1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx - Phần Bảy: Xã hội Trung Cổ pps

18 233 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 201 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Một mặt biến thành đại điền trang tự túc ở trong Chúa phong kiến nắm tư liệu - nắm nông nô căn bản - bóc lột siêu kinh tế là phụ] Căn bản sự chuyển biến từ nô lệ qua nông nô là do sự

Trang 1

Phần Bảy: Xã hội

Trung Cổ

I – PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT

1) Cuối thời Cổ đại, sức sản xuất đã phát triển đến mức bắt buộc phải tổ chức sản xuất theo lối tiểu quy mô: với cái cày sắt đã được phổ biến, với nghề thủ công đã được tổ chức ở thôn quê (quan trọng) + đã có những điều kiện để phát triển

phương thức sản xuất tìểu quy mô: phương thức sản xuất gia đình độc lập tự do

hay một phần tự do Cuối công xã đầu nô lệ, phương thức sản xuất trung quy mô cũng phát triển, kinh tế gia đình phát triển với sự lao động của nô lệ, cày đồng thủ công bắt đầu phát triển, kinh tế gia đình phát triển với sự lao động của nô lệ Hình thức bóc lột nô lệ đầu tiên là bóc lột trong gia tộc, dễ dàng và coi sóc luôn - nô lệ phải làm việc Với sự phát triển, phương thức này bị lấn át từ cuối nô lệ Kinh doanh nô lệ xuất hiện Công trường thủ công mua nô lệ ở tỉnh: làm bát đĩa, tàu biển dần dần bị lấn át vì sự phát triển của chế độ nô lệ - nông nô (nhiều nô lệ quá, trung gian phá sản, chủ nô cô lập, không coi sóc được, sinh ra chây lười) Sự phát triển này tạo điều kiện chuyển biến sang chế độ nông nô (giải phóng phần nào: cho ruộng, nhà, v v ),

[- Tiểu chủ nô bị đại chủ nô lấn át

Trang 2

- Đại chủ nô mang mâu thuẫn - tự thủ tiêu phát triển:

- 1 người làm việc nuôi được 1 người nữa - công xã qua nô lệ

- 1 người làm nuôi nhiều người và nuôi mình một cách khá giả hơn nô lệ: nô lệ - nông nô

- Một mặt biến thành đại điền trang tự túc ở trong Chúa phong kiến nắm tư liệu - nắm nông nô (căn bản) - bóc lột siêu kinh tế là phụ]

Căn bản sự chuyển biến từ nô lệ qua nông nô là do sự phát triển của lục lượng sản xuất - hình thức tiểu quy mô của người lao động có thể duy trì và phát triển

được: bấy giờ một người làm có thể nuôi nhiều người và tự nuôi mình một cách khả quan hơn nô lệ Bóc lột trở nên tinh vi hơn Nhường cho nông nô một phần nào quyền lợi để bóc lột được nhiều hơn - năng suất cao Đó là lý luận chung,

nhưng không phải chủ nô sáng suốt tự động giải phóng nô lệ, mà nhờ cuộc đấu

tranh của nô lệ và dân nghèo làm bọn chủ nô tan rã, phải nhượng bộ

[- Gia đình lao động: nông nghiệp hay thủ công tự do, khác tiểu chủ nô và đại chủ

- Gia đình lao động làm tế bào cho xã hội]

Chế độ phong kiến phát triển trên cơ sở lao động tự do tiểu quy mô (Gia đình lao

động: nông hay thủ công)

Trang 3

Nhưng đồng thời chế độ phong kiến tuy đối với nô lệ có giải phóng phần nào

buổi đầu, nhưng căn bản nó kìm hãm phương thức sản xuất tiểu nông và thủ công

và những đại điền trang phong kiến Vì trong đại điền trang các gia đình không được phát triển được vì Chúa phong kiến chiếm mất mà chỉ để cho một số tối thiểu thôi Tổ chức thủ công trong điền trang kìm hãm thị trường thủ công tự do

- Đặc điểm: lao động tự do hay tự do một phần

- Bước đầu chế độ phong kiến còn phù hợp với sự phát triển của sức sản xuất, nhưng càng ngày phương thức bóc lột tô càng mâu thuẫn với sự phát triển đó

2) Tổ chức lao động gia đình trong phong kiến rất quan trọng vì có ý nghĩa rằng

giá trị của lao động phần nào được công nhận (khác người lao động trước kia là

nô lệ không có tự do) Nhưng lao động tự do này có tính chất cá thể chưa tổ chức

Họ vẫn bị phong kiến đàn áp vì phần quan trọng của phương tiện sản xuất ở trong

tay chúng Đó là mẫu thuẫn căn bản: phương thức sản xuất cá thể tự do phần nào

và quan hệ sở hữu phong kiến

[Trước kia, lao động là phần của người nô lệ Bây giờ người lao động được công nhận phần sở hữu về phương diện sản xuất]

Mâu thuẫn này diễn biến qua 3 giai đoạn:

Trang 4

II - CUỘC ĐẤU TRANH GIAI CẤP

3 giai đoạn:

l) Từ thế kỷ V - thế kỷ X: là thời gian tan tành của những di tích của chế độ Cổ đại, phát triển chế độ đại điền trang và xây dựng quan hệ xã hội phong kiến Di

tích của xã hội cổ đại (căn bản là tổ chức văn minh thành thị: kinh tế thành thị, chính trị, hành chính, v.v tập trung ở thành thị) dần dần tan rã, tới thế kỷ X có thể xem là tan tành, những tổ chức này dần chuyển hẳn về thôn quê lấy đơn vị là điền trang phong kiến

Những quan hệ xã hội phong kiến được xây dựng

- Giữa chúa phong kiến và nông nô

- Giữa chúa và chư hầu (từ kỵ binh cho đến ông vua hay Hoàng đế)

Về mặt tư tưởng, được xây dựng trên quan niệm ban ơn giữa chúa phong kiến và

nông nô hoặc giữa chúa và chư hầu)

[- Thành thị suy đồi vì bị sự cạnh tranh của nông nghiệp điền trang phát triển,

không bán cho ai - kinh tế tự túc

- Giáo hội cũng suy đồi: hoặc phụ thuộc chúa phong kiến hoặc biến thành phong kiến

Trang 5

- Tuy nhiên vẫn có liên quan lỏng lẻo (Giáo hội bao trùm), trên cơ sở mới hoàn toàn đó, công thương nghiệp lại phát triển từ dưới lên trên Một nguồn gốc nữa là

nông nô trốn đại điền trang ra tỉnh

- Căn bản sự khôi phục thành thị là sự phát triển lao động và đấu tranh của nông

nô và nông dân

- Thế kỷ XIV ở Anh đã có nhiều nông dân tự do, nhưng tới thế kỳ XV một số lớn lại bị phá sản vì phong kiến cạnh tranh với tư bản Trên cơ sở đó, một số nông dân lại vô sản hóa ra thành thị trở thành vô sản

- Marx: «Chế độ tư bản xây dựng trên sự vô sản hóa nông dân và thợ thủ công»

- Quá trình này song song với sự phát triển yếu tố tiểu tư sản Tiểu tư sản - phong kiến nhưng lại lợi dụng, bóc lột phong kiến - phong kiến tăng cường bóc lột nông dân, nó phản ánh vào tư tưởng dưới hình thức lý tính và tín ngưỡng.]

2) Từ thế kỷ XI - XIII: những thành thị lại được khôi phục, công thương được phát triển - gây điều kiện giải phóng cho nông nô? Uy quyền của bọn chúa phong

kiến bị hạn chế, đã có những quốc gia phong kiến lớn nhưng chưa tập trung Thời này là sự phát triển của công thương nghiệp thành thị điều hòa với đại điền

trang (có mâu thuẫn nhưng điều hòa) dưới uy quyền nhà vua

3) Thế kỷ XIV - XV: yếu tố tiền tư bản cách mạng phát triển, căn bản là tư bản thương mại và tư bản tài phiệt (có những hãng lớn) Do đó khuôn khổ của chế độ phong kiến bị phá vỡ Phát triển công thương nghiệp đi đến đối kháng với chế độ

điền trang Những cuộc nông dân khởi nghĩa rất mạnh Những quốc gia phong

Trang 6

kiến dần dần được tập trung và đi đến tổ chức Nhà nước phong kiến tập quyền

trên cơ sở tư bản - hình thức quá độ tiến tới cách mạng tư sản

III - PHONG TRÀO TƯ TƯỞNG

Sự diễn biến của phong trào tư tưởng cũng diễn biến những đấu tranh giai cấp xã hội: l) những tư tưởng tiến bộ nổi dậy đấu tranh phản đối uy quyền phong kiến và Giáo hội; 2) những cố gắng để thỏa hiệp giữa uy quyền phong kiến, giáo hội và những sức sản xuất mới

