1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Việt Nam môi trường và cuộc sống - Phần 4 docx

22 244 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 436,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ba trường hợp điển hình về hiện trạng tài nguyên và môi trường nước của một số lưu vực sông ở nước ta hiện nay Tài nguyên nước được hình thành, luân chuyển, diễn biến về lượng và chất,

Trang 1

Ba trường hợp điển hình về hiện trạng tài nguyên và môi trường nước của một số lưu vực sông ở

nước ta hiện nay

Tài nguyên nước được hình thành, luân chuyển, diễn biến về lượng và chất, phát huy tác dụng đối với môi trường thiên nhiên, đời sống và mọi hoạt động phát triển của con người trên những khu vực địa lý nhất định là những lưu vực sông Để bạn đọc có khái niệm cụ thể hơn về tình hình tài nguyên nước của nước ta, cùng với những đặc điểm chung về tài nguyên nước đã nêu ở mục trước, mục thứ ba này trình bày tình trạng tài nguyên nước trên ba lưu vực sông cụ thể: lưu vực các sông Nhuệ - Đáy, trong đó có Thủ đô Hà Nội và một số khu công nghiệp ở phía Bắc; lưu vực các sông Đồng Nai - Sài Gòn, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh và một

số khu công nghiệp ở phía Nam; và lưu vực sông Cầu với một số tỉnh và thành phố ở vùng trung du phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng Đoạn trình bày về lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy dựa theo báo cáo "Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy" do Thứ trưởng Phạm Khôi Nguyên trình bày tại Hội nghị về chủ đề trên, họp ngày 7-8-2003, công bố trên tạp chí Bảo vệ Môi trường, số tháng 8-2003; đoạn về lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn theo bài viết của PGS, TS Lê Trình; đoạn về lưu vực sông Cầu theo bài viết của GS, TS Ngô Đình Tuấn

Trang 2

Tài nguyên và môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy

Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy thuộc các tỉnh và thành phố: Hòa Bình, Hà Nội,

Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, có diện tích khoảng 8.000km2, dân số trên 9 triệu người, trong đó có khoảng 3,5 triệu sống ven sông Đây là vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên, môi trường phong phú đa dạng, có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đồng bằng sông Hồng trong đó có Thủ đô Hà Nội Song, nơi đây cũng đang gặp phải những vấn đề môi trường bức xúc do thiên nhiên và con người gây ra như lũ lụt, úng ngập, thoái hóa đất, ô nhiễm môi trường do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa Sông Nhuệ

- sông Đáy có nhiều phụ lưu khá lớn chảy qua các thành phố, thị xã, thị trấn, thị

tứ, tụ điểm dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, dịch vụ, làng nghề, là nguồn cấp nước ngọt quan trọng cho sản xuất và dân sinh

Sông Nhuệ có tổng chiều dài là 74km, bề rộng trung bình từ 30 - 40m, diện tích lưu vực 1.070km2 Các sông nhánh lớn chảy qua trục chính sông Nhuệ gồm có: sông Đăm, sông Đồng Bồng, sông Cầu Ngà, sông Tô Lịch, máng Hòa Bình, sông Lương Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc để tưới cho hệ thống thủy nông Đan Hoài Sông Nhuệ còn tiêu nước cho thành phố Hà Nội, thị xã

Hà Đông và chảy vào sông Đáy tại thị xã Phủ Lý Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ 11-17 m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30 m3/s

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Địa lý về chất lượng sông Nhuệ, đoạn chảy qua

Hà Nội cho thấy rằng nước ở đoạn đầu sông chảy qua thị xã Hà Đông, trước khi tiếp nhận nguồn nước thải của hai con sông Kim Ngưu và Tô Lịch (2km đầu tiên),

đã có hàm lượng BOD, NH4 vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng nước loại B, hàm lượng DO vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng nước loại A

Trang 3

Tại đập Thanh Liệt, khi sông Nhuệ tiếp nhận thêm một khối lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp của phần lớn nội thành Hà Nội từ sông Tô Lịch và Kim Ngưu

đổ vào, nước đã bị ô nhiễm đến mức nghiêm trọng: hàm lượng BOD, As, NH4,

NO2, tổng coliform, đều vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng nước loại B đến hàng chục lần Đoạn sông bắt đầu từ đập Thanh Liệt đến km7, hàm lượng các chất gây ô nhiễm môi trường nước ở đây giảm dần, tuy nhiên các chỉ tiêu như BOD, NH4, NO2 vẫn còn cao hơn mức tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng nước loại B Nói chung trên đoạn sông này, chất lượng nước sông Nhuệ vẫn bị ô nhiễm ở mức cao

Đoạn cuối cùng của sông Nhuệ chất lượng nước sông biến đổi do quá trình tự làm sạch của dòng sông, khối lượng chất thải ít đi nên chất lượng nước sông cũng dần được cải thiện Tuy nhiên, chất lượng nước sông vẫn chưa đạt tiêu chuẩn do hàm lượng nitrit, BOD vẫn cao trên mức tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng nước loại A Như vậy chất lượng nước sông khi chảy ra khỏi tỉnh Hà Tây vẫn không đạt tiêu chuẩn cho phép trong phục vụ sinh hoạt, mới chỉ đạt ở mức tiêu chuẩn cho phép đối với nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Sông Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, bắt đầu từ cửa Hát Môn chảy theo hướng đông bắc - tây nam và đổ ra biển tại cửa Đáy Đến năm 1937, sau khi xây dựng xong đập Đáy, nước sông Hồng không thường xuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy (trừ những năm phân lũ) vì vậy phần đầu nguồn sông, từ km 0 đến Ba Thá dài 71km, sông Đáy trên thực tế chỉ như đoạn sông chết Hiện tượng bồi lắng và nhân dân lấn đất canh tác đã gây cản trở thoát lũ mùa mưa Lượng nước được cung cấp cho sông Đáy chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào, sông Nhuệ

Nguồn nước tự nhiên của sông Đáy kết hợp với chế độ điều hòa của hệ thống công trình thủy lợi đã phục vụ đắc lực việc cấp nước sinh hoạt, cấp nước đô thị như:

Trang 4

Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình và sự phát triển của các ngành giao thông thủy, thủy sản, du lịch và đặc biệt là nông nghiệp

Sông Đáy là trục tiêu thoát chính trong mùa lũ và hoàn toàn mang đặc thù của một dòng sông ở đồng bằng Sông Đáy có chiều dài khoảng 247km, lòng và bãi sông thay đổi mạnh về chiều rộng

Chất lượng nước sông Đáy thay đổi thất thường, phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nước các kênh, mương, sông nhánh dồn vào trên suốt chiều dài của sông

Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra ô nhiễm nguồn nước sông Đáy và từ đó dẫn đến làm giảm chất lượng môi trường sống trên toàn lưu vực Nguyên nhân chủ yếu là do dòng chính sông Đáy phải tiếp nhận rất nhiều nguồn nước thải, từ nước thải sản xuất đến nước thải sinh hoạt trên phạm vi rộng Lượng nước thải nhiều nơi có nồng độ ô nhiễm cao Những điểm ô nhiễm nặng mang tính cục bộ là rất phổ biến, nếu không có biện pháp giảm thiểu thì nguy cơ lan rộng là không thể tránh khỏi Nếu xét cả về không gian và thời gian thì mức độ ô nhiễm của từng đoạn sông, nhánh sông hay từng khu vực rất khác nhau, phụ thuộc vào chế độ thủy văn, lượng nước sinh hoạt, công nghiệp, chế độ tưới tiêu trong nông nghiệp

Hiện tại nguồn nước dòng chảy chính vào sông Đáy do mưa trên lưu vực và một

số sông như sông Nhuệ Chất lượng nước sông Nhuệ từng lúc, phụ thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc, từng nơi vượt giới hạn cho phép đối với chất lượng nước loại B, không đáp ứng được nhu cầu cung cấp cho sản xuất Nếu không có biện pháp ngăn ngừa khắc phục, xử lý ô nhiễm kịp thời thì tương lai không xa nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy không thể sử dụng cho sản xuất được

Thực tế cho thấy có rất nhiều vấn đề cần được giải quyết trong bảo vệ tài nguyên

và môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy Các vấn đề cấp bách nhất là:

 Môi trường nước lưu vực bị ô nhiễm do sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp ngày càng gia tăng

Trang 5

 Nguồn nước thải do hoạt động nông nghiệp chứa đựng các hóa chất trừ sâu, diệt cỏ, bảo quản hoa quả, kích thích sinh trưởng cũng đang gia tăng

 Nguồn thải sinh hoạt của trên 3 triệu người dân sống trên lưu vực, tốc độ tăng dân số vẫn còn lớn, và hàng chục bệnh viện không có cơ sở xử

lý chất thải riêng

 Hình thái đặc biệt của lưu vực: lòng sông dốc ở thượng lưu, trũng thấp ở trung lưu, cửa sông bị thủy triều khống chế Trong trường hợp mưa lớn hơn 200mm, sông Nhuệ không đủ khả năng tiêu úng, gây ngập úng cục

bộ Khi lũ sông Hồng lớn phải phân lũ vào sông Đáy và sẽ có nguy cơ gây ngập lụt và ô nhiễm môi trường trên diện rộng Lòng sông Đáy đang bị thu hẹp, gây cạn kiệt cục bộ vào mùa khô, tắc nghẽn dòng chảy, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tự làm sạch của dòng sông

 Về thể chế, chính sách, phương pháp quản lý lưu vực chưa có sự thống nhất và phân công trách nhiệm rõ ràng, chưa có sự quản lý thống nhất và đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường lưu vực và các địa phương trên lưu vực, dẫn tới hiệu lực và hiệu quả thấp trong việc quản lý, bảo vệ môi trường lưu vực

 Rủi ro môi trường do lũ lụt và úng ngập là nguy cơ lớn đối với lưu vực Lòng sông bị bồi lấp, thượng nguồn bị xói lở gây cạn kiệt nước về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa, nhiều ô trũng bị ngập lụt, một số khu vực quan trọng về dân sinh và kinh tế trở thành hồ chứa chậm lũ khi cần xả lũ sông Hồng

 Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường lưu vực sông chưa được quan tâm, các thông tin cần thiết còn thiếu, chưa được cập nhật, hệ thống

Trang 6

quan trắc môi trường nước chưa đáp ứng được các yêu cầu của công tác quản lý môi trường lưu vực

 Ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường nước của nhân dân trong lưu vực còn thấp dẫn đến tình trạng xả rác thải, nước thải xuống sông, khai thác lòng sông bừa bãi

 Quản lý một lưu vực như lưu vực sông Đáy - sông Nhuệ là việc không đơn giản do sự khác biệt giữa các khu vực, các tỉnh, các thành phố trong lưu vực về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, về hệ thống quản lý của các cơ quan nhà nước, cũng như về nhận thức môi trường của nhân dân từng địa phương

Trước mắt, để bảo vệ tài nguyên và môi trường nước tại một lưu vực quan trọng như lưu vực sông Đáy - sông Nhuệ cần thực hiện ngay các biện pháp sau:

 Các nhà máy, xí nghiệp, dịch vụ, làng nghề trên địa bàn cần nghiêm túc thực hiện các luật và quy định về bảo vệ môi trường; thực hiện các biện pháp cưỡng chế (kể cả đóng cửa) các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà không có khả năng giảm thiểu và di dời

 Thực hiện nghiêm, có kết quả và đúng tiến độ "Kế hoạch xử lý triệt

để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 64/2003/QĐTTg ngày 22-4-2003, đặc biệt

ưu tiên việc xử lý ngay các cơ sở nằm trên lưu vực sông

 Các tỉnh, thành phố cần chủ động tăng cường kiểm soát các nguồn thải; quan trắc chất lượng nước thường xuyên, liên tục trên toàn hệ thống sông, đặc biệt là những nguồn thải lớn, những điểm gần vị trí giáp ranh

Trang 7

giữa các địa phương nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời những sự cố có thể xảy ra

 Huy động mọi nguồn lực để giải quyết vấn đề ô nhiễm nước lưu vực sông vào mùa cạn kiệt: nạo vét, khơi thông dòng chảy, bơm cấp nước bổ sung từ sông Hồng vào sông Nhuệ đảm bảo duy trì đủ lưu lượng nước phục

vụ nông nghiệp và sinh hoạt cũng như hòa loãng tự nhiên các chất gây ô nhiễm

 Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hai bên bờ sông không xả rác thải, nước thải chưa được xử lý xuống sông

 Tăng cường năng lực quản lý môi trường của các địa phương trong lưu vực và xây dựng tổ chức quản lý môi trường lưu vực, xây dựng và thực hiện ngay Đề án tổng thể về bảo vệ môi trường lưu vực nói chung và tài nguyên và môi trường nước nói riêng

Hiện nay để hạn chế, giảm thiểu ô nhiễm nước và khắc phục tình trạng thiếu nước trong lưu vực, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã lập Dự án tăng nguồn nước cho sông Đáy tại ba khu vực: 1) Tiếp nguồn nước cho sông Tích qua công trình Bến Mắm tại thị xã Sơn Tây với lưu lượng khoảng 40 m3/s; 2) Tiếp nguồn nước cho dòng chính sông Đáy qua công trình cụm đầu mối Hát Môn - Đập Đáy cho phép khơi thông lại dòng sông Đáy với lưu lượng khoảng 50 m3/s; 3) Tiếp nguồn nước cho sông Châu qua cống Tắc Giang với lưu lượng khoảng 40 m3/s Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang khởi đầu Dự án mang tên "Làm sống lại dòng sông Đáy"

Tài nguyên và môi trường nước lưu vực sông Cầu

Trang 8

Sông Cầu là con sông chính của hệ thống sông Thái Bình Bắt nguồn từ núi Van

Ôn, sông Cầu chảy qua chợ Đồn (Bắc Kạn), chợ Mới (Thái Nguyên) rồi tới Phả Lại Lưu vực gồm 5 tỉnh và thành phố: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh Chiều dài sông là 288km, diện tích lưu vực 6.030km2 Sông Cầu

có 27 nhánh cấp I, trong đó đáng chú ý là 4 sông nhánh có diện tích lưu vực lớn hơn 350km2 (sông Chu, sông Nghinh Tường, sông Đu và sông Công) Trong đó lưu vực sông Công rộng gần 1.000km2

Lượng mưa năm, trung bình nhiều năm trên toàn lưu vực sông Cầu là 1.770mm, lớn nhất tại Tam Đảo đạt 2.490mm/năm, ít nhất tại Bắc Ninh 1.480mm/ năm

Lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm do mưa sản sinh ra trên một số lưu

vực thuộc hệ thống sông Cầu dẫn ra (Bảng II.6)

Bảng II.6 Lượng dòng chảy năm trên sông Cầu

Nguồn: Ngô Đình Tuấn, 2003

Trang 9

Với số dân trên toàn lưu vực tính đến năm 2000 là khoảng 2 triệu người thì mỗi người dân có một lượng nước bằng 2.391m3/người.năm So với bình quân toàn quốc thì lượng nước trên đầu người của lưu vực sông Cầu vào loại thấp nhất Lượng nước mưa rơi sinh dòng chảy trên lưu vực sông Cầu là 782.753m3/km2, so với lượng bình quân toàn quốc là 942.410m3/km2 chỉ là 83%

Mùa lũ trên sông Cầu kéo dài 5 tháng từ tháng 6 đến tháng 10, với lượng nước chiếm 75 - 78% lượng nước cả năm Tháng 8 có lượng nước lớn nhất, chiếm 22% lượng nước cả năm Chênh lệch lớn nhất giữa lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất và lưu lượng kiệt bé nhất đạt tới 1.000 - 9.500 lần, do đó rất cần có hồ chứa nước để điều tiết

Theo phương pháp thống kê trung bình trượt thì lượng nước năm có xu thế giảm, trung bình khoảng 0,13 m3/s.năm Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất hàng năm có xu thế tăng trung bình 8,00 m3/s.năm Dòng chảy nhỏ nhất trong năm có xu thế tăng, trung bình đạt 0,14 m3/s.năm Độ tăng này khá lớn do có nhiều hồ chứa vừa và nhỏ được xây dựng ở thượng nguồn

Trong những năm của thập kỷ 50 của thế kỷ trước, hình ảnh của sông Cầu còn là

"Sông Cầu nước chảy lơ thơ" Hình ảnh này đã qua đi nhanh chóng, hiện nay trên lưu vực sông Cầu có khoảng 2 triệu người định cư với mật độ 332 người/km2, gấp 1,365 lần mật độ trung bình toàn quốc Có hơn 100 cơ sở công nghiệp, đáng kể là các cơ sở ở Thái Nguyên, sông Công, Xuân Hòa, Đông Anh, Bắc Ninh, Bắc Kạn Ngoài ra còn có ba thị xã tập trung dân cư đông đúc là Vĩnh Yên, Phúc Yên và Bắc Giang Trên sông có ba hệ thống thủy lợi: Thác Huống, Liễn Sơn, Bắc Ninh;

có một hồ chứa nước loại trung là hồ Núi Cốc, hàng chục hồ nhỏ khác cùng hàng trăm trạm bơm điện

Nhu cầu dùng nước trong lưu vực khá lớn, tổng cộng khoảng 700 triệu m3/năm: 1) tưới 400 triệu m3/năm (đã trừ đi lượng nước hồi quy 15%); 2) công nghiệp 150

Trang 10

triệu m3/năm (đã trừ đi lượng nước hồi qui 80%) bao gồm cả lượng nước tham gia làm mát thiết bị Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại; 3) sinh hoạt, dịch vụ, du lịch 150 triệu m3/năm

So với tổng lượng nước có được tại Trạm Thủy văn Cầu Gia Bảy, lượng nước dùng này chỉ chiếm 14,8% Song do phân phối không đều, lượng nước trong 7 tháng mùa cạn trung bình nhiều năm chỉ có 1,18 tỷ m3, với tần suất bảo đảm 75% thì chỉ còn 880 triệu m3, thường tập trung vào 2 tháng đầu mùa cạn và đầu mùa lũ (tháng 5 và tháng 11) Vì vậy, các tháng kiệt nhất trong năm (tháng 1 đến tháng 3) thường bị thiếu khoảng 40 - 50 triệu m3 Tương lai sự thiếu hụt này còn lớn hơn nếu không có hồ bổ sung thêm nguồn nước

Về chất lượng nước, số liệu điều tra cho thấy có thể phân biệt tình trạng ô nhiễm nước theo 5 đoạn sông sau:

 Từ nguồn đến ngã ba sông Đu: nước sông còn sạch do chảy qua vùng dân cư thưa thớt và công nghiệp chưa phát triển;

 Từ ngã ba sông Đu đến ngã ba sông Công - sông Cầu: nước sông bị

ô nhiễm nặng do các nguồn thải rắn từ các mỏ (mỏ than vào khoảng 1,5 triệu tấn/năm, mỏ sắt 2,5 triệu tấn/năm, mỏ thiếc 800.000 tấn/năm cùng với hàng triệu m3 nước thải từ rửa quặng sắt, thiếc, từ nhà máy luyện cốc, luyện than, nhà máy giấy), rác thải sinh hoạt từ các khu phố, bệnh viện, chợ, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp; đặc biệt từ những điểm khai thác khoáng sản tư nhân tổ chức bừa bãi, thiếu quy hoạch, thiếu quản lý

 Từ ngã ba sông Công đến ngã ba sông Cà Lồ: đoạn này chủ yếu là nước thải nông nghiệp với lượng thuốc bảo vệ thực vật lớn được sử dụng khó kiểm soát vượt quá tiêu chuẩn cho phép

Trang 11

 Từ ngã ba sông Cà Lồ đến Ngũ Huyện Khê: đoạn sông chảy qua vùng làng nghề Bắc Ninh Nước sông bị ô nhiễm nặng do hoạt động sản xuất của các làng nghề và phát triển nông nghiệp Đặc biệt là hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng coliform đều vượt nhiều so với tiêu chuẩn cho phép

 Từ Ngũ Huyện Khê đến Phả Lại: khả năng tự làm sạch sông lớn hơn

do ảnh hưởng thủy triều, không có thêm nguồn gây ô nhiễm, song do các đoạn sông ở thượng nguồn ô nhiễm nặng nên nước sông vẫn còn ô nhiễm, không nên dùng cấp nước trực tiếp cho sinh hoạt

Hiện nay, ngoài ô nhiễm do chất thải, nước sông Cầu có lưu lượng hàm cát ngày càng tăng rõ rệt (tăng trung bình 279 g/s, năm) Trong tương lai, nếu không được quản lý kiểm soát chặt chẽ thì sự ô nhiễm càng lớn và sự lan truyền càng mạnh vì dân số ngày càng đông, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng nhanh

Ngày đăng: 27/07/2014, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng II.6. Lượng dòng chảy năm trên sông Cầu - Việt Nam môi trường và cuộc sống - Phần 4 docx
ng II.6. Lượng dòng chảy năm trên sông Cầu (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm