Đập xả nước cho chạy máy điện quanh năm, tuy nhiên mùa hạn sản xuất điện nhiều hơn, nên xả nước nhiều hơn, vì vậy vùng hạ lưu có nhiều nước hơn vào mùa hạn hán.. Vì 8 đập nằm trên bậc th
Trang 1Phần 9: Đề nghị vài
biện pháp
NHỮNG THÁCH ĐỐ TRONG TƯƠNG LAI
Những biện pháp chống lũ lụt và phát triển thủy lợi hiện hửu được thiết kế dựa trên trận lụt lớn năm 2000 Cho tới nay (2009), chưa có trận lũ lớn tương tự xảy ra nên chưa định giá được hiệu quả của các tuyến đê ngăn lũ Lụt định kỳ hàng năm vẫn xảy ra, khoảng 40 % diện tích của ĐBCLVN bị ảnh hưởng, mùa lụt nhiều nơi kéo dài 3-4 tháng, có nơi sâu 2-3 m, nhưng không gây thiệt hại Đa số dân chúng sống an toàn trong khu bảo vệ bởi các đê, trên các tuyến, cụm dân cư Một số dân chúng còn tiếp tục “sống chung với lũ” với nhiều tiện nghi hơn trước Đời sống nhờ vậy có phần cải thiện hơn xưa
Tuy nhiên ĐBCLVN đang và sẽ phải đương đầu với nhiều thách đố:
1 Nạn nhân mản
Dân số DBCLVN năm 2000 khoảng 16.9 triệu, hiện nay (2009) là 18 triệu Với tỉ
lệ gia tăng dân số 1.6 % hiện nay, hay 1.2 % trong tương lai như các dân tộc tiên tiến khác, dân số sẽ tăng lên 25 triệu năm 2025, và 46 triệu năm 2075 Như vậy, nhu cầu lương thực từ 5.1 triệu tấn năm 2000, lên 7.5 triệu tấn năm 2025, và 13.7
Trang 2triệu tấn năm 2075, với nhu cầu thực phẩm là 300 kg/đầu người/năm như hiện nay Cũng cần biết thêm là mật độ dân cư ở ĐBCLVN hơn 400 người/km2, gấp đôi mật độ của cả nước (7)
Về mặt kinh tế, tuy là vùng kinh tế sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam, với 50% sản lượng lúa, 70% lượng trái cây, 52% thủy sản của toàn quốc, đóng góp 90 % số lượng gạo xuất cảng, và 60 % kim ngạch xuất cảng thủy sản của cả nước, dân chúng ở ĐBCLVN còn nghèo so với bình quân chung của cả nước GDP bình quân đầu người năm 2006 ước tính đạt 493 USD, so với 729 USD của cả nước Dân hiện sinh sống trong 3 triệu căn nhà, mà 70 % là nhà tạm
bợ (15) Một số lớn dân chúng không có đất canh tác, trong lúc có người chiếm hửu trên 100 ha ruộng lúa Hiện còn khoảng 4 triệu người trong số 18 triệu dân còn trong diện nghèo đói (26)
Diện tích DBCLVN khoảng 3.97 triệu ha, trong số đó có 2.4 triệu ha có khả năng canh tác lúa Nhờ các biện pháp thủy lợi biến cải từ một vụ lúa/năm thành 2 hay 3 vụ lúa/năm, tổng số vụ lúa canh tác gia tăng từ 2.251 triệu ha năm
1985, lên 3.87 triệu ha năm 1999-2000 Nhờ vậy, sản lượng lúa đã tăng từ 4.7 triệu tấn vào năm 1976 lên 19.1 triệu tấn vào năm 2005
2 Nước biển đang dâng cao
Trong khoảng thời gian 1955-1990, nước biển Đông đo tại Hòn Dâu dâng cao 0.19 cm/năm ở Miền Bắc (1), trung bình dâng cao 0.3 cm/năm tại trạm Vũng Tàu trong thời gian 1978-2007 (8); và như vậy, nước biển sẽ dâng cao thêm từ 20 – 27 cm vào năm 2100, còn với vận tốc dâng như IPPC tiên đoán thì nước biển sẽ dâng cao thêm 64 cm vào năm 2100 (31)
Trang 3Đồng bằng Cửu Long có độ cao 0-4 m trên mực nước biển, riêng vùng Cà Mau chỉ cao hơn mực biển 0-0.5 m, trong lúc thuỷ triều cao 4 m, nên khả năng chìm dưới mặt biển khá lớn, nhất là vùng rừng ngập mặn hiện nay, và coi như một phần lớn đồng bằng bị đe doạ bởi thủy triều từ phía biển (26)