[- Gia Tô chứa nhiều mâu thuẫn, chủ yếu là 3 ngôi Nên khi công thương khôi

phục (thế kỷ XI), có một luồng tư tưởng đặt vấn đề «3 và l», đó là một trong những nguồn gốc của Thần học phải duy trì kinh nghiệm phổ cập, vì đó là cơ

sở lý luận của nó, nó không đếm xỉa cá thể - kinh nghiệm 3 ngôi: chất thần không cần đến cá thể - quan trọng

- Theo truyền thống Cổ đại: thần chất là kiểu mẫu, tốt, đẹp, đúng Mà tốt đẹp là tiêu chuẩn tổ chức sản xuất, quan hệ sản xuất Toàn bộ tổ chức xã hội nằm trong chất thần, tức giai cấp thống trị tiêu biểu là vua Trong nô lệ, ông thần hoàn toàn siêu nhiên (vì chủ nô không xem nô lệ là người), tạo tác thế gian bằng lời (chủ nô sai khiến nô lệ làm mọi việc) - mọi việc trong trần gian thực hiện bằng lý, tức là lời - phản ánh hoàn toàn chế độ nô lệ]

Có 3 giai đoạn:

Trang 7

l) Chế độ phong kiến xây dựng tiêu diệt di tích cũ: không có sáng tạo và căn bàn không thể sáng tạo được, vì sức sản xuất mới còn phát triển hoàn toàn trong khuôn khổ phong kiến (khuôn khổ xã hội phong kiến tương đối còn phù hợp với tính chất sản xuất), nó chỉ duy trì (trong Giáo hội và nhà tu) một phần nào thành

tích văn hóa Cổ đại Căn bản là triết học của những ông Cha (của nhà thờ) cuối

Cổ đại, đã xây dựng (lớn là St Augustin [01]) một nền triết học phục tùng tôn

giáo, cho rằng thế giới lý tưởng của các triết gia - nhất là thế giới ý niệm của

Platon - tức là cái lý (lời, verbum [02] hay logos), cái sáng tạo của Thượng đế

(Thượng đế đẻ ra lý tức là những ý niệm), ý niệm là lời nói, là lý của Thượng đế,

nó biến thành vật thể bằng cuộc Giáng thế của Gia Tô (Gia Tô là lý đó biến thành người) Người sinh ra từ quá trình vật thể hóa đó (Thượng đế - lý - vật thể), và lý tưởng của người là được cứu thế, trở lại Thượng đế qua các lý tức Gia Tô: cái tốt, đẹp, lý tưởng thực hiện trong Chúa Gia Tô Khi người ta nói một cái gì đúng, làm một cái gì đẹp, làm việc tốt, là ta thực hiện được một giá trị của Thượng đế thông qua Gia Tô

[- Ý niệm là kiều mẫu và nguồn gốc của vật thể cá thể

- Gia Tô là lý thể hiện thành chất

- Verbum: những câu nói của Chúa phong kiến ban thái ấp cho chư hầu

- Verbum = lời + lý

- Thượng đế nói lời, tức là lý, tức ý niệm

- Tính chất trung gian của Chúa (vừa là thần vừa là người)]

Trang 8

Cuối thời Cổ đại, các Cha Giáo hội đã thống nhất được câu chuyện thần thoại với thần học duy tâm Cổ đại trong một hệ thống phản ánh những đòi hỏi của xã hội bấy giờ, và những đòi hỏi này được thực hiện trong xã hội phong kiến Hệ thống Chúa qua chư hầu tới kỵ binh - nông nô là một hệ thống từ trên xuống và từ dưới lên: trên ban ơn xuống, dưới trả ơn bằng sự thực hiện những giá trị thiết thực (nộp tô, cống nạp ) (ban ơn: phong tước cho chư hầu này là chúa của những chư hầu nhỏ hơn, và cứ thế ban ơn xuống mãi)

