0,50-Kú TriÒu c−êng

B¸o Tuæi TrÎ

Kú TriÒu c−êng

3

2004

- -

Mùc n−íc biÓn d©ng cao

Kú TriÒu c−êng

§oµn kh¶o s¸t ViÖn §Þa chÊt §Þa vËt lý biÓn

Mùc n−íc biÓn d©ng cao

Kú TriÒu c−êng

B¸o Tuæi TrÎ ThPh HCM

12

E,NE

Mùc n−íc biÓn

Kú TriÒu c−êng

B¸o Tuæi TrÎ ThPh

Trang 13

Mùc n−íc d©ng cao kÐo dµi nhiÒu ngµy Nguån:

§µi VT1, B¸o Tuæi TrÎ ThPh HCM

3m

Kú TriÒu c−êng

B¸o Tuæi TrÎ ThPh HCM

Kú TriÒu c−êng

B¸o Tuæi TrÎ ThPh HCM

B¸o Tuæi TrÎ ThPh HCM

Kú TriÒu c−êng

B¸o Tuæi TrÎ ThPh HCM B¸o Thanh Niªn

§ît TriÒu c−êng kÐo dµi diÖn réng nhiÒu tØnh ch−a tõng xÈy ra

Kú TriÒu c−êng

§oµn Kh¶o s¸t

TT KTTV BiÓn

Trang 14

12 đầu tháng

1 2006)

0,50 0,770 Max 1,88

-1,25 1,22

Kỳ Triều cường

Đoàn Khảo sát

TT KTTV Biển

1.5 Phân tích kết quả tổng hợp số liệu về hiện tượng mực nước biển dâng dị thường

Trên đây mới chỉ ghi nhận được 27 điểm thu thập số liệu, tư liệu và khảo sát hiện tượng triều cường tương ứng với 27 đợt nước dâng lớn không phải do bão xẩy ra trong thời gian từ 1987 đến đầu năm 2006 Chắc chắn còn nhiều đợt sóng lớn khác xẩy ra trong quá khứ tại các vùng ven biển tuy nhiên không được ghi chép lại một cách hệ thống qua các tài liệu nghiên cứu Trong vòng 10 năm gần đây do điều kiện thông tin tốt hơn, chính xác hơn, hiện tượng đã được ghi lại hoặc truyền tin kịp thời vì vậy nhiều cơ quan chuyên môn quan tâm đã tổ chức

được các đoàn khảo sát thực tế tại các vùng xẩy ra sóng lớn

2 Triều cường là tên gọi mà các phương tiện truyền thông cũng như nhân dân địa phương thường gọi để chỉ hiện tượng mực nước biển dâng không

có bão Như vậy ngay tính chất của pha triều này đã gợi mở ra một phần nguyên nhân hiện tượng Tuy nhiên trong quan niệm của nhân dân địa phương hầu hết các hiện tượng sóng lớn gây ngập lụt ven bờ đều được nhận xét là triều cường Vì vậy nhiệm vụ nghiên cứu cần phải phân biệt rõ giới hạn, phạm vi các điều kiện khác kèm theo khi đánh giá hiện tượng

3 Qua kết quả tổng hợp tư liệu và điều tra khảo sát hiện trường 27 đợt mực nước biển dâng kể trên đều không có bão kèm theo Đối chiếu với danh mục bão, khẳng định trong thời gian đó không có bão Thực tế giai đoạn

1999 - 2006 chỉ ghi nhận được 23 đợt triều cường

4 Các đợt mực nước biển dâng đều xẩy ra vào các tháng X, XI, XII và tháng

I, một số ít đợt xẩy ra vào tháng III dương lịch hàng năm

5 Vào thời gian này trùng với thời kỳ con nước triều lớn ở vùng ven bờ biển Việt Nam Nghĩa là thời kỳ thuỷ triều có độ cao lớn và lớn nhất trong

Trang 15

năm Đây là một trong những lý do mà nhân dân địa phương gọi là hiện tượng triều cường

6 Nếu chỉ là hiện tượng triều dâng - rút bình thường xẩy ra từ lâu đời nay thì nhân dân địa phương đã biết đến để lợi dụng khai thác phục vụ đời sống sinh hoạt của mình, ở đây hiện tượng kèm theo những nguyên nhân khác gây đột biến về độ lớn mực nước dâng

7 Qua thống kê điều tra tổng hợp 27 đợt triều cường kể trên cho thấy gío tại các thời điểm xẩy ra hiện tượng phần nhiều là không lớn, thậm chí nhân dân địa phương không có ấn tượng gì về mưa to gió lớn Tuy nhiên ở một

số vùng trong các đợt triều cường có kèm theo mưa nhỏ, thậm chí có đợt kèm theo gió lớn

8 Tại khu vực ven Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận ngày có tới hai lần xẩy

ra mực nước biển dâng cao tràn vào các khu dân cư nơi có vùng đất thấp Thời gian ngập nước này trùng với thời gian triều lên trong ngày

9 Độ lớn mực nước biển dâng cao hơn bình thường từ 0,50 - đến 1m ở Thành phố Hồ Chí Minh, ở các vùng ven biển miền Trung độ cao mực nước biển dâng lên tới xấp xỉ 2 m Độ cao này chưa vượt quá mực nước biển cực đại xẩy ra với tần suất hiếm

10 Các đợt mực nước biển dâng cao trùng vào thời kỳ gió mùa đông bắc có cường độ mạnh duy trì nhiều ngày và tăng cường lấn sâu xuống phía nam Tốc

độ gió NE ở phía bắc hoặc giữa Biển Đông có thể vượt quá 17m/s (Tham khảo các Phụ lục và bản đồ thời tiết kèm theo)

11 Chưa có hiện tượng triều cường xẩy ra vào thời kỳ gió mùa tây nam

12 Hiện tượng mực nước biển dâng này xẩy ra gần như hàng năm, vì vậy đây không còn là hiện tượng xẩy ra với tần suất hiếm Độ lớn mực nước biển dâng ở đây chưa đạt tới giá trị cao nhất với các tần suất hiếm như kết quả các công trình nghiên cứu về mực nước đã công bố tại các vùng ven bờ Việt Nam Các giá trị mực nước biển dâng kèm theo triều cường ở đây thấp hơn mực nước dâng do bão xẩy ra tại các khu vực này

13 Trong số các đợt triều cường xẩy ra có đợt trải rộng trên dải ven biển nhiều tỉnh miền Trung, có đợt chỉ thu hẹp ở một số vùng Như vậy đặt ra vấn đề cần xem xét hiện tượng với các điều kiện đặc thù đường bờ , độ sâu khu vực và quy mô tác động của các nhiễu động khí quyển ở Biển Đông

14 Hiện tượng mực nước biển dâng ở đây có quan hệ với các hiện tượng sóng dài quy mô Biển Đông và lớn hơn Hiện tượng sóng dài tác động có nguyên nhân

từ các nhiễu động khí quyển và các hoạt động địa chấn và các quá trình động lực đặc thù vùng ven bờ liên kết với biển thoáng

15 Để xem xét hiện tượng mực nước biển dâng không có yếu tố bão và có yếu tố hoạt động địa chấn hay không cần có kết hợp đánh giá về địa chấn trong thời kỳ xẩy ra hiện tượng mực nước biển dâng

Trang 16

16 Trong vòng 10 năm gần đây qua các nguồn thông tin, tài liệu không thấy xuất hiện triều cường tại các vùng biển phía bắc Điều này cần phải được tìm hiểu và giải thích

17 Trong thời kỳ gió mùa tây nam tại sao không có hiện tượng dị thường này Đó cũng là câu hỏi cần được giải thích ở mức độ nào đó trong phạm

vi đề tài

18 Trong kết quả tổng hợp trên đây chưa có đủ điều kiện xem xét về các hiện tượng khác như “ nước rươi” ở các tỉnh ven biển miền Bắc và hiện tượng gió Chướng ở các vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long

Trên đây là 18 điểm nhận xét từ kết quả tổng hợp số liệu điều tra, khảo sát hiện tượng mực nước biển dâng dị thường xẩy ra trong khoảng 10 năm gần đây

Từ các nhận xét này đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu để có kết luận về các nguyên nhân gây ra hiện tượng và bước đầu đề xuất một số hướng cảnh báo đề phòng cho các vùng dân cư ven biển Việt Nam

1.6 Tổng hợp bộ số liệu kết quả của đề tài

Đề tài đã tập hợp được một bộ số liệu về hiện tượng mực nước biển dâng cao vào kỳ triều cường Tuy nhiên do hạn chế về kinh phí, thời gian, đề tài chưa tạo riêng một hệ cơ sở dữ liệu mà chủ yếu khai thác từ hai hệ cơ sở dữ liệu được xây dựng theo nguyên lý hệ thông tin địa lý GIS là kết quả của đề tài cấp Nhà nước KNCN 06 13 với các nội dung trường khí áp và trường gió khu vực Biển

Đông Hệ cơ sở dữ liệu thứ hai là hệ quản lý dữ liệu biển Quốc gia VODC 3.1 kết quả của đề tài KC 09 01 về số liệu mực nước, sóng, bão, nước dâng bão Biển

Đông Cả hai cơ sở dữ liệu này hiện tại do chủ nhiệm đề tài quản lý Các nội dung số liệu, tư liệu mới thu thập được trong quá trình thực hiện đề tài hiện tại lưu trữ chủ yếu trong cơ sở dữ liệu VODC 3.1 theo phần chương trình cài đặt của

đề tài xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia mã số KC09 –01 thuộc chương trình biển Nhà nước

Trong khuôn khổ của đề tài này các nguồn số liệu được trích ra từ hai hệ cơ sở dữ liệu kể trên

Bộ số liệu của đề tài bao gồm:

1 Số liệu về động đất vùng Đông Nam á 1990 -2005

2 Thông tin dữ liệu về các đợt triều cường từ 1987 đến 2006 bao gồm kết quả các đợt khảo sát thực địa

3 Bản đồ và kết quả thống kê tần suất các loại hình khí áp Biển Đông vào thời kỳ mùa đông ( 1987 – 2006)

4 Thống kê tần suất xuất hiện gió mùa đông bắc NE vào các tháng X, XI, XII và tháng I của các năm tại các trạm ven bờ và ngoàikhơi của tầu quan trắc khí tượng hoạt động trên Biển Đông (1987 –2002)

Trang 17

5 Tập số liệu và biểu đồ mực nước từng giờ tại các trạm Hòn Dấu, Hòn Ngư, Sơn Trà, Quy Nhơn và Vũng Tầu (1987 –2003) và một số trạm khác có số

Đề tài đặt ra nhiệm vụ xác định nguyên nhân của hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không có yếu tố nước dâng bão Tuy nhiên đối với nguồn tác động của các nguyên nhân do địa chấn, hoạt động động đất, núi lửa trong khu vực Biển Đông đề tài chỉ đặt mục tiêu xem xét ghi nhận hiện tượng có xẩy

ra trong thời gian mực nước biển dâng cao hay không Vì vậy kết quả đánh giá vai trò hoạt động địa chấn chỉ mang tính chất tổng quan và thống kê về thời gian

địa điểm xuất hiện các kỳ địa chấn Tuy nhiên trong suy nghĩ chúng tôi vẫn cho rằng chưa đủ điều kiện để khẳng định trong các đợt triều cường là không có các hoạt động dư chấn xẩy ra trong vùng Biển Đông Vì vậy cần có một số nhận định

về các quan hệ với sóng Thần ở khu vực này

a Tổng quan về các hoạt động địa chấn trong khu vực Biển Đông

Có thể nói các nghiên cứu về sóng Thần không nhiều và không phổ biến, tuy nhiên kỹ thuật phát hiện sóng Thần qua các hệ thống cảnh báo (Trạm quan trắc, ảnh vệ tinh ), thuật toán phân tích dải phổ tần số đã chứng tỏ kết quả phục

vụ rất cao, kịp thời Xu thế nghiên cứu về sóng Thần của các Trung tâm lớn tập trung vào kỹ thuật phát hiện sớm, xây dựng ra các kênh để cảnh báo cho các khu

vực được phân công bảo vệ Mặt khác do các điều kiện, đặc điểm cấu trúc kiến

tạo, địa động lực vỏ Trái Đất, các nguồn động đất khác nhau, địa hình, độ sâu,

đường bờ, độ dốc đáy, vai trò của các thảm thực vật như rừng ngập mặn, dải san hô khác nhau dẫn đến vai trò tác động của sóng Thần đối với các khu vực là khá

Trang 18

qua các hệ thống cảnh báo, đối với mỗi khu vục bờ biển cần chuẩn bị trước các kịch bản để đánh giá các mức độ ảnh hưởng kèm theo các biện pháp phòng

chống có hiệu quả hơn Nhiệm vụ tính toán sự lan truyền sóng lớn xung quanh

tâm chấn động đã được mô phỏng bằng rất nhiều mô hình số trị chẳng hạn mô hình POM có thể thực hiện được điều đó, tuy nhiên đây chỉ là nhiệm vụ mô phỏng kết hợp với các điều kiện địa phương để xây dựng ra các kịch bản đối phó, trong đó có nhiệm vụ xây dựng ra các loại bản đồ để cảnh báo nguy cơ cũng như cảnh báo độ lớn sóng tại mỗi lưu vực, khu vực bờ, vùng biển khác nhau Sóng Thần được hình thành khi khối nước bị dịch chuyển dao động về vị trí cân bằng dưới tác động của lực trọng trường Sóng Thần dao động dịch chuyển toàn bộ khối nước lớn với diện tích bề mặt, thể tích lớn ngầm sâu trong lòng biển với bước sóng dài trên 300 km và chu kỳ có thể đạt tới 1gìơ, bước sóng lớn hơn rất nhiều so với độ sâu biển tại đó Vận tốc truyền sóng tỷ lệ thuận với căn bậc hai tích gia tốc trọng trường (g) với độ sâu biển (H) Trong khi đó tốc độ thất thoát năng lượng lại tỷ lệ nghịch với bước sóng Chính vì vậy khi sóng Thần hình thành trong lòng đại dương gây rất ít xáo trộn trên bề mặt biển, thất thoát năng lượng rất ít trên đường truyền Trên đại dương khi sóng Thần hình thành và lướt qua dưới các tầu biển mà không gây chấn động lớn để có thể dễ phát hiện

Xây dựng bản đồ cảnh báo nguy cơ sóng Thần quan điểm chung là phải

gắn kết với kết quả phân vùng các nguồn động đất, hoạt động núi lửa và các đặc

điểm hoạt động kiến tạo khác Khi đã xác định được có sóng Thần đang hình thành và phát triển bài toán trở nên đơn giản hơn rất nhiều Khi đó trở lại bài toán mô phỏng, dự báo sự lan truyền sóng trong các điều kiện thuỷ lực xác định

Để đánh giá mức độ tác động của sóng Thần cần các thông số về cường độ nguồn phát sóng và xem như đây là các điều kiện ban đầu của các bài toán thuỷ

động lực đã được biết Khi đã có đủ thông tin về nguồn động đất, địa chấn và

các điều kiện thủy động lực khác ta có thể dễ dàng thực hiện bài toán mô phỏng quá trình truyền tải sóng thần vào các vùng ven bờ

Xây dựng bản đồ nguy cơ sóng thần của viện Khí tượng Thuỷ văn do TS

Vũ Thanh Ca chủ nhiệm đang trong giai đoạn hoàn thành Đề tài cấp cơ sở của

TS Nguyễn Văn Lương về đặc điểm biến dạng vỏ Trái Đất trong các hệ đứt gẫy sâu ven biển Việt Nam đã đưa ra được danh mục các vùng nguồn động đất khu vực Biển Đông xem như đây chính là điều kiện xẩy ra sóng sóng Thần với các mức độ khác nhau

Hiện tại GSTS Nguyễn Đình Xuyên đang chủ trì thực hiện đề tài cấp Viện

Khoa học và Công nghệ Việt Nam “Đánh giá độ nguy hiểm sóng thần đối với dải ven biển Việt Nam” [5] Đề tài này có tính chất bước đầu điều tra thực trạng các loại sóng lớn đã từng xẩy ra ở Biển Đông và dải ven biển Việt Nam, trong đó chủ yếu xác định nguy cơ xẩy ra sóng Thần ở vùng Biển Đông với các xác suất khác nhau

Trang 19

Một số kết quả nghiên cứu bước đầu của các nghiên cứu này đã cho biết

dù động đất có mạnh bao nhiêu và gây sóng Thần có độ cao lớn đi chăng nữa nếu nằm ngoài Biển Đông thì cũng không thể tạo ra sóng Thần ảnh hưởng đến

bờ biển và hải đảo nước ta Tuy nhiên theo thống kê của UNESCO - IOC trong tài liệu IOC Information Document No 1221, 2006 cho thấy từ năm 1927 đến nay đã có 62 đợt sóng Thần xẩy ra trong phạm vi Biển Đông khu vực Việt Nam, tây nam Philippine Phần lớn các đợt sóng Thần này xẩy ra tại các vùng biển Luzon, Su Lu,CeLebes và Taal, bắc và đông bắc Biển Đông, duy chỉ có một đợt sóng thần xẩy ra tại vùng tây bắc Biển Đông

Qua thống kê của tài liệu này cho thấy khả năng xuất hiện sóng Thần ở Biển Đông là khá lớn Nguồn động đất gây sóng Thần chủ yếu là đới đứt gẫy Philippine mà các tài liệu thường gọi là đới hút chìm phía đông Biển Đông Sát bờ biển nam Trung Quốc nhiều tài liệu đã chứng minh rằng đây cũng là một nguồn có khả năng gây sóng Thần cho khu vực bắc Biển Đông Vì vậy cần có các nghiên cứu đánh giá về khả năng xuất hiện sóng Thần tác động đến

bờ biển Việt Nam ở các mức độ khác nhau Như trên đã đề cập đến trong phạm vi của đề tài này vấn đề sóng Thần chỉ được xem xét ở mức độ tổng quan Việc tìm hiểu này nhằm mục đích để nói rằng chưa thể loại trừ có sóng Thần xẩy ra vào các thời kỳ triều cường Có một điều thực tế qua tổng hợp số liệu, tư liệu cho thấy có rất ít đợt địa chấn xẩy ra vào thời kỳ mực nước biển dâng cao kỳ triều cường Bước đầu đề tài cũng mới chỉ đặt ra nhiệm vụ loại trừ trực tiếp thống kê về các thời gian xẩy ra các hiện tượng này

b Đánh giá vai trò của các dao động địa chấn khu vực Biển Đông trong mối quan hệ với hiện tượng mực nứớc biển dâng dị thường xẩy ra ở ven bờ Việt Nam

Với bản chất là hệ sóng dài phát triển trong bất kỳ điều kiện khí quyển

và thuỷ quyển trên quy mô lớn và Biển Đông, sóng Thần có thể xẩy ra cùng với kỳ triều cường và ảnh hưởng trực triếp tới các vùng bờ Việt Nam Vì vậy trong quá trình xem xét đánh giá nguyên nhân của hiện tượng mực nước biển dâng cao dị thường cần phải chú ý tới các hoạt động địa chấn và khả năng gây

ra sóng Thần Như trên chúng tôi đã đặt vấn đề trong nghiên cứu này chỉ bước

đầu tìm hiểu quan hệ giữa hiện tượng động đất, hoạt động núi lửa với các kỳ mực nước biển dâng cao dị thường tại các vùng ven biển Việt Nam Các dao

động địa chấn ghi nhận được tại vùng Biển Đông và lân cận là một nguồn số liệu đáng quý, tuy nhiên khai thác chúng tiếp cận với các dao động mực nước lại là một vấn đề rất phức tạp và trước mắt còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế

về tư liệu, số liệu mực nước thực đo Do vậy chúng tôi chỉ giới hạn xem xét trong khoảng thời gian giới hạn và tập trung vào các đợt động đất lớn xẩy ra ở Biển Đông và lân cận Một tổ hợp mực nước biển dâng cao với nguyên nhân

từ các dao động sóng dài có quy mô lớn trong môi trường nước và không khí tác động đến vùng Biển Đông rõ ràng cần phải được xem xét trong các nghiên cứu tiếp

Trang 20

Từ kết quả tổng hợp danh mục các kỳ xẩy ra địa chấn khu bực Đông Nam

á, đối chiếu với thời gian xẩy ra mực nước biển dâng dị thường ta nhận thấy chỉ

có một số ngày trùng nhau

Trong thời gian 10 năm gần đây kể cả đợt triều cường cuối năm 2005 đầu

2006 số lần trùng hợp là rất ít Trong thời gian 1990 -2005 trong khu vực Biển

Đông xẩy ra 150 trận động đất lớn nhỏ khác nhau (Bảng 2 Danh mục động đất khu vực Biển Đông trong giai đoạn 1990 - 2005)

Trong tổng số 27 điểm thu thập số liệu, khảo sát đo đạc mực nước biển dâng dị thường ở Bảng 1 và từ kết quả ở Bảng 2 ta nhận thấy chỉ có 3 lần thời gian xẩy ra động đất và thời gian xẩy ra triều cường trùng lặp nhau Có 1 lần xẩy

ra động đất ở giữa Biển Đông tuy nhiên lại không ghi nhận được ngày chính xác xẩy ra triều cường, 3 lần khác xẩy ra động đất ở khu vực bắc Biển Đông đồng thời với thời gian xẩy ra hiện tượng triều cường ở Bình Thuận, Phú Yên và Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả thể hiện trong Bảng 3 thời gian trùng hợp xẩy ra động

đất hoặc núi lửa với kỳ xẩy ra mực nước dị thường

Mặc dù mới chỉ phát hiện ra 03 đợt động đất xẩy ra ở khu vực bắc Biển

Đông trùng với thời gian xẩy ra 3 đợt triều cường (trong tổng số 27 đợt triều cường ghi nhận được) Có 1 đợt động đất xẩy ra ở khu vực giữa Biển Đông tuy nhiên không ghi nhận được số liệu có triều cường hay không, các đợt địa chấn khác với các cường độ khác nhau có quan hệ như thế nào với các đợt triều cường

đề tài chưa thống kê được, vì vậy chúng tôi nhận thấy chưa đủ điều kiện để loại

bỏ ảnh hưởng của các dao động địa chấn trong khu vực đối với hiện tượng mực nước biển dâng dị thường xẩy ra ở ven bờ Việt Nam Điều khá đặc biệt là cả 3

đợt động đất này đều có cường độ lớn trên 6 độ R Bảng 2 dưới đây chỉ trích ra các đợt động đất trong thời gian 15 năm trở lại đây phù hợp với thời gian thu thập các đợt mực nước biển dâng cao kỳ triều cường ở Việt Nam

Bảng 2: Danh mục động đất khu vực Biển Đông trong giai đoạn 1990 - 2005

( Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Đình Xuyên [5])

Trang 24

Bảng 3 Tổng hợp các đợt mực nước biển dâng dị thường xẩy ra trùng với

thời gian xẩy ra động đất trong khu vực Biển Đông

Độ lớn mực nước dâng thực đo

Động đất ở Bắc Biển Đông

Đông trùng với thời gian xẩy ra triều cường ở Phú

Đông trùng với thời gian xẩy ra triều cường

Trang 25

Kết quả ở Bảng 2 trên đây cho thấy trong 150 đợt động đất xẩy ra 1990

-2005 chỉ có 3 đợt trùng vào thời gian xẩy ra triều cường như đã thống kê ở Bảng

3 Còn lại 24 trường hợp khác khi xẩy ra hiện tượng triều cường không ghi nhận

có động đất và các dư chấn khác

Như vậy có thể nhận xét rằng nguyên nhân hiện tượng mực nước biển dâng dị thường xẩy ra vào các kỳ triều cường còn có các nguyên nhân khác thường xuyên và đóng vai trò quan trọng hơn Số liệu ghi trong Bảng 2 chỉ là phần trích ra trong bộ số liệu về động đất đã được tập hợp trong bộ số liệu của đề tài

Các nguyên nhân khác có thể là sự cộng hưởng tần số của một số loại sóng dài, trong đó phải kể đến các loại sóng nội bao gồm các dao động thành phần triều nội kết hợp với sự biến tính của hệ thống sóng Rossby phát triển từ

đông sang tây Thái Bình Dương Đây là những vấn đề phức tạp cần có điều kiện nghiên cứu sâu hơn về sau này Trước mắt trong phạm vi của đề tài các nội dung này chưa được đề cập đến Mặt khác cần lưu ý tại các khu vực xẩy ra hiện tượng sóng lớn ở miền Trung và Đông Nam Bộ là các vùng biển thoáng liên kết với các vùng nước ven bờ, hiệu ứng bơm Ekman từ vùng biển sâu vào vùng ven bờ cần

được xem xét đến trong phạm vi đề tài xem như đây là phương pháp lý giải hiện tượng mực nước biển dâng cao tại các khu vực ven bờ Việt Nam

Do tính chất đặc biệt hiện tượng mực nước biển dâng dị thường xẩy ra vào các thời kỳ dao động thuỷ triều có độ lớn nhất trong năm tức là vào thời kỳ đông chí, chúng tôi định hướng tập trung vào nguyên nhân của nhóm tác động từ các

điều kiện khí tượng và các trường sóng gió phát triển ở Biển Đông Nhóm các yếu tố tác động này bao gồm: Giá trị về độ lớn thuỷ triều, giá trị mực nước thực

đo, giá trị về độ cao sóng, điều kiện phát triển gió trong hệ thống gió mùa đông bắc (NE) kèm theo hệ thống khí áp mặt biển Cuối cùng để xem xét đánh giá vai trò hệ sóng lừng phát triển trong thời kỳ gió mùa đông bắc (NE) và gió mùa tây nam (SW) đối với quá trình hình thành mực nước biển dâng dị thường xẩy ra tại một số vùng ven bờ Việt Nam

2.2 Đặc điểm thống kê dao động mực nước tổng cộng thời kỳ xẩy ra mực nước biển dâng cao dị thường

Nguồn gốc số liệu

Đề tài đã tập hợp được bộ số liệu mực nước tự ghi tại các trạm tiêu biểu: Hòn Dấu, Sơn Trà, Quy Nhơn và Vũng Tầu trong thời gian 10 năm gần đây (Phụ lục 3) Trong Phụ lục 3 cũng chỉ trích ra phần số liệu cực đại trong bộ số liệu cực trị và mực nước từng giờ mà đề tài đã tập hợp được Bộ số liệu này sẽ

được mô tả tổng hợp trong mục xây dựng bộ số liệu của đề tài

Từ các chuỗi số liệu này đã chọn ra các giá trị cực đại và cực tiểu từng ngày và thể hiện trên các biến trình nhiều năm Như vậy giá trị mực nước tổng cộng cực trị từng ngày đã phản ánh cơ bản xu thế biến đổi mực nước tại mỗi khu vực Rất tiếc tại chính các khu vực xẩy ra triều cường lại không có đủ các trạm

Trang 26

đo mực nước từng giờ Chính vì vậy tại các vùng xẩy ra mực nước dâng dị thường phải tổ chức khảo sát đo đạc sau các đợt mực nước biển dâng dị thường

Nguồn số liệu thứ hai rất quan trọng thông qua kết quả của Bảng Thuỷ triều dự tính hàng năm để đánh giá pha, tính chất và độ lớn thuỷ triều tại các trạm đại diện trong khu vực xẩy ra hiện tượng mực nước biển dâng cao vào các

kỳ triều cường Mục đích của việc xem xét đánh giá này là xác định dao động mức nước triều trong thời kỳ này có gì đột biến về tính chất và độ lớn Độ lớn thuỷ triều thường cao nhất vào các tháng cuối và đầu năm như đã giải thích ở trên

a Dao động mực nước tổng cộng

Nhận xét về mực nước tổng hợp qua các biểu đồ biến trình mực nước cực trị

được trích dẫn ra ở đây (Hình 1), đối với các trạm còn lại được thể hiện trong Phụ lục Vào các tháng X, XI, XII và tháng I biến trình mực nước tự ghi đều phản ánh giá trị cao nhất trong năm (Hình 1)

Dao động mực nước tại các trạm Hòn Dấu, Sơn Trà, Quy Nhơn và Vũng Tàu trong một

ng à y

Trang 27

Giá trị cực đại mực nước tại trạm Quy Nhơn, năm

ng à y

Để đánh giá về biến trình mực nước cực đại chúng tôi đã khai thác và sử dụng giá trị mực nước từng giờ tại 5 trạm quan trắc mực nước bằng máy tự ghi trong thời gian 1986- 2005: Trạm Hòn Dấu, Hòn Ngư, Sơn Trà, Quy Nhơn và trạm Vũng Tầu Kết quả thể hiện trên Hình 1 của các trạm Hòn Dấu, Sơn Trà, Quy Nhơn và Vũng Tầu với biến trình đại diện của 2 năm 2000 và 2005 Các

đường biến trình này đều thể hiện một đặc điểm nổi bật là giá trị mực nước cực

đại thường xẩy ra vào các tháng cuối năm và đầu năm Tại các trạm miền Trung

và Vũng Tầu các giá trị cực đại này là rất rõ, điều này khẳng định tính chất mực nước biển dâng cao vào các kỳ Triều cường

Giá trị cực đại mực nước tại trạm Sơn Trà, năm

1 31 61 91 121 151 181 211 241 271 301 331 361

ngày

Trang 28

Giá trị cực đại mực nước tại trạm Vũng Tàu, năm

b Phân tách dao động mực nước phi điều hoà

Mục tiêu của chuyên mục này là đánh giá định lượng thành phần dao động phi điều hoà trong dao động mực nước biển tổng cộng tại một số trạm dọc ven

bờ Bằng cách lọc trực tiếp thông qua hai thành phần thuỷ triều và thành phần dao động dâng rút do các lực phi điều hoà Kết quả cần đạt được là chỉ ra bậc dao động phi điều hoà tức là thành phần dao động khác không phải do lực tạo triều gây ra

Số liệu mực nước thực đo tại 6 trạm với chuỗi thời gian trong khoảng 10 -

30 ngày vào các tháng VIII, IX, X và XI Trong đó có hai tháng đại diện cho thời

kỳ gió mùa đông bắc mạnh và hai tháng vào các thời kỳ chuyển tiếp Kết quả thống kê thể hiện trên Bảng 4 Đặc biệt quan trọng là có hai chuỗi đo trùng vào thời kỳ xẩy ra hiện tượng mực nước biển dâng cao vào kỳ triều cường tại Sa Huỳnh Quảng Ngãi 10 tháng 12 ănm 2000 và đợt xẩy ra tại Thàng phố Hồ Chí Minh 15 tháng 10 năm 2004 gần sát với thời gian chuỗi đo tại Mũi Né, Bình Thuận.

Như trên đã nói đến mục đích của việc xem xét đánh giá bậc giá trị dao

động mực nước phi điều hòa chênh lệch với dao động thuỷ triều là bao nhiêu trong các điều kiện khác nhau về thời gian, vị trí trạm Các giá trị này có tính chất tham khảo để có thể biết được độ chênh lệch giữa hai dao động này là bao nhiêu Rất có thể trong điều kiện không có triều cường nhưng độ chênh lệch dao

động phi điều hoà vẫn rất lớn xẩy ra và mực nước biển dâng cao dị thường vào các khu vực ven bờ có cao trình cao và không gây ngập lụt đáng kể Chưa phân tách được rõ ràng tính quy luật về sự trùng khớp giữa các pha triều với các dao

động khác Ngay cả trường hợp bão có đổ bộ đúng vào các kỳ triều cường không, hiện tại chưa có tài liệu nào khẳng định được đã quan trắc thấy bão đổ bộ

đúng vào kỳ triều cường, mặc dù không có cơ sở lý thuyết để nói rằng bão không

đổ bộ vào kỳ triều cường

Trang 29

Bảng 4 Thống kê số liệu đo mực nước tại 6 trạm

STT Tờn Trạm Kinh Độ Vĩ Độ Thời gian đầu Thời gian kết thỳc

1 Cảng Thuận An - Huế 10736'' o 37' 1654'' o 32' 10/8/1997 24/08/1997

2 Chơn Mõy – Huế 10724'' o 58' 1636' o 18' 11/9/1997 10/10/1997

3 Sa Huỳnh - Quảng Ngói 10916'' o 04' 1430'' o 39' 25/10/2000 10/11/2000

4 Sa Kỳ - Quảng Ngói 108 o 55' 15 o 13' 20/11/2000 10/12/2000

5 Cà Nà – Ninh Phước - Ninh Thuận 10807'' o 53' 1120'' o 20' 26/10/1998 31/10/1998

6 Mũi An Hũa – Đà Nẵng 10910'' o 40' 1512'' o 30' 19/10/1998 28/10/1998

7 Mũi Nộ - Bỡnh Thuận 10836'' o 16' 1036'' o 55' 20/9/2004 3/10/2004

Các chuỗi số liệu trên đã được xử lý và và tính toán xác định bộ hằng số điều

hoà thuỷ triều và thực hiện dự tính thuỷ triều theo thời gian thực quan trắc tại 6 trạm kể trên Kết quả dự tính thuỷ triều đã cho phép tách được các thành phần dao động phi điều hoà trực tiếp từ các đường biến trình dao động Kết quả dự tính thuỷ triều, tách dao động phi điều hoà và đại lượng dao động dâng rút tai 6 trạm được thể hiện trên các hình dưới đây

Hình 2 Biến trình mực nước từ 10/8/1997 đến 24/08/1997

Trạm: Thuận An - Huế

Vào mùa chuyển tiếp hệ thống gió (Tháng VIII) tại trạm Thuận An đại lượng dâng lên tới 52cm Phần lớn giá trị mực nước dâng vào thời kỳ nước lớn dao động trong khoảng 30 –35 cm Như vậy tại vùng Thuận An nơi có biên độ triều thấp nhất, dao động thuỷ triều nhỏ, trong khi đó dao động phi điều hoà lại

Trang 30

Tại Chơn Mây- Huế trong thời gian từ 11 -9 đến 10-10 - 1997, số liệu mực nước cho thấy mực nước dâng cao nhất lên tới 90 cm Hiện tượng này chưa có đủ

điều kiện để giải thích Vì trong thời gian này chúng tôi không xác nhận được có hiện tượng mực nước biển dâng dị thường hay không, đồng thời qua số liệu địa chấn thời gian này không có dấu hiệu động đất trong khu vực Dao động mực nước biển dâng tại trạm này vào thời gian này phần lớn có giá trị khoảng 30 cm

Tại trạm Sa Huỳnh Quảng Ngãi chuỗi đo 25-10 đến 10-11- 2000, đại lượng nước dâng cao nhất ghi được là 42 cm, tuy nhiên phần lớn giá trị này chỉ dao động trong khoảng 20 cm Đây là thời gian xẩy ra đợt mực nước biển dâng

dị thường kéo dài về thời gian và trải dải suốt dọc bờ miền Trung

Chuỗi mực nước thứ hai ghi được trong thời gian 26 -11 đến 10-12 - 2000 hoàn toàn trùng vào thời gian xẩy ra đợt triều cường ở khu vực biển này Đại lượng mực nước dâng cao nhất lên tới 28 cm, tuy nhiên phần lớn đại lượng này chỉ dao động trong khoảng 20 cm

Hai chuỗi số liệu này ghi được trùng với thời gian xẩy ra hiện tượng triều cường, tuy nhiên đại lượng nước dâng lại không lớn, trong khi đó tại điểm khảo sát của đoàn khảo sát Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển đã cao đạc được mực nước này lên tới 1,8m Điều này chỉ có thể giải thích rằng hai vị trí trạm đo mực nước và điểm khảo sát cách xa nhau và thời gian xẩy ra mực nước biển dâng cao khác nhau, chưa đủ điều kiện làm rõ

Chuỗi đo tại trạm Mũi Né - Bình Thuận từ 24-9 đến 3-10 -2004 nằm trong thời gian xẩy ra mực nước biển dâng cao dị thường xẩy ra tai khu vực này và trải dài tới Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên qua chuỗi đo mực nước này sau khi phân tích đại lượng nước dâng cao nhất cũng chỉ khoảng 30 cm Mặc dù vậy đợt triều cường này đã gây ra ngập lụt đáng kể cho khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Qua các kết quả trên cho thấy vào thời kỳ triều cường tại các vùng như Sa Huỳnh, Thành phố Hồ Chí Minh với mực nước dâng trên bình thường khoảng 30

cm đã gây ra ngập lụt do tính chất bất thường và trải dài trên diện rộng Trong khi đó đại lượng này cỏ thể lên tới 52 cm xẩy ra tại vùng Thuận An vào thời kỳ triều thấp đã không gây ra biến động lớn về ngập lụt tại đây Kết quả phân tích,

xử lý số liệu mực nước tổng cộng, mực nước triều và độ lớn dâng – rút được thể hiện trên các Hình 2-8

Trang 31

Hình 5 Biến trình mực nước từ 26/11/2000 đến 10/12/2000 trạm Sa Kỳ -

Quảng Ngãi

Trang 33

c Nhận xét về độ lớn triều trong các kỳ xẩy ra mực nước biển dâng dị thường

Theo kết quả từ Bảng dự tính thuỷ triều hàng năm [6] vào các tháng cuối năm và đầu năm độ lớn thuỷ triều đạt giá trị lớn nhất trong năm đúng vào thời kỳ

đông chí theo quỹ đạo elip Trái Đất ở gần Mặt Trời nhất Tính chất pha triều tại các trạm đại diện vào các tháng X, XI, XII và tháng I tổng kết trong Bảng 1 tổng hợp mực nước biển dâng dị thường

Điều này giải thích vì sao nhân dân địa phương ven biển gọi là triều cường khi mực nước biển dị thường dâng cao trùng vào thời kỳ thuỷ triều có độ lớn nhất trong năm Kết hợp với các đường biểu diễn mực nước tổng cộng như trong Hình 1 và Phụ lục 4 ta nhận thấy cực đại dao động mực nước tổng cộng trùng với thời kỳ triều cực đại trong năm

2.3 Đặc điểm thống kê tần suất xuất hiện các loại hình khí áp, gió xẩy ra vào thời kỳ triều cường.

Như ở trên đã đề cập đến các khoảng thời gian xẩy ra hiện tượng triều cường đề tài đã trở lại xem xét các bản đồ khí áp bề mặt Biển Đông từ kết quả tổng kết các đề tài KT 03 03 [4], KHCN 06 13 [3] và [2] về các trường khí áp Biển Đông

Các kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các bản đồ phân bố khí áp bề mặt Biển Đông trong khoảng 40 năm gần đây cho thấy: áp cao lạnh lục địa châu á phát triển đến giai đoạn cực đại khi có điều kiện thuận lợi sẽ bột phát xuống phía nam Thông thường ở các điều kiện này không có các fron lạnh kèm theo Biển

Đông nằm ở ría nam của cao áp này, đây là loại hình thế khí áp gây gió mùa

đông bắc ổn định với cường độ mạnh Hình thế khí áp này thường xuất hiện từ tháng 10 năm trứớc đến tháng 4 năm sau, tập trung mạnh vào tháng 11, 12 năm trước đến tháng 1 năm sau Thời gian tồn tại loại hình khí áp này ở Biển Đông là 2,5 ngày một đợt

Hình thế gió mùa đông bắc tăng cường kết hợp với rãnh ngang ở phía nam Biển Đông Đây là loại hình thế khí áp gây gió mùa đông bắc thường ổn định ở Biển Đông và thường gây ra hiện tượng gió chướng ở khu vực Nam Bộ Hình thế khí áp này tồn tại từ tháng 10 năm trước đến tháng 1 năm sau tập trung vào các tháng 10, 11 hàng năm Trung bình mỗi đợt kéo dài 3 ngày

Trên đây là hai loại hình thế khí áp có quan hệ trực tiếp với cao áp lạnh lục

địa châu á phát triển mạnh xuống phía nam gây nên các loại hình gió mùa đông bắc đặc biệt ở Biển Đông Loại hình khí áp khác liên quan đến sự dịch chuyển của khối khí áp cao lục địa châu á lệch khỏi lục địa và dừng lại ở phía đông Trung Quốc Biển Đông nằm ở rìa tây nam khối khí lạnh này và thường lấn sâu xuống phía tây nam Biển Đông Đây là loại hình khí áp có thời gian tồn tại lâu nhất ở Biển Đông 4-5 ngày một đợt và thường xuất hiện mạnh vào các tháng 11

và tháng 12 hàng năm Cả 3 loại hình khí áp kể trên đều tồn tại sự chênh lệch khí

Trang 34

khí áp thấp ở tây nam Biển Đông gần vùng bờ đông Nam Bộ.( Tham khảo các các bản đồ khí áp trong thời kỳ triều cường tháng 12 năm 2000 xẩy ra ở tỉnh Phú Yên)

Dưới đây là các bản đồ thời tiết thể hiện các hình thế khí áp Biển Đông

điển hình trong thời kỳ xẩy ra hiện tượng triều cường tại miền Trung tháng 12 năm 2000

Bản đồ thời tiết bề mặt Biển Đông

Thời gian: 13 giờ VN ngày 11/12/2000

Bản đồ thời tiết bề mặt Biển Đông Thời gian: 07 giờ VN ngày 13/12/2000

Bản đồ thời tiết bề mặt Biển Đông

Thời gian: 07 giờ VN ngày 10/12/2000

Bản đồ thời tiết bề mặt Biển Đông Thời gian: 19 giờ VN ngày 12/12/2000

Trang 35

Bản đồ thời tiết bề mặt Biển Đông

Thời gian: 13 giờ VN ngày 13/12/2000

Bản đồ thời tiết bề mặt Biển Đông Thời gian: 13 giờ VN ngày 12/12/2000

Trang 36

Và các bản đồ mặt đất phân tích trong các ngày có triều cường tháng 11 năm 2006

Trang 37

Các bản đồ thời tiết minh hoạ trên đây cho hai kỳ triều cường xẩy ra năm

2000 và 2006 đã khẳng định cho những nhận xét về đặc diểm điển hình phân bố trường khí áp, gió trên vùng Biển Đông Chênh lệc khí áp tại khu vực phía bắc và nam Biển Đông là lớn nhất trong các loại hình khí áp ở Biển Đông, tốc độ gió vùng ngoài khơi và ven bờ rất chênh lệch nhau Có sự xuất hiện vùng khí áp thấp nhỏ ở gần sát bờ đông Nam Bộ Những dấu hiệu synop này sẽ là cơ sở để đặt ra nội dung cảnh báo hiện tượng mực nước biển dâng cao dị thường

Qua kết quả thống kê với tập số liệu 30 năm liên tục của đề tài KHCN 06

013 [3] cho thấy 41,1% tổng số ngày bị ảnh hưởng trực tiếp của cao áp lạnh gắn liền với các hình thế khí áp gió mùa đông bắc, trong khi đó số ngày có liên quan

đến gió mùa tây nam chỉ chiếm 16,6% xếp vị trí thứ hai sau các hình thế gió mùa

đông bắc Điều này chứng minh rằng gió mùa đông bắc chiếm vị trí quan trọng chế độ gió Biển Đông

Đề tài đã thu thập và thống kê các yếu tố gió, khí áp, sóng vùng ngoài khơi và ven bờ Biển Đông vào các tháng X, XI, XII và tháng I của các năm

1978, 1987, 1980 và 1986 Kết quả tập hợp trong Bảng 10 -12 dưới đây Các kết quả thống kê này mang tính chất đại diện cho thời kỳ gió mùa đông bắc mạnh kết hợp với các kỳ triều cường vùng ven bờ Bảng 10 -12 dưới đây chỉ đưa ra số liệu thống kê đại diện cho các tháng X, XI, XII và tháng I cho một số năm, các năm khác tập hợp trong các Phụ lục và trong bộ số liệu của đề tài

2.4 Tần suất độ cao sóng gió trong kỳ gió mùa đông bắc

Trên đây đã xem xét đánh giá về chế độ gió Xét về các chuỗi số liệu quan trắc sóng, có nhiều trạm ven bờ quan trắc được hướng và độ cao sóng nhưng lại không quan trắc được chu kỳ Nói cách khác, số trạm quan trắc đồng thời cả ba yếu tố sóng là: hướng, độ cao và chu kỳ dọc ven bờ biển Việt Nam không nhiều

Để có được những đặc trưng chế độ sóng cần thiết, trong báo cáo này đã lựa chọn những chuỗi số liệu đại diện cho các vùng biển gần bờ có đủ cả ba yếu tố sóng nêu trên ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ có trạm Cửa Tùng với chuỗi số liệu quan trắc sóng tuy không dài (Bảng 5) nhưng cũng có được 7 năm liên tục từ

1961 đến 1967 có đủ ba yếu tố: hướng, độ cao, chu kỳ sóng Chuỗi số liệu này

đã được chọn để thiết lập bảng tần suất sóng Đối với vùng biển Trung Trung Bộ,

ở đó có trạm Sơn Trà, nhưng tiếc rằng không quan trắc được chu kỳ Với lí do trên, chuỗi số liệu Ship từ những năm 1966 đến những năm 1980 được sử dụng Ngoài ra, những năm gần đây để phục vụ cho khu vực xây dựng cảng Dung Quất và các công trình khác ở Quảng Ngãi, các nhà đầu tư và thiết kế đã đặt hai trạm quan trắc sóng tự động tại vùng biển Đà Nẵng và Kỳ Hà đã có được những chuỗi số liệu tuy không dài nhưng có độ tin cậy cao, đặc biệt các chuỗi số liệu

đó lại tập trung vào thời kì gió mùa Đông Bắc từ tháng 10/1998 đến tháng 3/1999 [7]

Trang 38

Bảng 5 : Các trạm và thời kì quan trắc sóng (Gồm yếu tố: hướng, độ cao, chu kỳ sóng)

Đông Bắc thịnh hành và cũng là các tháng thường quan trắc thấy triều cường ở khu vực này Cuối cùng là các bảng tần suất sóng thuộc trạm Bạch Hổ (tiêu biểu cho vùng biển Vũng Tàu - Côn Đảo) Cần nhấn mạnh rằng, do gặp những khó khăn trong việc thu thập số liệu sóng tại dàn khoan Bạch Hổ cho nên trong báo cáo này đã chọn chuỗi số liệu quan trắc liên tục tại đây từ năm 1993 đến 1997 thuộc các tháng có gió mùa Đông Bắc thịnh hành (từ thàng mười năm trước đến tháng giêng năm sau)

Trang 39

Bảng 6 Đặc trưng sóng lớn nhất quan trắc trong các tháng X, XI, XII và

tháng I tại một số trạm, vùng có số liệu

Các yếu tố sóng lớn nhất Tên

trạm Tháng Hướng Độ cao

(m) Chu kỳ (s)

Tần suất (P%)

sóng gió tương ứng với các khu vực thường xẩy ra triều cường

Về đặc trưng chế độ sóng vùng ven bờ khu vực Cửa Tùng

Tháng X: Sóng có chiều cao lớn nhất là 3.3m, chu kỳ khoảng 7 - 8s,

hướng sóng là Đông (E), sóng này có tần suất rất nhỏ, chỉ khoảng 0.4% Sóng có

chiều cao 3.0m với chu kỳ khoảng 10s chiếm 0.2% Sóng hướng Đông - Nam

(SE) có tần suất khoảng 19% Theo hướng truyến sóng này chiều cao sóng lớn

nhất đạt 2.8m

Tháng XI: Sóng lớn nhất có chiều cao 3.0m với chu kỳ từ 8 - 9s, chiếm

khoảng 0.5%, hướng thịnh hành của loại sóng này là Tây (W) Sóng hướng Đông

- Nam (SE) có chiều cao lớn nhất là 2.2m, có tần suất 0.4%

Tháng XII: Sóng lớn nhất có hướng Đông - Bắc (NE), chiều cao 3,6m với

chu kỳ dao động trong khoảng từ 7 - 9s Sóng có chu kỳ dài 9 - 10s có chiều cao

3.0m chỉ quan sát thấy một lần trong 7 năm

Tháng I: Sóng lớn nhất có chiều cao 3.6m, chu kỳ 7 - 8s, hướng Đông -

Bắc (NE) có tần suất khoảng 1% Sóng có hướng Đông - Nam (SE) có tần suất

Trang 40

Đặc trưng chế độ sóng trong gió mùa Đông Bắc thịnh hành vùng biển Trung Trung Bộ

Trong các tháng gió mùa Đông Bắc thịnh hành, ở vùng biển Trung Trung

Bộ sóng có hướng Bắc (N), Đông - Bắc (NE) và Đông (E) chiếm đa số Số liệu

đưới đây tập hợp từ nguồn số liệu của các tàu biển quan trắc khí tượng (VOS) hoạt động ngoài khơi vùng biển Dung Quất

Bảng 7 Tần suất hệ thống gió mùa đông bắc vùng Trung Trung Bộ

X 80

XI 95 XII 98

Qua các bảng thống kê sóng lớn nhất quan trắc được ở vùng biển Trung Trung Bộ theo số liệu Ship (Bảng 5) có độ cao từ 5.0 - 8.0m với chu kỳ 9 - 11s xuất hiện với tần suất nhỏ khoảng từ 0.5 - 2.0%

Theo số liệu máy sóng tự ghi tại cảng Dung Quất ở khu vực có độ sâu 26.0m cho thấy sóng có ý nghĩa (hs) lớn nhất có độ cao dao động trong khoảng

từ 2.5 - 5.0m, chu kỳ khoảng từ 7.0 - 9.6s với tần suất chỉ khoảng dưới 4%

Đặc trưng chế độ sóng trong gió mùa Đông Bắc thịnh hành vùng biển Bạch Hổ

Theo số liệu thống kê và chế độ sóng tại trạm Bạch Hổ tiêu biểu cho chế

độ sóng khu vực ven biển miền Nam Việt Nam, các tháng mùa đông sóng có hướng thịnh hành là bắc (N), đông - bắc (NE) và đông (E) ( Bảng 8)

Bảng 8 Tần suất hệ thống gió mùa đông bắc vùng biển Bạch Hổ

X 67.0

XI 91,1 XII 96,6

I 100

Ngày đăng: 27/07/2014, 14:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kết quả tổng hợp các đợt mực nước biển dâng dị thường không có  bão trong thời gian  tập hợp của đề tài - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Bảng 1. Kết quả tổng hợp các đợt mực nước biển dâng dị thường không có bão trong thời gian tập hợp của đề tài (Trang 10)
Bảng 2: Danh mục động đất khu vực Biển Đông trong giai đoạn 1990 - 2005  ( Nguyễn Văn L−ơng, Nguyễn Đình Xuyên [5]) - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Bảng 2 Danh mục động đất khu vực Biển Đông trong giai đoạn 1990 - 2005 ( Nguyễn Văn L−ơng, Nguyễn Đình Xuyên [5]) (Trang 20)
Bảng 3  Tổng hợp các đợt mực nước biển dâng dị thường xẩy ra trùng với  thời gian xẩy ra động đất trong khu vực Biển Đông - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Bảng 3 Tổng hợp các đợt mực nước biển dâng dị thường xẩy ra trùng với thời gian xẩy ra động đất trong khu vực Biển Đông (Trang 24)
Bảng 4. Thống kê số liệu đo mực n−ớc tại 6 trạm - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Bảng 4. Thống kê số liệu đo mực n−ớc tại 6 trạm (Trang 29)
Hình  2. Biến trình mực nước từ 10/8/1997 đến 24/08/1997  Trạm: Thuận An - Huế - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
nh 2. Biến trình mực nước từ 10/8/1997 đến 24/08/1997 Trạm: Thuận An - Huế (Trang 29)
Hình 3. Biến trình mực nước từ  11/9/1997  đến  10/10/1997  trạm Chơn Mây -  Huế - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Hình 3. Biến trình mực nước từ 11/9/1997 đến 10/10/1997 trạm Chơn Mây - Huế (Trang 31)
Hình  4. Biến trình mực nước từ  25/10/2000  đến  10/11/2000  trạm Sa Huỳnh -  Quảng Ngãi - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
nh 4. Biến trình mực nước từ 25/10/2000 đến 10/11/2000 trạm Sa Huỳnh - Quảng Ngãi (Trang 31)
Hình 5. Biến trình mực nước từ  26/11/2000  đến  10/12/2000  trạm Sa Kỳ - - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Hình 5. Biến trình mực nước từ 26/11/2000 đến 10/12/2000 trạm Sa Kỳ - (Trang 31)
Hình  7. Biến trình mực nước từ 19/10/1998 đến 28/10/1998 trạm: An Hoà  - Đà Nẵng - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
nh 7. Biến trình mực nước từ 19/10/1998 đến 28/10/1998 trạm: An Hoà - Đà Nẵng (Trang 32)
Hình  8. Biến trình mực nước từ 24/09/2004 đến 3/09/2004 trạm Mũi Né -  Bình Thuận - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
nh 8. Biến trình mực nước từ 24/09/2004 đến 3/09/2004 trạm Mũi Né - Bình Thuận (Trang 32)
Bảng  5  : Các trạm và thời kì quan trắc sóng   (Gồm yếu tố: hướng, độ cao, chu kỳ sóng) - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
ng 5 : Các trạm và thời kì quan trắc sóng (Gồm yếu tố: hướng, độ cao, chu kỳ sóng) (Trang 38)
Bảng 6. Đặc tr−ng sóng lớn nhất quan trắc trong các tháng X, XI, XII và  tháng I tại một số trạm, vùng có số liệu - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Bảng 6. Đặc tr−ng sóng lớn nhất quan trắc trong các tháng X, XI, XII và tháng I tại một số trạm, vùng có số liệu (Trang 39)
Bảng 7. Tần suất hệ thống gió mùa đông bắc vùng Trung Trung Bộ - Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Bảng 7. Tần suất hệ thống gió mùa đông bắc vùng Trung Trung Bộ (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w