Nếu nước biển dâng cao thêm 0.2 m, khoảng 706 km2 đất ở ĐBCLVN bị chìm ngập, và nếu dâng cao 0.6 m sẽ có khoảng 994 km2 đất bị chìm ngập (6) Theo Bộ Nông Nghiệp VN, nếu mực nước biển dâng cao 1 m, ĐBCL sẽ mất từ 15,000 đến 20,000 km2 đất (Việt báo, 12/1/2008)
2 Sông Cửu Long biến đổi
Theo Ủy Ban Mekong (12, 13, 14) thì thành phần cung cấp lưu lượng sông Cửu Long có 16 % nước từ Trung Quốc, 2 % từ Miến Điện, 35 % từ Lào, 18 % từ Thái Lan, 18 % từ Cambodia, và 11% từ Việt Nam
Lưu lượng nước chảy vào lưu vực sông Cửu Long (Mekong River) là 2,000 m3/sec vào mùa khô (Tháng 12 – Tháng 3), trong mùa mưa là 25,000 m3/sec (Tháng 7 – Tháng 11), với lưu lượng trung bình hàng năm khoảng 475 tỷ m3 nước
Vào địa phận Việt nam, hai nhánh sông Cửu Long (sông Tiền và Hậu) có lưu lượng trung bình 53 tỷ m3 nước/năm Vận tốc chảy trung bình trong lảnh thổ
VN là 15,000 m3/giây (tại Tân Châu là 14,200 m3 nước /giây), tối thiểu 2,500 m3/giây trong mùa hạn, tối đa là 40,000 m3/giây trong mùa lủ
Dự đoán cho biết vào năm 2070, vủ lượng trên toàn lưu vực sông Cửu Long không thay đổi mấy (chỉ giảm 5 tỷ m3 nước mưa, tức giảm khoảng 0.8 %), nhưng
Trang 4mưa nhiều hơn hiện nay 40% trong mùa mưa, ngược lại mùa hạn kéo dài thêm (31)
Trong vòng 30 năm qua, 13 đập nước lớn (>10MW), vài ngàn hồ nước nhỏ (Cambodia 800, Lao PDR 600, Viet Nam 600, Thailand 4,000) đã xây dựng dọc sông Mekong và chi lưu, và hơn 100 dự án thuỷ điện lớn nhỏ trên Mekong dự trù xây dựng, sẽ đe doạ vùng hạ lưu Riêng ở phần Trung quốc, 2 đập thủy điện đã hoạt động: (Manwan, 1993, hồ chứa 0.92 tỷ m3; Dachaoshan, 2003, hồ chứa 0.96
tỷ m3), một sắp hoạt động (Xiaowan, 2012, hồ chứa 14.55 tỷ m3), và 4 cái đang hoạch định trong đó đập Nuozhadu có hồ chứa 22.7 tỷ m3, nâng tổng số nước của
7 hồ này khoảng 55 tỷ m3, tương đương với tổng số lưu lượng chảy vào lảnh thổ Việt Nam là 53 tỷ m3 nước/năm (14) Trên lý thuyết, việc xây đập ở thượng lưu sẽ
có lợi cho hạ lưu Vào mùa mưa lũ, các đập được đóng để chứa nước nên làm giảm lũ lụt ở hạ lưu Đập xả nước cho chạy máy điện quanh năm, tuy nhiên mùa hạn sản xuất điện nhiều hơn, nên xả nước nhiều hơn, vì vậy vùng hạ lưu có nhiều nước hơn vào mùa hạn hán
Tuy nhiên, các quốc gia Lào, Thái Lan và Campuchia chắc chắn sẽ gia tăng
hệ thống thủy lợi để gia tăng diện tích canh tác, chính vẫn là lúa Hiện tại, tỉ số diện tích đất được dẫn thủy ở các quốc gia này chỉ khoảng 20 %, trong lúc ở ĐBCLVN là 50 % Như vậy, trong tương lai ĐBCLVN chắc chắn sẽ thiếu nước trầm trọng vào mùa hạn
Hơn nũa, Trung quốc vừa bắt đầu đào ba tuyến kênh nối sông Dương Tử và các nhánh sông này ở miền nam, trung và tây Trung Quốcdẫn nước tới miền bắc hay bị khô hạn Dự án sẽ hoàn thành năm 2014 với tổn phí 62 tỷ đôla (2).Vì vậy, không loại khả năng Trung Quốc trong tương lai sẽ chuyển hướng dòng Cửu Long trong lảnh thổ của họ chảy vào Trung Quốc, và như vậy hạ lưu sẽ mất khoảng 76
tỷ m3 nước/năm
Trang 5Ngoài ra, nếu có chiến tranh, Trung quốc có thể sử dụng sông Cửu Long để phá hoại kinh tế vùng hạ lưu, mà Việt Nam sẽ nhận hậu quả trầm trọng nhất Vào mùa hạn, Trung quốc có khả năng gây hạn hán ở hạ lưu Vì 8 đập nằm trên bậc thang, chỉ cần 6 đập bên trên hoạt động bình thường để sản xuất điện, 2 đập dưới cùng (Ganlanba và Mengsong) đóng lại để nhận chứa nước thải từ các đập trên,
và hạn chế xả nước chỉ vừa đủ sản xuất điện lực, thì đủ làm hạn hán ở hạ lưu trong mùa hạn Ngược lại, vào mùa lũ lụt ở hạ lưu, nhất là nhằm vào lúc thủy triều cao ở Biển Đông, Trung quốc có khả năng gây lũ lụt trầm trọng ở hạ lưu bằng cách xã lũ cùng lúc 8 cái hồ nước vỉ đại này
Khả năng đó đã xảy ra Giữa tháng 8/2008, nước sông Cửu Long dâng cao đột ngột gây lụt tại Vientian, Luang Prabang của Lào và các tỉnh Chiang Rai, Nakhon Pathon, Nong Khai của Thái Lan Các cơ quan phi chính phủ cho rằng con lụt này là do 2 đập thủy điện của Trung quốc ở thượng nguồn xả lũ
Ngoài ra, bất cứ một dự án thủy lợi nào làm thay đổi lưu lượng phát xuất từ vùng thượng lưu đến trung lưu đều có khả năng thay đổi tình trạng lũ lụt ở ÐBSCL Chẳng hạn, việc xã lũ từ đập thủy điện Yali của Việt Nam vào đầu tháng
8 năm 2005 đã gây lũ lụt ở hạ lưu sông Sesan trong tỉnh Ratanakiri của Campuchia và có lẽ đã làm mực nước ở nội đồng Ðồng Tháp Mười đang tăng nhanh lại càng tăng nhanh hơn vào trung tuần tháng 8 (18)
Dòng chảy sông Cửu Long thấp nhất năm 1993 và gây hạn hán trầm trọng
ở Việt Nam trùng vào lúc đập Manwan hoàn thành và bắt đầu tích nước Năm
1997, Trung quốc đóng cửa đập trong 4 ngày để sửa chửa đập, không cho nước hồ chảy vào hạ lưu, gây khô hạn ở phần đất Việt Nam, gây thiệt hại cho Việt Nam khoảng 100,000 USD/ngày (17)
Trang 6
ĐỀ NGHỊ BIỆN PHÁP
Việt Nam là một thành viên trong Ủy Ban Mekong Tuy nhiên, Ủy Ban này chỉ là
cơ quan cố vấn, không có quyền hạn để áp đặt lên quốc gia này hay quốc gia khác
để sử dụng công bằng nguồn nước Mekong Lịch sử qua mấy ngàn năm ở vùng này là “cá lớn nuốt cá bé”, luôn luôn tranh chấp biên giới và tài nguyên Việt Nam phải tìm đường tự cứu mình hơn là trông chờ sự quan tâm của cơ quan này hay cơ quan quốc tế khác
1 Hợp tác với các nước trong Ủy Ban Mekong
Mặc dầu phải đơn phương tự lo cho mình, Việt Nam cũng phải hợp tác với các nước trong lưu vực sông Mekong để cùng chia sẻ lợi ích chung của sông Cửu Long trong việc phát triển thịnh vượng chung cho cả khu vực, hoặc bằng các ký kết song phương với từng quốc gia, hay đa phương với cả khu vực Đó là nghiên cứu thiết lập (i) các đập, hồ tích trử nước dư thừa trong mùa mưa để giảm thiểu lũ lụt và sử dụng nước trong mùa hạn, không có phương hại lẫn nhau; (ii) chuyển một phần nước sông Cửu Long trong lảnh thổ Campuchia vào hệ thống sông Đồng Nai để giảm thiểu lụt ở hạ lưu; (iii) giao thông đường thủy, đường bộ và phát triển kinh tế dọc ven sông; (iv) giải quyết vấn đề ô nhiểm nước sông Cửu Long