[- Lúc chủ nô cách mạng biến thành chúa phong kiến, nông nô được tự do phần nào, được công nhận là người Ông Thần siêu nhiên không thể chỉ cứu thế cho chủ nô, mà cả cho lực lượng lao động tức nông nô Thượng đế phải thành người - vừa ở trên trời vừa ở dưới đất (vừa nắm quyền thống trị, vừa đi đôi với nhân dân) Giới ý niệm, một mặt là chúa Gia Tô, một mặt vẫn là lý giới, phản ánh và bảo đảm phương thức bóc lột phong kiến Đến lúc mâu thuẫn xuất hiện, nông dân và công thương vùng dậy, thì hệ thống kích thước tổ chức xã hội bắt buộc phải dứt khoát Không lý do gì đi tìm tiêu chuẩn tổ chức trong ý niệm mà phải trong

những cá thể xuất hiện trong kinh nghiệm Duy thể duy trì 3 ngôi để duy trì trật

tự xã hội vì nó là theo tiêu chuẩn của Thượng đế

- Đấu tranh duy danh và duy thể là đấu tranh triết lý tính và tín ngưỡng Những trường hợp này xuất hiện dưới hình thức kinh nghiệm cá tính với cái tổ chức ra lý tính (lý tính của Thần học)

- Duy danh chưa đủ sức thể hiện dưới lý tính và chưa hệ thống – mang hình thức kinh nghiệm cá thể vụn vặt Trong lúc Thần học căn bản là tín ngưỡng, nhưng nó được tổ chức thành hệ thống phản ánh hệ thống xã hội nên tự nhận là lý tinh - với nhu cầu, nó cải tiến để phục vụ lý tính mới (Anselme [03]: «tín ngưỡng phải đi

Trang 9

tìm lý tính») - hình thức thì lý tính về Thần học, nhưng về thực chất lý tính về duy danh, cá thể, kinh nghiệm]

2) Tới thế kỷ IX và X thì hệ thống này hoàn thành, nhưng đồng thời xây dựng những yếu tố mâu thuẫn với nó (nhờ uy quyền Giáo hội, ví dụ: chỉ đánh nhau với

những người nào thôi, nên có thể đi lại được), nên công thương nghiệp có điều kiện phát triển - mâu thuẫn: nông nô và tá điền có điều kiện giải phóng (tiếp xúc với công thương nhân có điều kiện có công cụ mà không phải thông qua chúa phong kiến hoặc ép dầu, xay lúa v.v , trước kia phải phụ thuộc chúa phong kiến

[Giáo hội duy trì được trật tự tối thiểu trong và giữa các hệ thống chư hầu - công thương có thể phát triển được]

Công thương nghiệp trong chế độ phong kiến chỉ có ý nghĩa ở ảnh hưởng của nó đối với nông nô và nông dân, chứ bản thân nó so với phong kiến thì không có

nghĩa gì Do đó có những cuộc nổi dậy của nông dân và của các thành thị đòi tự

do buôn bán (cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII) Phong trào nổi dậy này làm cho

những tư tưởng thống trị cũ bị lung lay Nó đối kháng với giáo điều (cuối thế kỷ

XI đầu thế kỷ XII) tư tưởng duy danh (duy danh cho rằng những khái niệm phổ cập định nghĩa các loài giống chỉ là những danh từ, mỗi danh từ biểu thị một số vật thể, nhưng thực tại thực chỉ có vật thể cá thể thôi) Tư tưởng này đối lập với

tư tưởng Giáo hội (Thượng đế sáng tạo qua lý - lý là ý niệm và đối với chúng ta

là khái niệm phổ cập)

Trang 10

[Duy danh chưa đụng tới Chúa nhưng làm lung lay khái niệm phổ cập]

Thực ra, những nhà duy danh chưa dám đấu tranh trực tiếp đối với giáo điều của Giáo hội, nhưng ý nghĩa thực sự của nó lay chuyển những giáo điều (quan niệm 3 ngôi trở nên vô lý) Luồng tư tưởng Gia Tô biểu hiện là phái duy thể (còn gọi là duy thực - BT) cho rằng những khái niệm phổ cập có thực thể phổ cập ngoài cá thể

Ý nghĩa: duy danh đề cao cá thể - đề cao quyền lợi thực tế chống lại những quyền lợi héréditaire của hệ thống phong kiến, những khuôn khổ cố định của hệ thống

phong kiến Khái niệm đề cao thực thể có thể thay đổi được thực tế xã hội

Cuộc đấu tranh giữa duy danh và duy thể là hiện tượng căn bản trong triết học

kinh viện thế kỷ X (trong các trường đại học và dựa vào kinh điển của Giáo hội

và một ít triết học Cổ đại – schola [04]: nhà trường), phương pháp là cãi nhau

bằng danh từ kinh viện nhiều hơn là phân tích và kinh nghiệm (kinh viện sau này

có nghĩa là giáo điều, xa thực tế) Tính chất này do uy quyền Giáo hội tạo nên chứ không phải do phái duy danh hay duy thể

