Năm 1997 Đề tài nghiên cứu địa nhiệt của Viện Địa chất và khoáng sản cũng đến khảo sát và đặt tên Mẫu 2 1997 Viện Hoá học TT KHTN CNQG Tính chất vật lý trong, mùi H2S, vị nhạt trong, mùi
Trang 1TỈNH QUẢNG TRỊ
132 Nguồn Tân Lâm
Vị trí Làng Tân Lâm, huyện Cam Lộ Từ quốc lộ 1 rẽ sang đường 9 đi đến km 27
rẽ phải theo đường rải đá đi khoảng 1,5km đến công trường khai thác đá Nguồn lộ nằm cách công trường 70m cạnh sông
j = 16o47’18"; l = 106o51’38"
Dạng xuất lộ Nước lộ ra thành một dải dài khoảng 100 m ven bờ sông Cam Lộ
đôi chỗ lộ dưới lòng sông theo những khe nứt của một mạch thạch anh Lưu lượng không thể đo được Nước có nhiều bọt khí
Lịch sử Nguồn nước được J.H.Hoffet mô tả và đưa lên bản đồ địa chất Đông
Dương tỷ lệ 1:500.000 (tờ Huế) năm 1933 Năm 1957 H.Fontaine đã đến khảo sát [23] Năm 1981 Đoàn 500 N đã khảo sát và đưa lên bản đồ ĐCTV Việt Nam tỉ lệ 1:500.000
Mẫu 2 (3/12/77) PTN Dầu khí
Tính chất vật lý Trong, mùi H2S Trong, mùi H2S
Trang 4Kiểu hoá học Nước bicarbonat natri, khoáng hoá thấp
Xếp loại NK silic - fluor - sulfur hyđro, nóng vừa
Tình trạng sử dụng Năm 1991 Xí nghiệp NK Tân Lâm được thành lập đã khoan
một giếng sâu 8 m, đường kính 127 mm Nước tự chảy với lưu lượng 3 l/s Năm
1992 bắt đầu sản xuất thủ công sản lượng 3000 chai/ngày Năm 1993 lắp đặt dây chuyền mới công suất 1 vạn chai/ngày
133 Nguồn Làng Eo (Thường Trung)
Vị trí Xã Đa Krong, huyện Đa Krong Từ thị xã Đông Hà theo quốc lộ 9 đi về
hướng tây khoảng 30 km Đến đây quốc lộ ngoặt về hướng nam - đông nam đến
Trang 5gần sông Quảng Trị thì quay sang hướng tây - tây nam đi dọc theo bờ bắc của
sông chừng 3 km thì đến xã Đa Krong Tại xã này có 3 nguồn lộ nằm dọc ven
đường và sông Đầu tiên sẽ bắt gặp nguồn Làng Eo Nguồn nước nằm phía trái đường, bên bờ bắc sông Quảng Trị
j = 16o39’57"; l = 106o50’00"
Dạng xuất lộ Nước chảy ra từ những khe nứt trong đá phiến, bột kết với lưu
lượng khoản 0,32 l/s
Lịch sử Nguồn nước được Đoàn 500 N đăng ký trong quá trình lập bản đồ ĐCTV
Việt Nam tỉ lệ 1:500.000 năm 1981 dưới tên gọi Thường Trung Năm 1997 Đề tài nghiên cứu địa nhiệt của Viện Địa chất và khoáng sản cũng đến khảo sát và đặt tên
Mẫu 2 (1997) Viện Hoá học TT KHTN CNQG
Tính chất vật lý trong, mùi H2S, vị nhạt trong, mùi H2S, vị nhạt
Trang 8Kiểu hoá học Nước clorur - sulfat natri, khoáng hoá rất thấp
Xếp loại NK silic - fluor, nóng vừa
134 Nguồn Làng Rượu (Hướng Hoá)
Vị trí Làng Rượu, xã Đa Krong, huyện Đa Krong Từ nguồn Làng Eo trở lại quốc
lộ 9 đi tiếp về tây - tây nam khoảng 3 km đến làng Rượu Nguồn nước nằm cách đường 50 m về bên trái, trên bờ sông Quảng Trị, cách mép nước 2 m
j = 16o39’40"; l = 106o50’15"
Dạng xuất lộ Nước chảy ra từ các khe nứt trong đá granođiorit thành một nhóm
mạch lộ trên một diện tích khoảng 10m2 với tổng lưu lượng 3-4 l/s Tại nơi xuất lộ
có nhiều kết tủa màu trắng sữa dạng sợi
Lịch sử Trong công trình của C Madrolle công bố năm 1923 [26] có nêu một
nguồn nước nóng duy nhất trong vùng Hướng Hoá dưới tên gọi "nguồn Hướng Hoá" Về sau F Blondel và J.H Hoffet cũng nhắc đến nguồn này, và xếp nó vào loại nước khoáng sulfur khoáng hoá thấp (cặn khô: 587 mg/l), nóng (nhiệt độ:
71oC) Năm 1957 H Fontaine đã đến khảo sát lấy mẫu gửi phân tích tại Viện
Trang 9Pasteur Sài Gòn [14] Ông cũng gọi nguồn này là nguồn Hướng Hoá Không có tư liệu nào cho thấy nó trùng vào nguồn nào trong số 3 nguồn được phát hiện về sau
ở vùng Đa Krong, nhưng căn cứ vào nội dung mô tả đường đi, nhiệt độ và thành phần hoá học của nước nêu trong công trình của H Fontaine chúng tôi cho rằng đây chính là nguồn Làng Rượu (dấu hiệu đặc trưng là nhiệt độ cao nhất = 70-78oCtrong số 3 nguồn ở vùng Đa Krong) Năm 1977 Liên đoŕn BĐĐC đã đến khảo sát trong quá trình lập bản đồ địa chất Việt Nam tỉ lệ 1:500.000 và đặt tên là nguồn Làng Rượu Năm 1981 Đoŕn 500N cũng đã đưa nguồn này lên bản đồ ĐCTV Việt Nam 1:500.000, nhưng vẫn giữ tên cũ là nguồn Hướng Hoá Về sau nguồn nước cũng được nhiều đơn vị địa chất tiếp tục nghiên cứu
Mẫu 2 (29/8/94) Đại học Tổng hợp Huế
Trang 11Cation mg/l mge/l mg/l mge/l
Kiểu hoá học Nước sulfat - bicarbonat natri, khoáng hoá thấp
Xếp loại NK silic - fluor, rất nóng
Tình trạng sử dụng Công ty liên doanh nước khoáng Việt - Mỹ Quảng Trị chuẩn
bị khai thác đóng chai (1998) với công suất thiết kế 10 triệu lít / năm
Trang 12
135 Nguồn Đa Krong (Ra Lân)
Vị trí Xã Đa Krong, huyện Đa Krong Từ nguồn Làng Rượu trở lại quốc lộ 9 đi
tiếp về hướng tây - tây nam khoảng 2km gặp suối Khe Rin (đổ vào sông Quảng Trị) thì rẽ theo bờ trái của suối đi ngược dòng chừng 300m sẽ đến
j = 16o39’34"; l = 106o49’22"
Dạng xuất lộ Nước chảy ra từ các khe nứt trong đá phiến thạch anh chứa vôi bị
biến chất mạnh thành 4 mạch chính với tổng lưu lượng 2,13 l/s Tại nơi xuất lộ có kết tủa màu trắng
Lịch sử Nguồn nước được Đoàn 500 khảo sát trong quá trình lập bản đồ địa chất
Việt Nam tỉ lệ 1:500.000 và đưa lên bản đồ dưới tên gọi "Nguồn Ra Lân" Năm
1981 Đoàn 500 N đã đưa lên bản đồ ĐCTV Việt Nam tỉ lệ 1:300.000 [51] Năm
1997 Đề tài ngiên cứu địa nhiệt của Viện địa chất và khoáng sản đã đến khảo sát
và đặt tên là "nguồn Đa Krong"
Mẫu 2 (1997) Đại học Tổng hợp Huế
Tính chất vật
lý