Đặc biệt quan tâm cùng với Campuchia thiết lập đập trên sông Tonle Sap, chuyển nước lũ vào Biển Hồ trong mùa lũ, và tháo nước vào mùa hạn để Campuchia và Việt Nam cùng sử dụng Loại đập này vừa có khả năng đóng mở giữ nước và tháo nước Biển Hồ, đồng thời tàu thuyền lớn qua lại dể dàng, nối Nam Vang với Biển Đông, Biển Tây qua lảnh thổ Việt Nam, hay ngược dòng đến Thái Lan, Lào và Trung Quốc Vì vậy cần phải thiết kế với kỹ thuật cao, hiện đại
Trang 7của Hòa Lan, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản với phuơng diện tài chánh dồi dào từ các nước này yểm trợ
2 Kiện toàn hệ thống đê và thành lập nhiều polders hơn nữa
Để nuôi sống dân số gia tăng và làm dân giàu, phải biến cải phần lảnh thổ bị lũ lụt hàng năm thành khu vực an toàn, để thế nào kiểm soát được nước hoàn toàn theo ý muốn như các polders ở Hòa Lan Vào mùa lũ có hệ thống đê cao bảo vệ, có hệ thống cống và hệ thống bơm nước hửu hiệu, bơm nước vào hay bơm nước ra polder Có như vậy, mới có thể đa canh với loại cây cần đất khô và mới có thể công nghiệp hóa nông thôn
Các đê dọc biên giới của ĐBCLVN cũng là xa lộ nối dài của Xa Lộ Trường Sơn của Tây Nguyên Miền Trung cho tới Miền Bắc, và nối với Hành Lang Phía Nam (Southern Coastal Corridor) từ Cà Mau - qua Rạch Giá - Hà Tiên- Kampot- Koh Kong - Trat - Chantabun, BangKok cho tới Miến Điện; và nối Hành Lang Xuyên Á từ Bà Rịa – Sài Gòn – Tây Ninh – tới Nam Vang (25)
Về phía Đồng Tháp Mười, dọc theo đê biên giới phải có nhiều cống giúp thoát nước để nước bạn Campuchia không bị ngập lụt trầm trọng và lâu dài Nước thóat từ biên giới được đưa vào kinh được đào rộng và sâu hơn, và chảy tiêu thoát vào (i) hồ chứa nước Đồng Tháp Mười (nói phần 2c), và vào sông Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ Đông để chảy vào sông Vàm Cỏ ra Biển Đông ở cửa Xoài Rạp Nhưng thoát nước qua sông Vàm Cỏ rất chậm vì sông uốn khúc nhiều ở hạ lưu, cần nghiên cứu thêm việc đào kinh nối dòng thoát Vàm Cỏ Đông chảy vào nhánh Sông Sài Gòn Chẳng hạn, hiện nay đã có hệ thống kinh nối Đồng Tháp Mười với Sông Sài Gòn qua các kinh Tháp Mười – Rạch Chanh (tức kinh Nguyễn Văn Tiếp)
Trang 8– kinh Thủ Thừa (nối Vàm Cỏ Tây với Vàm Cỏ Đông) – Bến Lức – Kinh Đôi – Kinh Bến Nghé hay Kinh Tẻ, cả 2 đều đổ vào sông Sài Gòn (11) Cần phải vét rộng và sâu thêm hệ thống kinh này vừa làm đường thoát lũ vừa là giao thông đường thủy dễ dàng giữa Cảng Sài Gòn về các tỉnh Miền Tây xuyên qua Đồng Tháp Mười
Các đê cũng như các kinh cấp 1 trong đồng bằng cũng phải là đường giao thông thủy bộ cần thiết cho phát triển kinh tế
3 Sửa đổi quy hoạch tổng thể và sản xuất nông nghiệp
Quy hoạch sản xuất nông nghiệp phải nằm trong quy hoạch tổng thể gồm phát triển công nghiệp, du lịch và nông nghiệp Tác giả sẽ đề cập 2 phần trên vào một dịp khác
Năm 2008, ĐBCLVN sản xuất khoảng 20 triệu tấn lúa, chiếm 55 % sản lượng toàn quốc, và 2.3 triệu tấn thủy sản mà 78 % là do nuôi Đồng bằng đóng góp 90 % lượng gạo xuất cảng của toàn quốc, và 60 % kim ngạch là do tôm xuất cảng Tính theo số lượng xuất cảng thì lớn, nhưng không đem lại lợi tức bao nhiêu, tổng kim ngạch xuất cảng của ĐBCL chỉ có 3 tỷ USD năm 2006, không tới
10 % tổng kim ngạch xuất cảng của cả nước ĐBCLVN có cần tiếp tục độc canh ngành lúa để xuất cảng gạo không?
Trước nhất, ĐBCLVN có đủ nước canh tác trong mùa hạn, tức vụ lúa Đông Xuân không? Trong mùa mưa, ĐBCLVN dư thừa nước để canh tác vụ Hè-Thu hay Thu Đông trên toàn thể 2.4 triệu ha đất ruộng, nhưng không đủ nước để canh tác toàn thể diện tích này trong vụ lúa Đông Xuân, tức mùa hạn, từ tháng 1 đến thàng 4
Trang 9Hiện tại, trong 5 tháng mùa hạn (từ tháng 1 đến tháng 5), ĐBCLVN chỉ nhận được số lượng nước (chảy qua sông Tiền và sông Hậu) trong giới hạn từ 1,800 m3/s (là lưu lượng tối thiểu chảy vào mùa hạn) đến 3,300 m3/s (lưu lượng tối đa vào mùa hạn), tính trung bình 2,500 m3/s, tức khoảng 32.4 tỷ m3 nước Trong tình trạng hiện tại, khi các cửa sông chưa đóng kín bằng hệ thống đập dọc biển, chúng ta chỉ sử dụng được tối đa 30 % dung lượng nước này, tức khoảng 9.72 tỷ m3trong canh tác nông nghiệp, kỹ nghệ và gia dụng để cả ĐBCLVN không bị nhiểm mặn và thiếu nước ngọt
Với điều kiện khí hậu, đất đai và hiện trạng canh tác lúa ở ĐBCLVN hiện nay, trong vòng 100 ngày canh tác lúa Đông Xuân, lượng nước bốc hơi trung bình khoảng 2,400 m3/ha (biến thiên từ 1,800 đến 3,000 m3/ha, tùy tháng và địa phương), thấm lậu qua bờ bao và xuống sâu khoảng 3,500 m3/ha (từ 2,000 – 5,000 m3) (3), nhu cầu sinh học để có năng xuất cao khoảng 5,000 m3/ha, và giữ một lớp nước tối thiểu trên mặt 1,000 m3/ha, như vậy có nhu cầu nước trung bình khoảng 12,000 m3/ha/vụ Như vậy, ĐBCLVN chỉ canh tác tối đa được khoảng 810,000 ha lúa Đông Xuân để không ảnh hưởng nhiều tới môi trường sinh thái Ngay cả một khi được đóng kín bằng hệ thống đê biển và cống ngăn mặn, nghĩa là hoàn toàn không bị nước biển xâm nhập, ĐBCLVN cũng chỉ sử dụng tối đa 60 % dung luợng nước này, tức canh tác tối đa khoảng 1.6 triệu ha lúa Đông Xuân, bởi
vì cần một số nước giữ ở sông rạch, giữ thủy cấp cao để đồng bằng không bị lún sụp Hiện tại, chính phủ đang khuyến khích canh tác 1.6 triệu ha cho vụ lúa Đông Xuân 1009-1010 Đó là lý do tại sao nước mặn mỗi năm càng xâm nhập sâu vào nội địa, và thiếu nước canh tác và sinh hoạt trong nhiều vùng ở ĐBCLVN giữa mùa hạn
Trang 10Gia tăng diện tích lúa Đông Xuân, dĩ nhiên chính phủ đạt được chỉ tiêu số lượng gạo xuất cảng, nhưng phần thất thiệt về năng xuất (do nước mặn, thiếu nước ngọt) và lợi tức thì người dân gánh chịu
Gia tăng diện tích trồng lúa, gia tăng số vụ lúa/năm, và kỹ thuật thâm canh lúa hiện nay là giảm phẩm chất nước (phèn, nhiểm mặn, ô nhiểm phân bón, thuốc sát trùng, thuốc diệt cỏ), làm gia tăng đất bị nhiểm mặn Trong 2 thập niên qua, canh tác lúa trong mùa khô (vụ Đông xuân) ở VN đã sử dụng nhiều nước gấp đôi
số lượng sử dụng của các đồng bằng hạ lưu Cửu Long khác (14)
Để hợp lý hóa vấn đề sử dụng nước ngọt, trong lúc vẫn gia tăng lợi tức của nông dân, và tránh vấn đề độc canh lúa, cần phải quy hoạch lại chương trình sản xuất nông nghiệp đúng theo môi trường của địa phương
An Giang Ngược lại, canh tác hoa màu chịu mặn và nuôi thủy hải sản đem nhiều lợi tức hơn cho người dân và mang lại nhiều ngoại tệ cho đất nước hơn xuất cảng lúa gạo Vì vậy, cần giới hạn lại khu vực ngọt hóa vừa tầm với khả năng cung cấp nước ngọt, kỹ thuật ngăn chận nước mặn và khả năng tài chánh bảo toàn hệ thống Hơn nữa không cần thiết canh tác nhiều lúa ở Bán Đảo Cà Mau Canh tác lúa không có lợi
Trang 11Vùng duyên hải và bán đảo Cà Mau xưa nay vốn là vùng sản xuất thủy hải sản, và nông dân đã có kinh nghiệm sống chung với nước mặn Việc thất bại nuôi tôm rầm rộ với quy mô lớn trong thập niên 1990s đã giúp cho nông dân tự tìm một
mô hình thích hợp cho sản xuất ở vùng nhiểm mặn Đó là luân canh giữa nuôi tôm trong mùa hạn khi nước mặn xâm nhập vào ruộng, và trồng lúa trong mùa mưa sau khi đất được rửa bớt muối Với hình thức canh tác này đều cho năng xuất tôm cao (ít bệnh, ít thức ăn vì nhờ phiêu sinh từ rơm rạ mục, năng xuất trung bình 100 -
300 kg tôm/ha/) và năng xuất lúa cao (3.5 đến 5 t/ha), nhờ vậy nông dân có lời (sau khi trừ phần tổn phí) từ 8 triệu đến 50 triệu đồng/ha/năm Trước đây, hoặc chỉ nuôi tôm, hoặc chỉ trồng lúa, nếu không phá sản thì cũng chỉ có lời chút đỉnh, “lấy công làm lời” Mặc dầu đây chưa phải là một mô hình hoàn hảo, nhưng khả dỉ mang lại nhiều lợi tức cho người dân, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái của vùng biển Cần phải nghiên cứu những giống lúa kháng mặn thích ứng cho vùng này, chẳng hạn như giống lúa CSR10 của Australia vẫn cho năng xuất cao ở
7 g muối/l
Việt Nam cũng cần nghiên cứu cây phì-diệp-biển (Suaeda maritime (L.)
Dum.) mọc tự nhiên trong môi trường nước biển Việt Nam Hiện tại loại cây này
đã được canh tác với nước biển để lấy hột ép thành dầu sản xuất học, khả năng cho 1,260 l /ha so với 420 l/ha từ đậu nành Bả ép dầu chứa nhiều
nhiên-liệu-sinh-protein có thể làm thức ăn gia súc và thủy sản (22) Cỏ Sporobolus virginicus canh
tác ở vùng Đông Bắc Thái Lan được tưới bằng nước mặn để làm đồng cỏ cho trâu
bò Salicornia bigelovii cho dầu ăn và thân làm thức ăn gia súc Atriplex barclyana
dùng làm thức ăn cho trâu bò, đều là các loài thích ứng vùng nước mặn
Quan trọng nhất là cây dừa là cây thích hợp vùng nước lợ, thấy trồng bất cứ nơi nào trên vùng duyên hải, nhưng chưa khai thác đúng tiềm năng Chẳng hạn một trái dừa uống tươi ướp nứơc đá chỉ có 3,000 đồng một trái bán ở mọi tỉnh
Trang 12thành phố, trong lúc một chai nước uống không rỏ ngưồn gốc có dung tích tương đương có giá bán từ 5,000 đến 10,000 đồng Nước dừa đóng hộp, vô chai được bày bán ở khắp siêu thị Âu Châu, vệ sinh và bổ dưởng hơn cả nước khoáng trong chai Trong khi đó, người Việt Nam uống nước vô chai không nguồn gốc Ngoài
ra, dừa còn nhiều công dụng khác, và đã từng phát triển mạnh ở Bến Tre
Canh tác rong biển (sea weed) như Gracilaria và Eucheuma rất phổ biến ở
Trung và Nam Mỹ cũng như Phi Luật Tân Canh tác tảo biển giàu protein như
Spirulina và Duvalielle (chứa từ 50 tới 70 % protein) cũng cần đặc biệt nghiên cứu
để chế biến thức ăn bổ sung dinh dưởng cho người và gia súc như đã thực hiện ở Hawaii
Với nhiều vũng đầm trong 8 tỉnh duyên hải, rất lý tưởng cho việc nuôi
tôm, cá, sò huyết (Arca granosa), cua, ghẹ, đồi mồi, hải sâm (Holothuria scabra),
tu hài (Snout Otter Clam), nghêu (clam), sò điệp (scallop), bào ngư (abalone) hàu ngọc trai (pearl oyster), sò trai hai mảnh -xanh (green mussel), mực, cầu gai ( nhím biển ), v.v…rong biển (rong câu), v.v mà vùng ĐBCLVN chưa bắt đầu
Cũng cần biết thêm là kỹ thuật nuôi tôm công nghiệp hiện tại còn quá ấu trỉ, cho năng xuất quá kém, nhiều bệnh tật, nên nuôi tôm không có lời Năng xuất chỉ 300 kg/ha ở Cà Mau đến 500 kg/ha ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre Để sản xuất 1 kg tôm, phải cần 2 kg thức ăn, với giá 25 ngàn đồng/kg, trong khi đó giá tôm nguyên liệu quá thấp, đối với cỡ tôm 30 con /kg giá khoảng 100 ngàn đồng/kg, loại 40 con/kg giá 80 ngàn đồng/kg Do đó, chỉ tính riêng tiền chi phí thức ăn cho tôm đã chiếm đến gần 50 % Cần phải nghiên cứu lại kỹ thuật nuôi tôm công nghiệp theo kinh nghiệm nước người Kỹ nghệ nuôi tôm ở Hawaii đã đạt
45 t/ha/năm với tôm-thẻ-chân-trắng (Penaeus vannamei)
Trang 13Với một bờ biển trải dài hơn 600 km, với diện tích khoảng 1 triệu ha đất nhiểm mặn, cần thiết lập một viện nghiên cứu chuyên về nước mặn, tương đương với Viện Nghiên Cứu Lúa Ô Môn và Viện Cây Ăn Quả Long Định của vùng nước ngọt Thật đáng tiếc, một vùng có nhiều tìm năng kinh tế như vậy mà chưa có một trường đại học để chuyên về nước mặn, nước lợ Đại học Duyên Hải Nha Trang không thể đáp ứng được với nhu cấu phát triển đặc biệt của vùng này
2 Trong vùng nước ngọt quanh năm Hiện tại, nơi canh tác lúa 3 vụ/năm nên chuyển hướng canh tác 2 vụ lúa + 1 vụ hoa màu ngắn hạn (100 – 120 ngày) trong mùa hạn như đậu nành, đậu xanh, bắp, sorgho đường ít có nhu cầu nước Việc canh tác lúa liên tục làm đất mất dưởng chất, tích tụ nhiều chất độc (thuốc diệt cỏ, thuốc sâu và bệnh), vì để duy trì năng xuất cao, nông dân phải gia tăng số lượng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, v.v
Chẳng hạn ở vùng Tân Châu, Châu Đốc, cho mỗi vụ lúa trên 1 ha ruộng nông dân bón 170 -250 kg phân Urea (46 % N), 100 kg phân DAP (chứa 18 % N+46 % P2O5), 50 – 80 kg phân ClK (60 % K2O), sử dụng 1 - 1.2 lít thuốc diệt
cỏ Butachlor, xịt thuốc trừ sâu cuốn lá với Alpha Cypermerine (1 l/ha/1 lần phun, thường khoảng 3 lần) hoặc 3.6 Abamectin (0.4 l/ha/1 lần phun), trừ rầy nâu với Bassa (1 lít/ha/lần phun); hoặc Chess (1 kg/ha/lần phun, mỗi vụ từ 0-4 lần phun), trừ nhện với Kinalus (1 lít/ha/1 lần phun, 1-2 lần/vụ) Để trị bịnh lúa, dùng Validamicin 3 % (2 lit/ha/lần, 2-3 lần/vụ), hoặc Anvil 5SC (1 lit/ha/ lần phun, 2 lần /vụ) cho bệnh Khô vằn; bịnh Đạo ôn với Fuan (fuji one)1 lit/ha/lần phun, 2-3 lần /vụ; bệnh Cháy bìa lá với Sasa (hoặc Asusu) khoảng 0.5 kg/ha/lần phun, 1-2 lần/vụ; bệnh Lem lép dùng Tilt Super 300 cc/ha/lần phun, 2-3 lần/vụ Ngoài ra, nông dân còn dùng cả chất kích thích tăng trưởng GA3, 20 g/ha/lần phun, 1-2 lần/vụ và xịt phân bón lên lá 7-5-44-TE để nuôi hạt sau khi trổ, 1 kg/ha/lần phun,
Trang 141-2 lần/vụ Vì vậy, tổn phí sản xuất rất cao, không có lời Nếu năng xuất lúa khoảng 4 t/ha/vụ thì coi như lổ, lời khoảng 400,000 đồng/ha/vụ (khoảng 23 USD) nếu năng xuất 5 t/ha, lời khoảng 6 triệu đồng/ha (340 USD) nếu năng xuất đạt 6 t/ha/vụ Thông thường, cứ 3 vụ lúa/năm thì một vụ huề vốn, 2 vụ có lời Năng xuất trung bình ở Tân Châu là 18 t/ha/3 vụ lúa Ở vùng Đồng Tháp năng xuất thấp hơn, nhất là vụ Đông Xuân bị ảnh hưởng phèn và thiếu nước, coi như không lời mấy
Việc nuôi cá đồng, cá rô Phi Tilapia trong mùa nước lũ thay cho 1 vụ lúa có thể là một mô hình hửu hiệu Nông dân cũng có nhiều kinh nghiệm nuôi cá rô, cá
rô Phi Tilapia trong ruông lúa từ thập niên 1950s
Nuôi cá da trơn nước ngọt (cá Basa, cá Tra) trên sông và ao hồ dọc Sông Tiền, sông Hậu và các kinh đào mang nhiều lợi tức Ở Đồng Tháp nuôi cá tra, năng xuất trung bình 150 t/ha/năm (1 vụ nuôi kéo dài 7-8 tháng, xem như 2 năm
có 3 vụ cá), tuy nhiên nếu nuôi đúng kỹ thuật cho năng xuất 300 t/ha/năm Nếu giá
cá bán tại ao với giá 15,000 đồng /kg cá thì coi như huề vốn với ao cá có năng xuất
150 t/ha Vào tháng 10/2008 giá cá tra bán tại chỗ khoảng 17,000 đồng/ kg, và giá
cá xuất vào thị trường EU ở mức 3.2 USD/kg
Trong năm 2008, ĐBCLVN có khoảng 5,102 ha diện tích ao nuôi cá tra
Pangasius hypoththalmus và ba sa Pangasius boncourtii, ở các tỉnh An Giang,
Đồng Tháp, Cần Thơ, cho sản lượng 1 triệu tấn cá, năng xuất trung bình 200 tấn cá/ha/năm, xuất cảng trên 535 ngàn tấn qua 117 quốc gia, vùng lãnh thổ (Châu Âu chiếm 48%), kim ngạch xuất cảng đạt 1.250 tỷ USD (28) Cá Pangasius có năng xuất 50- 80 tấn/ ha ở ao hồ nước ngầm , 100- 200 tấn/ha ở các ao hồ phù sa
và 300- 600 tấn / ha / năm ở lồng bè cở lớn, tỉ trọng thả cá con rất cao , bề sâu 3 m
và nước chảy , thay đổi thường xuyên Lợi tức nuôi lồng bè theo nước chảy lên đến 2 tỷ đồng VN/ ha một năm (23)
