Hệ thống đê sông ở Châu thổ sông Hồng Việt nam đã có lịch sử trên 2 ngàn năm.. Có thể nói rằng hệ thống đê sông Hồng được hoàn chỉnh dưới thời vua Trần Thái Tông, cách nay hơn 750 năm..
Trang 1Phần 4: Kinh nghiệm châu thổ
sông Hồng
LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Con người đã sống ở Đồng bằng sông Hồng từ thời Đồ Đá Củ cách đây khoảng 25 ngàn năm Canh tác lúa nước được phát triển vào thời Đồ Đá Mới trong nền văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn, cách đây khoảng 9 ngàn năm Ước vọng chế ngự lũ lụt ở Đồng bằng sông Hồng của dân Lạc Việt được thi vị hóa qua huyền thoại Sơn Tinh thắng Thủy Tinh Hệ thống đê sông ở Châu thổ sông Hồng Việt nam đã có lịch sử trên 2 ngàn năm
Theo Giao Châu Ký của Trung Hoa, thì khoảng 3 thế kỷ trước công nguyên
ở Giao Châu đã có đê lớn “Ở huyện Phong Khê có đê bảo vệ nước lũ từ Long Môn” (Sông Đà bây giờ) Theo Hán Thư thì “Miệt tây bắc Long Biên (tức Hà Nội)
có đê chống giữ nước lũ từ sông” (2)
Trong sách lịch sử Việt Nam, đê được nói đến đầu tiên là vào khoảng năm
521 dưới thời Lý Bí (tức Lý Bôn) Tuy nhiên, người có công và được nhắc nhở
nhất là Cao Biền, giữa thế kỷ thứ 9: “Sử chép rằng Cao Biền đào sông, khơi ngòi,
mở đường lộ, lập quán trọ cho khách đi đường trên khắp An Nam Nhiều đoạn đê, nhất là đoạn đê trên vùng gần Hà Nội hiện nay được đắp để chống lụt lội” (8)
Cao Biền ra lệnh dân thiết lập đê quanh thành Đại La với tổng số chiều dài 8,500 thước, cao 8 thước (2)
Đê Cơ Xá là con đê đầu tiên được vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây dựng vào tháng 3 năm Mậu Tý (1108) để bảo vệ kinh thành Thăng Long khỏi
Trang 2ngập lụt (18)) Nhà vua ra lệnh đắp đê trên sông Như Nguyệt (Sông Cầu bây giờ) dài 30 km (2)
Dưới đời nhà Trần, những con đê được đắp chỉ cốt giữ cho nước lũ không tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ lúa chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì nước được tự do tràn vào đồng ruộng Tháng 3 năm Mậu Thân (1248), vua Trần Thái-Tông sai quan ở các lộ đắp đê ở hai bên bờ sông Hồng từ đầu nguồn tới biển, gọi là Dỉnh Nhỉ Đê hay Đê Quai Vạc Lại đặt quan để coi việc đê, gọi là Hà
Đê chánh phó sứ hai viên (5) Hể chỗ nào mà đê đắp vào ruộng của dân, thì nhà nước cứ chiếu theo giá ruộng mà bồi thường cho chủ ruộng (18) Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân
chúng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép: “Tân Mão, Kiến Trung năm thứ 7 (1231): Mùa xuân, tháng giêng, sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào (là tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là Tĩnh Gia), tỉnh Thanh Hóa) từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu” Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền
chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương (5) Có thể nói rằng hệ thống đê sông Hồng được hoàn chỉnh dưới thời vua Trần Thái Tông, cách nay hơn 750 năm
Thiết lập đê biển được ghi trong lịch sử đầu tiên là vào cuối nhà Trần, Hồ
Quý Ly cải tổ lại điền địa “Khi trước những nhà tôn thất cứ sai đầy tớ ra chỗ đất bồi ở ngoài bể, đắp đê để một vài năm cho hết nước mặn, rồi khai khẩn thành ruộng Nay ngoại trừ bậc đại vương, công chúa ra, thứ dân không được có hơn
10 mẩu” (18)
Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đặt ra quan “Hà Đê” để lo đê điều và quan Khuyến Nông để phát triển nông nghiêp (18) Dưới triều Lê sơ (1428-1527) những con đê lớn hơn được đắp mới, và tân tạo hệ thống đê cũ trên hai bờ sông Nhị Hà bằng đá vửng chăc (2) Kết quả trái ngược là sông Hồng trở nên hung dữ
Trang 3hơn, phá vỡ đê và gây ngập lụt triền miên trong thời nhà Nguyễn, nảy sinh nhiều ý kiến đề nghị xem xét vấn đề bỏ hay giữ đê (28)
Giặc giã thường xuyên xảy ra trong thời Lê, Mạc, Trịnh Nguyễn phân tranh, đê điều bị hư hại nhiều, mải tới thời Vua Gia Long (1802-1820), vua truyền
cho các quan ở các trấn phải “xoi đào sông ngòi và các cửa bể, và nhất là ở Bắc Thành phải giữ gìn đê điều cho cẩn thận: chỗ nào không có thì đắp thêm, chỗ nào
hư hỏng thì phải sửa chửa lại” (18)
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) đã có công khẩn hoang vùng duyên hải Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương Ông đi kinh lý khắp bải bồi vùng duyên hải, tự
vẽ bản đồ, phân phát trâu bò, nông cụ cho dân để khẩn hoang Chỉ trong 2 năm (1828 - 1829), Ông lập ra 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) cùng hai tổng Hoàng Thu và Minh Nhất (ven bờ biển Thái Bình, Ninh Bình), khai khẩn tổng cộng được 37,770 ha đất Đây là vùng đất bồi, hàng năm tốc độ phù sa bồi tụ tiến ra biển từ 80 - 100 m Từ đó, cứ sau 20-30 năm, đê biển mới được xây đắp lấn ra biển Đến nay, 178 năm sau, Kim Sơn đã tiến hành quai đê lấn biển sáu lần, tiến ra biển hơn 500 m, nhờ vậy diện tích hiện nay gấp gần 3 lần so với khi mới thành lập (24, 31)
Ngoài ra, từ trước năm 1837, Nguyễn Công Trứ đã đề xuất giải pháp phân
lũ bằng cách khai đào đoạn khởi đầu sông Đuống (tức sông Thiên Đức thời bấy giờ) nối với sông Hồng ở phía thượng lưu để chuyển nhận nước từ sông Hồng giải tỏa áp lực lũ ở vùng Hà Nội Nhưng phải sang thời Tự Đức ý tưởng đó mới được thực hiện một phần và được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp thuộc Từ đó, sông Đuống trở thành đường thoát lũ quan trọng nhất của sông Hồng (28) Hệ thống đê sông và đê biển được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp đô hộ và sau này
Tính đến nay (2006), hệ thống đê sông Hồng khu vực quanh Hà Nội được nâng cấp tương đối hoàn chỉnh, dài tổng cộng khoảng 60 km Dự án này thực hiện
Trang 4từ năm 1996, kết thúc năm 2002, nhờ nguồn vốn vay của ngân hàng ADB Một số đoạn đê khác đã có đường hành lang hai bên thân đê, mặt đê được cứng hóa bằng nhựa hoặc bê tông (1, 28)
Dưới thời quân chủ, phá hủy hay làm hư hại đê là một trọng tội Năm nào
có thiên tai, lũ lụt nặng, chính nhà vua lập đàn chay tạ tội, nhận trách nhiệm cùng trời đất
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ NGUYÊN NHÂN LŨ LỤT
Đồng bằng Sông Hồng bắt đầu được thành lập vào thời Holocene, cách đây khoảng 9 ngàn năm, khi mực nước biển, cao hơn hiện nay 2-3 m, bắt đầu hạ thấp Đồng bằng được phù sa sông Hồng bồi đắp nhờ rừng ngập mặn, và hàng năm lấn dần ra biển Đông với vận tốc khoảng 22 m/năm Cách đây khoảng 6 ngàn năm, đồng bằng tiến ra biển chậm hơn, với vận tốc khoảng 4 m/năm (15) Hiện nay, phù
sa bồi đắp lấn biển trung bình 25 – 30 m, có nơi 120 m (17) Phù sa lắng đọng từ thời Cenozoic có độ sâu tới 5,000 m, trong số đó phù sa thời Quaternary dày 250
m, và thời Holocene sâu 30-60 m (17) Bờ biển trong thềm lục địa co độ sâu 20 m
Vùng đồng bằng sông Hồng (giữa vĩ độ 22°00' và 21°30' Bắc, kinh độ 105°30' và 107°00' Đông) có hình dáng tam giác điển hình của một vùng châu thổ, với đáy là đường bờ biển dài 130 km, từ thành phố Hạ Long đến điểm cực nam của tỉnh Ninh Bình Đỉnh của tam giác này thay đổi theo thời gian cùng với sự mở rộng của nó và hiện tượng mực nước biển rút xuống Vào thời Văn Lang, cách đây khoảng 4,000 năm, đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng ở gần thành phố Việt Trì ngày nay Đến thời kỳ Âu Lạc (thế kỷ 3 trước công nguyên), đỉnh của tam giác
đã lui xuống vùng Đông Anh (Hà Nội) Hiện nay, đỉnh của tam giác này ở Hưng Yên Nếu vẫn coi đỉnh tam giác là ở Việt Trì, thì diện tích tổng cộng của đồng bằng sông Hồng khoảng 16,644 km² (27)
Trang 5Dãy Hoàng Liên Sơn, cao 3,142 m, có vai trò như một trường thành ngăn gió mùa đông và các luồng không khí từ biển Đông chứa nhiều hơi nước Do đặc điểm này khí hậu vùng Tây Bắc ấm hơn và khô hơn Sườn phía đông đón gió nên
có lượng mưa lớn hơn với nhiều tâm mưa lớn như: Hoàng Liên Sơn với lượng mưa/năm tới 3,552 mm, Sapa 2,833 mm, Yên Bái 2,106 mm Ngược lại, ở phía tây phần lớn có lượng mưa/năm ít hơn nhiều: Yên Châu 1,217 mm, Sơn La 1,444
và hệ thống Sông Thái Bình gồm các nhánh chính là Sông Cầu, Sông Thương, sông Lục Nam nhập lưu tại Phả Lại
Ngoài nguyên nhân chính là các trận mưa bão ở miền thượng lưu, nạn phá rừng trầm trọng ở đầu nguồn (thảm rừng chiếm 95% năm 1943, chỉ còn 17% năm 1991), cũng như ở đồng bằng (từ 55% năm 1943 còn 29% năm 1991) (17); hệ thống đê đập còn nhiều nhược điểm, hệ thống thoát lũ và thoát nước thải thành
phố yếu kém (16), và đô thị hóa nông thôn hiện nay làm trầm trọng lũ lụt ở Đồng
Bằng Sông Hồng
Khu trung tâm của vùng ĐBSH rất bằng phẳng, phần lớn nằm ở độ cao từ 0,4 m đến 12 m trên mực nước biển, với 56% có độ cao thấp hơn 2 m Tuy nhiên cũng có những khu vực đất cao, gồm các đồi đá vôi, các đỉnh núi nhọn và những
Trang 6dãy đồi núi dọc theo hai cánh tây-nam và đông-bắc của vùng Phần lớn vùng đất của đồng bằng sông Hồng được 2 loại đê bão vệ: khoảng 3,000 km đê ngăn lũ của
hệ thống sông, và 1,500 km đê biển ngăn sóng lớn của các cơn bão ở vịnh Bắc Việt (27) Tuy nhiên, đa số các trung tâm đông dân cư đều nằm dưới mực nuớc lũ Sông Hồng Vì vậy khi mưa quá to và nước lũ phá vỡ đê làm nhiều nguời thiệt mạng (16)
Đồng bằng sông Hồng nằm trong 8 tỉnh hay thành phố Mật độ dân cư ở đồng bằng châu thổ sông Hồng cao nhất Việt Nam (1,179 người/km²) Tổng dân
Trang 7Hình 1 – Sơ đồ vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và hạ lưu sông Thái Bình (3)
Sông Hồng bắt nguồn từ dãy núi Ngụy Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở
độ cao 1,776 m Đến biên giới Việt - Trung, sông Hồng chạy dọc theo biên giới khoảng 80 km; đoạn thì sang bên lãnh thổ Việt Nam, đoạn thì sang bên lãnh thổ Trung Quốc Điểm tiếp xúc đầu tiên của sông Hồng với lãnh thổ Việt Nam tại xã
A Mú Sung (huyện Bát Sát), chính giữa sông là điểm phân chia lãnh thổ hai nước 40% nước sông Hồng do từ lảnh thổ Trung quốc chảy tới (17) Đến thành phố Lào Cai, sông Hồng chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam qua Hà Nội trước khi đổ ra biển Đông ở cửa Ba Lạt
Ở Lào Cai sông Hồng cao hơn mực nước biển 73 m Đến Yên Bái, cách Lào Cai 145 km, thì sông chỉ còn ở cao độ 55 m Giữa hai thị trấn đó là 26 ghềnh thác, nước chảy xiết Đến Việt Trì thì triền dốc sông không còn mấy nên lưu lượng chậm hẳn lại Đồng bằng sông Hồng nằm ở hạ lưu con sông này (29) Các sông
Trang 8nhánh chính của sông Hồng là sông Đà, sông Lô (với phụ lưu là sông Chảy và sông Gầm)
Lưu lượng sông Hồng biến đổi tùy theo năm có vũ lượng ít hay nhiều, từ
nhất gây lụt 1971) (17) Lưu lượng nước bình quân hàng năm 2,640 m³/s (tại cửa sông), tuy nhiên lưu lượng nước phân bố không đều Về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700 m³/s, nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30,000 m³/s (29) Mực nước lũ cao nhất là 14.13 m tại Hà Nội, nhưng vào mùa khô, mức thấp nhất là 1.5 m tại Hà nội (13) Nước sông hạ thấp trung bình 9 cm/giờ khi lũ rút
(19) Năm 1971, năm lũ lớn của thế kỷ, có lượng phù sa tới 202 triệu tấn (17) Trong mùa lũ, mỗi mét khối nước chứa khoảng 1.5 kg phù sa làm nước sông có màu đỏ hồng (29) Vì nạn phá rừng và đất bị xoi mòn ở thượng nguồn, lượng phù
sa có khuynh hướng gia tăng Chẳng hạn, tại trạm Yên Bái trong thời kỳ từ
lắng đọng suốt chiều dài dòng chảy làm lòng sông cạn dần, còn bao nhiêu (khoảng trên 100 triệu tấn) đều được đưa ra vịnh Bắc Việt bồi đắp dọc biển làm cho đồng bằng châu thổ sông Hồng lấn biển mỗi năm có nơi thêm 100 m (19) Để phòng lũ lụt, ngưòi Việt đã đắp đê ngăn nước tràn vào làng mạc ruộng đồng Chỉ riêng sông Hồng, chiều dài đê tổng cộng là 1,660 km (19)
Trong 3 nhánh của sông Hồng, sông Đà và sông Thao có lưu vực xấp xỉ
Đà đóng góp trung bình tới trên 50% lượng lũ sông Hồng tại hạ lưu (Sơn Tây) Trên 70% trường hợp lũ lớn xảy ra ở hạ lưu sông Hồng trùng hợp với tâm mưa lớn nằm trên lưu vực sông Đà (11)
Trang 9Hệ thống sông Hồng đổ ra Vịnh Bắc Việt qua 10 cửa sông Các cửa chính gồm: (i) Cửa Ba Lạt là cửa chính ở bờ biển giáp ranh Nam Định và Thái Bình; (ii) Cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) ở tỉnh Nam Định; (iii) Cửa Đáy (sông Đáy) ở tỉnh Ninh Bình; (iv) Cửa Lân ở Tiền Hải (Thái Bình); Cửa Trà Lý (sông Trà Lý) ở tỉnh Thái Bình; (v) Cửa Diêm Điền (Thái Bình); (vi) Cửa Hà Lận ở tỉnh Nam Định (27)
SÔNG THÁI BÌNH
Hệ thống sông Thái Bình gồm sông Thái Bình cùng các phụ lưu và chi lưu Các phụ lưu gồm sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam ở thượng nguồn, với tổng chiều dài khoảng 1,650 km và diện tích lưu vực khoảng 10,000 km² Ngoài ra, hệ thống sông này còn nhận một phần dòng chảy của sông Hồng, để đổ ra biển Đông (30)
Sông Thái Bình, dài 93 km, khởi sự từ khúc Lục Đầu ở Phả Lại Gọi là Lục Đầu vì đây là chỗ tập trung của 6 con sông: 4 sông chảy vào là sông Cầu (dài 290 km), sông Thương (dài 80 km), sông Lục Nam (dài 200 km), sông Đuống (dài 65
km, nối với sông Hồng ở Phả Lại), và 2 sông chảy ra là sông Kinh Thầy (hay sông Cấm, dài 30 km) và sông Bình Than
Hệ thống sông Thái Bình nối với sông Hồng bởi sông Đuống ở thượng lưu,
và sông Luộc ở hạ lưu Nhờ hệ thống sông nối này giúp phân nước lũ của sông Hồng làm giảm bớt lụt lội ở hạ lưu đồng bằng sông Hồng
Do phần lớn lưu vực của hệ thống sông Thái Bình bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị xói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm lượng phù sa cao Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy cạn nên sông Thái Bình
là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất Lưu lượng nước hàng năm đạt khoảng 53 tỷ m³ (30)
Trang 10Hệ thống sông Thái Bình ra biển Đông với các cửa: (i) Cửa Thái Bình của sông Thái Bình, nằm giữa hai tỉnh Thái Bình và Hải Phòng; (ii) Cửa Văn Úc, trên sông Văn Úc (dài 38 km) Hải Phòng; (iii) Cửa Lạch Tray, trên sông Lạch Tray (dài 43 km), Hải Phòng; (iv) Cửa Cấm, trên sông Cấm (dài 37 km), Hải Phòng; (v) Cửa Nam Triệu, trên sông Bạch Đằng (dài 42 km), nằm giữa hai tỉnh Quảng Ninh
và Hải Phòng; (vi) Cửa sông Chanh, Quảng Ninh (27)
Ở Vịnh Bắc Việt, trung bình cứ 20 km đường bờ biển thì có một cửa sông lớn Lượng cát bùn lớn vào mùa lũ, chiếm tới 75- 85 % lượng dòng chảy cả năm tạo các bải bồi và lấn biển
HỆ THỐNG CHỐNG LŨ LỤT
Ở Đồng Bằng Sông Hồng, hệ thống chống lũ lụt gồm (i) thiết lập đê sông, đê biển, (ii) hồ chứa nước ở thượng nguồn, (iii) hệ thống phân lũ thoát nước, (iv) thiết lập các vùng chặn lũ xung quanh Việt Trì và Phả Lại, và (v) hệ thống báo động
Hệ thống đê sông: Hiện tại, tổng số chiều dài hệ thống đê sông trong vùng đồng
bằng Sông Hồng là 3,000 km, gồm 2,417 km đê thuộc Bắc Bộ, và 420 km ở các sông vùng Thanh - Nghệ Hệ thống sông Hồng có 1,667 km đê, và 750 km đê thuộc hệ thống sông Thái Bình Hệ thống đê sông Hồng có quy mô lớn và hoàn thiện hơn so với các hệ thống đê còn lại Các đê sông thường có độ cao không quá
10 m (3) Chiều cao trung bình của đê sông từ 6-8 m, có nơi lên đến 11 m Tuy nhiên hệ thống đê được xây dựng đã lâu đời trên nền đất yếu, đất đấp đê cũng lấy
từ địa phương và không đồng nhất, nhiều nơi bị hư hại vì thiếu bảo quản Nhiều kè cống rất củ kỳ Dọc theo đê còn có nhiều ao hồ làm nước lũ khó thoát Dân cư quá đông đúc sống kế cận bờ đê Ngày nay, nhiều nhà cửa xây cất ngay trên bờ đê Vì vậy đê có thể bị vỡ bất cứ lúc nào trong mùa lũ lớn
Trang 12
Tùy theo tầm quan trọng kinh tế và số dân cư của địa phương, dựa vào đợt lũ lớn nhất thế kỷ năm 1971, 5 cấp đê được thiết kế Chẳng hạn, ở vùng Hà Nội đê thiết
kế từ cấp I đến cấp III, với mức nước an toàn thiết kế 0.8%, hay mức nước lũ 125 năm lặp lại một lần Tại các khu vực khác trong vùng đồng bằng sông Hồng (nơi cấp đê thay đổi từ cấp I đến cấp III) cũng áp dụng cùng một mực nước thiết kế nhưng độ cao an toàn không thấp hơn, do đó an toàn thiết kế là 1%, tương đương với mực nước lũ tần suất 100 năm Cấp đê IV là cấp bảo vệ chống mực nước lũ tần suất 20 năm (3) Tiêu chuẩn phòng lũ đối với hệ thống đê Hà Nội là bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13.4 m,
Phòng tuyến đê lũ Hà Nội
Từ ngàn xưa, bảo vệ thủ đô Đại La/Thăng Long/Hà Nội là ưu tiên của nhà vua qua các thời đại Hàng loạt đê cao, có nơi cao 15 m, được đắp từ hàng thế kỹ trước Ngày nay, có nhiều nơi lòng sông cao hơn mặt đất đồng ruộng, làng mạc
Hà nội bằng phẳng có độ cao trung bình 7-8 m trên mực nước biển, nơi
nếu tính cả ngoại ô là 3 triệu (13)
Trang 13Đê sông Hồng
Trong thời nhà Nguyễn, người Hoa ở vùng Hà Nội xin phép nhà vua để họ đắp kè lấp đá cho một số đê dọc sông Hồng nơi họ cư trú
Năm 1885 mưa bão lớn làm sụt lở bờ sông sát Đồn Thuỷ Người Pháp đổ
kè đá ở bên ngoài bờ sông Hồng chỗ Hàng Than dài 400 m để hướng dòng chảy
về phía Gia Lâm (19)
Trận lụt năm 1926, Hà nội bị ngập lụt nặng, vì lúc đó chưa có đoạn đê dọc đường Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải ngày nay (4) Người Pháp đắp đê này đồng thời củng cố cả hệ thống đê Hà Nội, có nơi cao 14 m
Sau biến cố vỡ đê năm 1971, nhiều biện pháp mới được ban hành, ngoài việc tăng cường hệ thống đê, còn lập hồ chứa nước và phân lũ Khi mực nước sông Hồng tại Hà Nội đến mức báo động 13.4 m, thì dòng nước sông Hồng ở đầu
Trang 14nguồn được xả vào Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nam và Nam Định Việc tháo nước phân lũ vào sông Đáy do Thủ Tướng quyết định vì có ảnh hưởng đến khoảng 675,000 dân chúng, và chính phủ bồi thường thiệt hại
Ngày nay, hệ thống đê dọc sông Hồng bảo vệ Hà Nội dài 61 km được nâng cấp tương đối hoàn chỉnh Dự án này thực hiện từ năm 1996, kết thúc năm 2002, nhờ nguồn vốn vay của ngân hàng ADB Một số đoạn đê khác đã có đường hành lang hai bên thân đê, mặt đê được cứng hóa bằng nhựa hoặc bê tông (1, 28) Ngoài
ra, Hà Nội có hơn 40 hồ lớn và sâu, chưa kể ao, có khả năng giảm lũ khi có mưa lớn
Hệ thống đê biển:
Bờ biển Vịnh Bắc Việt cấu tạo bởi đá và phù sa Do ảnh hưởng của biến động thời tiết trên toàn thế giới vì dòng nước El Nino và La Nina, những trận bão biển xảy ra càng khốc liệt hơn Mùa bão thường kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10, và trung bình hàng năm có 4 cơn bão Những cơn bão này thường xuất phát từ Phi Luật Tân, Biển Đông và Tây Thái Bình Dương rồi 3-4 ngày sau sang đến vịnh Bắc Việt tạo những sóng cao, gây lụt lội vùng duyên hải Hệ thống đê biển được thiết lập từ lâu đời và được xây đắp ngày càng vững chắc Chiều dài tổng cộng đê biển và cửa sông khoảng hơn 1,500 km Hiện nay, đê biển còn thấp (cao khoảng 5 m), nhiếu nơi còn bằng đất, có nơi bằng bê tông, và chỉ chịu được các cơn bão nhỏ Ngày nay, với kỹ thuật trồng rừng ngập mặn ngoài bờ đê, và cỏ Vetiver hai bên bờ đê có thể cản được sự phá hủy đê do sóng bão
Trong thời gian 1958-1995, tổng số diện tích đất bồi đầm lầy vùng duyên hải Vịnh Bắc Việt được biến cải thành đồng ruộng nhờ hệ thống đê biển là 24,000
ha (17)
Trang 16Hệ thống đê biển bằng bê tông với trồng cỏ Vetiver (9)