trong, mùi H2S, vị nhạt trong, mùi H2S, vị nhạt
Trang 14Cation mg/l mge/l mg/l mge/l
Trang 15Xếp loại NK silic, nóng vừa
THỪA THIÊN - HUẾ
136 Nguồn Thanh Tân (Phong Sơn)
Vị trí Thôn Thanh Tân, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền Từ Huế theo quốc lộ 1
đi về phía bắc khoảng 15 km, qua cầu An Lỗ, rẽ trái theo một con đường đất đi về phía tây khoảng 16km Nguồn nước nằm bên trái đường trên một quả đồi cao
khoảng 12 m
j = 16o29’01"; l = 107o23’03"
Dạng xuất lộ Nhóm mạch chảy ra từ đới cà nát của đứt gãy trong đá vôi, sét vôi
Tổng lưu lượng khoảng 8-9 l/s Tại các điểm lộ có tích tụ travertin
Lịch sử Nguồn nước lần đầu tiên được nêu trong công trình của Sallet năm 1928
[43] Năm 1957 H.Fontaine đã lấy mẫu phân tích [14] Năm 1983 đoàn chuyên gia của Cục Địa chất Tiệp Khắc đã đến khảo sát [19] Nhiều đơn vị địa chất, y tế cũng
đã đến nghiên cứu năm 1992 Đoàn 708 đã khoan 3 lỗ khoan tìm kiếm gặp NK trào lên mặt đất, lưu lượng 3-4,5 l/s
Trang 19Tình trạng sử dụng Năm 1986 Liên hiệp xí nghiệp dược Thừa Thiên - Huế đã
khai thông mạch lộ lấy nước đóng chai làm hàng giải khát quy mô nhỏ (70.000 - 170.000 lít/năm) Đến năm 1992 đã xây dựng cơ sở đóng chai lớn hơn, sản lượng
từ 700.000 lít/năm (1992) đến 1 triệu lít/năm (1995) Nhãn hiệu NK Thanh Tân Một số đơn vị khác cũng lấy nước từ nguồn này để đóng chai với các nhãn hiệu Thiên Bình, Hương Giang
137 Nguồn Thanh Phước (Lỗ khoan 309)
Vị trí Thanh Phước, huyện Phong Điền
j = 16o31’10"; l = 107o36’50"
Dạng xuất lộ Phát hiện trong lỗ khoan 309 sâu 145,4m NK xuất hiện ở độ sâu
41m Mực nước dâng cao trên mặt đất + 0,56m, lưu lượng 3,5 l/s nước tàng trữ trong tầng cát, cuội sỏi
Lịch sử Được Đoàn 67 Liên đoàn ĐCTV miền Nam phát hiện vào năm 1980
trong khi khoan tìm kiếm nước dưới đất
Trang 21Cation mg/l mge/l mg/l mge/l
Kiểu hoá học Nước clorur - bicarbonat natri, khoáng hoá vừa
Xếp loại Nước khoáng hoá, nóng vừa
138 Nguồn Mỹ An (Lỗ khoan 314)
Vị trí Thôn Mỹ An, xã Phú Dương, huyện Phú Vang Từ Huế theo đường ô tô đi
về hướng cửa biển Thuận An 7 km thì đến thôn Mỹ An, lỗ khoan nằm cách đường chừng 50 m về bên phải, giữa một cánh đồng bằng phẳng là bồi tích của sông Hương
Trang 22j = 16o31’25"; l = 107o36’40"
Dạng xuất lộ NK tàng trữ trong lỗ khoan sâu 120 m trong tầng cát cuội sỏi có
xen ít sét Mực nước dâng cao trên mặt đất 1,4 m Lưu lượng tự chảy 6-7 l/s Nước chứa nhiều bọt khí Tại nơi xuất lộ có lớp kết tủa màu trắng
Lịch sử Được Đoàn 68 phát hiện năm 1979 trong khi khoan tìm kiếm nước dưới
đất Về sau nhiều đơn vị địa chất, y tế đã đến tiếp tục nghiên cứu Năm 1994 để viết luận án PTS, Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Huế) đã nghiên cứu chi tiết chất lượng NK và sử dụng NK Mỹ An vào việc chữa bệnh [35]
Trang 25xạ
a = 0,38 Bq/l
Ra226 = 0,33 Bq/l
H2S = 15,9
Kiểu hoá học Nước clorur - bicarbonat natri, khoáng hoá vừa
Xếp loại NK sulfur hyđro - fluor, nóng vừa
Tình trạng sử dụng Kết quả thử nghiệm lâm sàng của Đại học Y Huế cho thấy
NK Mỹ An có tác dụng chữa các bệnh ghẻ lở, táo bón, huyết áp cao Hiện nay NK
Mỹ An được sử dụng vào việc tắm chữa bệnh
139 Nguồn Dương Hoà (Hương Bình)
Vị trí Xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ Từ Huế theo quốc lộ 1 đi về phía nam
7 km đến trụ sở UBND xã Thuỷ Phương, rẽ phải theo đường đất đi về phía tây nam 5 km, đến ngã ba Lũ thì rẽ trái đi về phía nam đến thôn Dương Hoà Từ đó đi thuyền ngược dòng Tả Trạch khoảng 8 km Nguồn nước nằm bên phải bờ sông
Từ Huế cũng có thể đi thuyền ngược dòng sông Hương về phía nam đến ngã ba sông Tả Trạch và Hữu Trạch, đi thẳng theo nhánh Tả Trạch khoảng 20 km thì đến
j = 16o14’50"; l = 107o38’08"
Trang 26Dạng xuất lộ Nguồn nước lộ thành từng nhóm mạch ở bờ phải sông Tả Trạch
trên một bãi bồi, gần điểm lộ đá granit Lưu lượng tổng cộng 5-6 l/s
Lịch sử Nguồn nước đã được ghi chép trong "Đại Nam nhất thống chí" dưới tên
gọi Dương Hoà [10] Năm 1837 Vua Minh Mệnh đã trực tiếp đến xem xét và cho xây dựng tại đây một nhà nghỉ phục vụ quan lại triều đěnh Vua Thiệu Trị đã có một bài thơ về nguồn nước này Năm 1923 C Madrolle đã đến khảo sát [26] Năm
1933 J.H.Hoffet đưa lên bản đồ địa chất 1:500.000 tờ Huế Năm 1981 Đoàn 500 N
đã lấy mẫu phân tích và đưa lên bản đồ ĐCTVB Việt Nam tỉ lệ 1:500.000
Tính chất lý - hoá Mẫu đo Đoàn 500 N lấy ngày 21/3/1981 được phân tích tại
Trang 27140 Nguồn A Roàng (Tà Lài)
Vị trí Xã A Roàng, huyện A Lưới
j = 16o18’39"; l = 107o22’29"
Dạng xuất lộ Nguồn nước lộ ra trong một thung lũng hẹp Trong thung lũng chỉ
gặp lớp phong hoá vỡ vụn màu nâu đen Lưu lượng 0,3 l/s
Lịch sử Do Đoàn 206 phát hiện năm 1980 trong quá trình lập bản đồ địa chất tỷ
lệ 1:200.000
Tính chất lý - hoá Mẫu nước lấy ngày 2/6/80 được phân tích tại Liên đoàn
BĐĐC cho kết quả như sau:
Tính chất vật lý Màu: trong
Nhiệt độ: 500C
Mùi: H2S Vị: nhạt pH: 8,2
Trang 28Kiểu hoá học Nước bicarbonat natri
Xếp loại Nước nóng vừa
Thông tin cập nhật
? Thừa Thiên - Huế Đề tài nghiên cứu địa nhiệt Bắc Trung Bộ của Viện Địa chất
và khoáng sản mới đăng ký thêm một nguồn nước nóng mới là nguồn Pa Ring, thuộc xã Hồng Hạ, huyện A Lưới Nước có nhiệt độ 36,9o, kiểu nước bicarbonat - sulfat natri - magnesi, khoáng hoá thấp