Trang 15Nuôi cá lóc trong hầm ao hay trong bể có lót nylong dày, sâu 1 m, mỗi m2 nuôi khoảng 100 – 150 cá lóc con, chỉ trong 5 tháng một lứa Mỗi 100 m2 ao cá lót nylong, có thể lời 25 triệu đồng trong 5 tháng
Tôm càng cũng dễ dàng nuôi trong đồng ruộng nước ngọt khắp ĐBCLVN, nhất là vùng ngày xưa canh tác lúa cấy 2 lần ở Cần Thơ, Vĩnh Long, vì ruộng cần
có một lớp nước sâu tối thiểu 0.6 m, và nước có pH = 7 - 8.5
ĐBSCL cũng là nơi chăn nuôi trâu bò (gồm cả bò lấy thịt và bò sữa) và gia cầm thích hợp, đặc biệt là vịt thả trong ruộng, trên mương, rạch Số vịt được nuôi
ở khu vực này chiếm trên 50% cả nước Cần phải có cánh đồng trồng cỏ dinh dưởng cao, thay vì trâu bò thả rong ăn cỏ hay rơm rạ như hiện nay
Trên vùng đất cao dọc ven sông là nơi dành cho cây ăn trái, mà xưa nay vốn được gọi “Miệt Vườn” Tại vùng Cần Thơ, nông dân cải thiện vườn cây tạp bằng cách lên bờ bao chung quanh để tránh ngập úng và hệ thống mương, liếp, để trồng cam, quit, bưởi Đặc biệt chú trọng về cải thiện giống trái cây hầu bắt kịp và cạnh tranh với Thái Lan trong lảnh vực này trên thị trường quốc tế Ở vùng Cần Thơ, trồng bửơi cho lợi tức khoảng 20 triệu đồng/ha/năm, cam khoảng 40 triệu đồng/ha/năm trong lúc lúa chỉ lời 1 triệu đồng /ha/3 vụ lúa/năm Tuy nhiên cam
VN không có khả năng xuất cảng vì trái màu xanh khi chín Hiện tại, 90 % vườn vùng Cần Thơ là vườn tạp, đa số là chuối giống tạp, xen kẻ với cam, quit, bưởi, vườn bị ngập nước trong mùa lụt Cần phải cải tạo các vườn này, có bờ đê ngăn lụt, có mương dẫn nước và cống giữ nước, và chuyên canh một loại cây ăn trái trên diện tích lớn theo quy chế hợp tác mới có khả năng xuất cảng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Mía cũng có thể phát triển nhiều hơn nữa với điều kiện là phải có giống tốt, năng xuất cao và độ đường cao, nhà máy đường phải hiện đại và phải biết quản lý
Trang 16chương trình canh tác mía và nhà máy hợp lý mới có lời Với kỹ thuật hiện tại, chỉ huề vốn và thua lổ Năng xuất mía trung bình là 60-70 t/ha tùy năm với độ đường trung bình quá thấp, 8 %, có nơi chỉ có 5 % độ đường Tổng số diện tích trồng mía ở ĐBCLVN biến thiên giữa 50,000 (hiện nay) và 87,000 ha (năm 2000) tùy theo giá mía của vụ trước
Trên vùng đất phèn như Đồng Tháp Mười hay vừa phèn vừa giàu hửu cơ như ở vùng U Minh, phát triển trồng khóm (dứa, nhóm Queen) đóng hộp Hiện tại năng xuất biến thiên 10 – 20 t/ha/năm 1 ha dứa một năm có lợi tức từ 20 triệu tới
30 triệu đồng Ở Hawaii , sau khi ép lấy nước đóng hộp, xác thơm khóm được sấy khô pha với mật đường để làm thức ăn cho bò Khoai mì cũng thích hợp trên đất phèn
Cây cacao hiện đang phát triển mạnh ở vùng Bến Tre Trung bình 1 ha đất trồng xen cây ca cao với dừa cho khoảng 1.5 tấn hạt (biến thiên giữ 1 và 2.5 tấn/ha), bán với giá trên dưới 23,000 đồng/kg Vào tháng 10/2009, giá cacao ở Bến Tre tăng tới 45,000 đồng/kg Tập đoàn Cargill phân chất cho biết chất lượng cacao Bến Tre có hàm lượng chất béo 55 % - 56 %, thuộc loại phẩm chất hàng đầu châu Á Có thể phát triển cho tới vùng Cân Thơ, trồng xen kẻ với cây ăn trái Trước 1960, trồng ca cao rất thành công ở vùng Cần Thơ, nhưng không tiêu thụ được đành đốn bỏ Ngày nay, đã có nhiều công ty mua thu góp hạt cacao ủ, như công ty ED & FMAN và Cargill
4 Giữ nước ngọt trong đồng bằng