Duy thể tìm cách xây dựng một hệ thống tư tưởng theo lý tính để củng cố tôn giáo

Trang 11

Duy danh không trực tiếp phản đối tôn giáo, nhưng đề ra những điểm mới giải phóng tư tưởng ngoài truyền thống cũ - điểm mới là quyền của cá thể

Phong trào củng cố tư tưởng Giáo hội là xây dựng một hệ thống thần học dùng lý

tính phục vụ tôn giáo, phục vụ cái linh báo (révélation): quan trọng có St

Anselme, St Thomas d’Aquin [05] tìm đủ mọi lý tính - về mặt lý tính - để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế

Anselme (thế kỷ XI - XII) tìm ra dẫn chứng thực chất: không đặt vấn đề tin

Thượng đế hay không, mà đi từ khái niệm Thượng đế trong đầu óc Nó là một thực thể không gì to hơn, giả thử khái niệm đó chỉ có trong đầu óc ta thôi thì ta có thể quan niệm một thực thể vừa trong vừa ngoài vậy to hơn - chứng tỏ có một Thượng đế ở ngoài Đây là một lập luận theo đường vòng, và tương đối có tính chất tiến bộ vì nó đặt sự tồn tại của Thượng đế dưới lý tính (có suy luận chứ không ngu muội) lý luận bề ngoài

Thomas d’Aquin chứng minh sự tồn tại của Thượng đế bằng sự thiếu lý tính của Thế giới Nếu không quan niệm có Thượng đế thì thế giới cũng không có lý tính -

đặt vấn đề lý tính - (dẫn chứng vật lý Thần học mục đích)

Trước thế kỷ XII, XIII, phong trào duy danh được sự ủng hộ của Triết học

Aristote, nhưng triết học Aristote là nhị nguyên nên sau Thomas lợi dụng (vì nó

Trang 12

đề cao cả cá thể và đề cao cả ý niệm nên nó lợi dụng đề cao khái niệm phổ cập)

Từ đó triết học kinh viện hoàn toàn lạm dụng Aristote Thomas d’Aquin từ đó và

mãi đến ngày nay vẫn được xem là một nhà thông thái nhất của Giáo hội (Somme [06] théologique - Giáo điều tổng luận)

3) Cuối thể kỷ XIII, XIV, phong kiến tan rã: duy danh đi thêm một bước, chẳng những nó đề cao cá thể mà còn đề cao kinh nghiệm (còn thô sơ dưới hình thức kinh nghiệm chủ nghĩa) Hai triết gia vĩ đại là Roger Bacon [07] (thế kỷ XIII) và

Guillaume d’Occam [08] cho rằng chúng ta chỉ biết cá thể qua kinh nghiệm – đó

là tiền bối của cách mạng khoa học

[- Nhiều khi những nhà tư tưởng tiến bộ dựa vào tính chất tuyệt đối của Thượng

đế để đánh đổ St Thomas Ví dụ Duns Scot [09] đưa ra một phản đề với lý luận

và những đặc tính (trí tuệ, đạo đức, vô hạn), các nhà tiến bộ cho như thế là đã lý

luận được Thượng đế, vậy không thể chỉ có lòng tin mà giải phóng được lý tính

Ta nhận thấy, những tư tưởng lý tính có thể xuất hiện dưới hình thức phản lý

- Với trình độ sản xuất Trung Cổ: gia đình cá thể (chưa quy mô lý tính) chưa có thể xây dựng một hệ thống lý tính có thể giải thích được các sự việc Và dù toán pháp mà môn này chưa cần và chưa có hệ thống trong sản xuất cá thể, chỉ khi sản xuất quy mô mới phát triển, yêu cầu lý tính ở đây chỉ là một yêu cầu kinh nghiệm chủ nghĩa, nhưng sở dĩ đạt được là nhờ một cuộc đấu tranh gay go của nông nô

và thị dân chống phong kiến Đặc biệt, trong thị dân địa chủ cũ và mới (thần học

và đòi hỏi của đời sống thực tế), lý tính, đạo đức, chân thực xuất hiện một cách rất cảm động trong những thành thị bấy giờ, nhất là trong những chuyển biến lớn (thế kỷ XII, XIII hay thế kỷ XIV, XV - thời phong kiến sơ kỳ xuất hiện những phong trào thần bí mạnh mẽ: nhóm tự đánh mình, cấm dục, tự phạt ) để đi vào đường gọi dị giáo

Ngày đăng: 27/07/2014, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm