1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Việt Nam môi trường và cuộc sống - Phần 24 pptx

23 317 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 513,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau thời gian ngừng trệ, ì ạch, bế tắc, trong vòng 10 năm trở lại đây, từ các nguồn ngân sách hỗ trợ của Nhà nước, kết hợp với cơ chế thoáng mở cửa của nền kinh tế thị trường và sự năng

Trang 1

Chính sách đổi mới kinh tế đã đem lại luồng sinh khí mới cho các ngành nghề thủ công truyền thống Việt Nam Sau thời gian ngừng trệ, ì ạch, bế tắc, trong vòng 10 năm trở lại đây, từ các nguồn ngân sách hỗ trợ của Nhà nước, kết hợp với cơ chế thoáng mở cửa của nền kinh tế thị trường và sự năng động cũng như tâm huyết với nghề của những người dân, các làng nghề thủ công không ngừng thay da đổi thịt

và đã tạo nên một diện mạo mới cho nông thôn Việt Nam Theo số liệu gần đây nhất, hiện cả nước có 1450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh và thành phố trong cả nước, riêng địa bàn Đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng Các tỉnh có số lượng làng nghề đông bao gồm: Hà Tây có 280 làng, Thái Bình có 187 làng, Bắc Ninh có 59 làng, Hải Dương có 65 làng, Nam Định có 90 làng, Thanh Hoá có 127 làng Theo ước tính, trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn Việt nam đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8%/năm, tính theo giá trị đầu ra Các ngành nghề chủ yếu được phát triển ở làng nghề như sau:

Bảng VI.4 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam

Trang 2

Nguồn: Đề tài KC 08-09

Làng nghề là giải pháp phát triển kinh tế nông thôn rất có hiệu quả Lao động nghề tại các làng đã giải quyết được vấn đề lao động dư thừa và lao động trong thời gian nông nhàn Có 27% số hộ nông dân sản xuất nông nghiệp kiêm các ngành nghề và 13% số hộ chuyên về ngành nghề Theo thống kê, lao động làng nghề đã thu hút tới 10 triệu lao động thường xuyên Bên cạnh đó, thu nhập từ hoạt động nghề là nguồn thu nhập đáng kể với các hộ nông dân, ở nhiều làng nghề, hoạt động nghề không còn là nghề phụ, mà đã trở thành nghề chính với cả gia đình hay một số lao động chính trong gia đình Các làng nghề tái chế ở miền Bắc đã phát triển thành các cụm công nghiệp ở nông thôn Tại đây hoạt động nông nghiệp chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong thu nhập của người dân trong làng Một số lớn các làng nghề khác có hoạt động nghề là nghề phụ và chỉ có sự tham gia của một số thành viên trong làng Làng nghề đúc đồng Phước Kiều (Quảng Nam) là một ví dụ Đây là một làng nghề kết hợp cả hoạt động nông nghiệp và hoạt động nghề Có 40 trong tổng số 80

hộ dân của làng làm nghề đúc đồng Trong mỗi hộ dân, thường có 1-2 thợ chính làm nghề Các lò đúc của làng thường nổi lửa từ sáng sớm, phụ nữ và thiếu niên trong nhà chính là các thợ phụ giúp các phần việc xung quanh lò đúc Tới 7 - 8 giờ sáng, các "thợ phụ" tiếp tục công việc chính của mình như làm đồng hay tới

trường học, trong khi "thợ chính" bắt đầu công việc tinh xảo từ những sản phẩm đúc thô Các "thợ phụ", sau khi tạm ngơi công việc đồng áng, lại tiếp tục công

Trang 3

việc, chọn lọc nguyên liệu, lựa xỉ phế liệu để giã nhỏ và nấu lại Do sản xuất ở quy

mô gia đình nên hoạt động thường khá năng động trong việc thay đổi mặt hàng cho phù hợp với thị trường

Ai đã một lần đến Vân Chàng thì không thể quên được ấn tượng về môi trường nơi đây Ngay từ đầu làng những tiếng động ầm ầm đập vào tai, mùi nồng nồng, khó thở bao phủ không khí trong làng Sông Vân Chàng, nơi đón nhận tất cả nguồn nước thải của "nền công nghiệp làng" có màu đen kịt, mùi hôi rất khó chịu và độ lưu thông của dòng nước rất thấp Rãnh nước dẫn nước thải từ các hộ dân làm nghề nhôm, rèn sắt đặc sệt màu vàng sánh Một hộ làm nghề cô nhôm tại đây cho biết "Bụi bám thành lớp dày trên mái nhà, khi trời mưa sẽ hoà tan lượng hoá chất

Trang 4

độc hại bám trên mái, nếu xối vào chân tay sẽ bị phồng rộp rất rát" Nước thải tự

do ra hồ, ao ngấm vào lòng đất, cả không khí, đất, nước đều bị ô nhiễm nặng nề

Cả 14 bể mạ làng Vân Chàng hàng ngày thải ra sông 40-50m3 nước thải chưa được xử lý có chứa nhiều loại axít mạnh và đặc biệt có hàm lượng chất độc xianua vượt 65-117 lần so với tiêu chuẩn cho phép Nhiều bệnh nguy hiểm được phát hiện tại Vân Chàng, hơn 90% dân số mắc các bệnh ngoài da, viêm ngứa, đau mắt hột, nhiều người chết vì bệnh ung thư Rất nhiều chị em phụ nữ đẻ non hoặc con chết yểu, đặc biệt là các ca đẻ quái thai có chiều hướng tăng lên trong các năm gần đây Tuổi thọ trung bình của người dân Vân Chàng là 55, thấp hơn nhiều so với tuổi thọ trung bình cả nước

Hiện tại hàng ngày, hàng giờ người dân Vân Chàng vẫn phải bám lấy "nghề" mà sống Nguy hiểm là vậy, nhưng nếu bỏ nghề họ sẽ sống ra sao? Các biện pháp giải quyết vẫn còn đang được bàn định và biết đến bao giờ, người dân Vân Chàng mới thoát khỏi ô nhiễm do chính họ gây ra?

Nguồn: Thế giới thương mại, số 77, ngày 28-6-2003

Trang 5

Điều kiện môi trường lao động của nguời dân làng nghề: đất chật hẹp, sống

và sản xuất cùng một địa điểm, điều kiện lao động rất hạn chế

Các làng nghề thường có mật độ dân cư đông đúc, vì vậy thiếu mặt bằng sản xuất, các xưởng sản xuất thường xen kẽ với khu dân cư Theo lẽ thường, các làng nghề càng phát triển mạnh thì càng thu hút nhiều lao động Trước hết là lao động tại chỗ, con em các gia đình không phải ly hương tìm đường kiếm sống, thứ đến là làng nghề phát triển mạnh sẽ thu hút thêm lao động ở các vùng lân cận, làm cho mật độ dân cư của làng nghề đã lớn lại càng lớn hơn Tình trạng phổ biến của các

hộ, cơ sở sản xuất nghề ở nông thôn là sử dụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất Khi quy mô sản xuất tăng lên hoặc sử dụng thiết bị, hoá chất đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, nhất là ở các làng nghề tái chế phế liệu và chế biến thực phẩm

Điều kiện công nghệ, kỹ thuật ở làng nghề: thủ công, lạc hậu,

Bên cạnh một số ít nghệ nhân và những tay thợ có tay nghề cao, thì có đến 55% lao động tại các làng nghề chưa qua đào tạo, khoảng 36% không có chuyên môn

kỹ thuật Đối với các hộ kiêm (vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề), có tới 79% lao động không có chuyên môn kỹ thuật

Hạ tầng kỹ thuật của làng nghề ở nông thôn rất thấp, chỉ khoảng 20% các cơ sở có nhà xưởng kiên cố, 86%

có sử dụng điện, 37% công việc được cơ khí hoá còn lại tới trên 60% làm bằng tay Hầu hết các hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc có cải tiến một phần Trừ một số

cơ sở mới xây dựng có công nghệ tiên tiến, đa số còn lại nhất là ở khu vực hộ gia

Trang 6

đình, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ cơ khí còn rất thấp, thiết bị phần lớn là đơn giản không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường

197 làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, chiếm 13,58% trong tổng số 1.450 làng nghề trong cả nước Các làng nghề này chủ yếu tập trung ở miền Bắc (134 làng), 42 làng ở miền Trung và miền Nam có 21

làng

Sự phát triển ở các làng nghề chế biến nông sản

thực phẩm diễn ra một cách tự phát, sản xuất mở

rộng tuỳ tiện, không có quy hoạch, trình độ công

nghệ còn thấp Thêm vào đó là tâm lý và thói

quen sản xuất trên quy mô nhỏ, khép kín, nên đã

hạn chế trong đầu tư trang thiết bị và đổi mới

công nghệ, dẫn đến hiệu quả sản xuất không

cao, tiêu tốn nhiều nguyên nhiên liệu, đồng thời thải ra môi trường một lượng lớn chất thải, đặc biệt là nước thải giàu chất hữu cơ

Trang 7

Đối với môi trường không khí, nguồn gây ô nhiễm đặc trưng nhất của làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là mùi hôi thối của nguyên vật liệu tồn đọng lâu ngày và do

sự phân huỷ của các hợp chất hữu cơ có trong chất thải rắn và nước thải từ các cống rãnh, kênh mương Quá trình phân giải yếm khí các chất hữu cơ sinh ra các khí độc rất ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân làng nghề Đặc biệt phải kể đến các làng nghề sản xuất nước mắm, do phơi chượp ngoài trời nên mùi hôi, tanh khắp cả làng rất khó chịu Một nguồn gây ô nhiễm không khí nữa ở làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là bụi nguyên liệu phát tán trong không khí Ví dụ như bụi trà tại các làng nghề chế biến trà hương rất mịn và rất dễ xâm nhập vào cơ thể người gây ảnh hưởng đến đường hô hấp Ngoài ra, cũng như phần lớn các làng nghề, nhiên liệu chủ yếu phục vụ sản xuất là than, củi Với nhu cầu nhiên liệu rất lớn, bụi, khí thải sinh ra do đốt nhiên liệu than củi là nguồn gây ô nhiễm chính tới môi trường

không khí

Chế biến nông sản thực phẩm là loại hình sản xuất có nhu cầu lớn về sử dụng nước và đồng thời cũng thải ra một lượng nước không nhỏ Nước thải của các làng nghề này có đặc tính chung là rất giàu chất hữu cơ, dễ phân huỷ sinh học Ví dụ như nước thải của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn có hàm lượng ô nhiễm rất cao (COD = 13.300 - 20.000mg/l; BOD5 = 5.500 - 125.000 mg/l) Đặc trưng nước thải của một số làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cho thấy chất lượng môi

trường nước tại các làng nghề là rất đáng lo ngại (Bảng VI.5) Cho đến nay, phần

lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng ra ngoài không qua bất kỳ khâu xử

lý nào Nước thải này tồn đọng ở cống rãnh thường bị phân huỷ yếm khí gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm môi trường đất và suy giảm chất lượng nước ngầm Chất lượng nước ngầm tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm phần lớn đều có dấu hiệu bị ô nhiễm với hàm lượng COD, TS, NH4+

Trang 8

trong nước giếng cao Nước giếng của làng Tân Độ và Ninh Vân còn nhiễm vi

khuẩn coliform, đặc biệt nước giếng của làng nghề sản xuất nước mắm Hải Thanh (Thanh Hoá) đã bị ô nhiễm nghiêm trọng (COD = 186 mg/l) Không chỉ ở Hải

Thanh, mà tại tất cả các làng nghề sản xuất nước mắm được khảo sát trong khuôn khổ Đề tài KC08-09 đều có tình trạng tương tự, dân làng ở những nơi này phải mua nước ngọt từ nơi khác để sử dụng

Mặt khác, phần lớn các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm đều tận thu phế liệu để chăn nuôi Nước thải từ nguồn này cũng gây ô nhiễm môi trường không khí và nước đáng kể

Bảng VI.5 Đặc trưng nước thải một số làng nghề chế biến nông sản thực

phẩm đặc trưng

Nguồn: Báo cáo của Đề tài KC 08-09

* Kết quả khảo sát thực hiện trong thời gian từ ngày 8-12-2002 Mẫu nước thải lấy tại cống chung của làng hay ao làng để đánh giá chất lượng môi trường nước của làng

Trang 9

Kết quả điều tra y tế tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cho thấy rõ những ảnh hưởng từ sản xuất nghề tới sức khoẻ người dân Các bệnh phổ biến mà người dân làng nghề mắc phải là bệnh phụ khoa ở phụ nữ (13 - 38%), bệnh về đường tiêu hoá (8 - 30%), bệnh viêm da (4,5 - 23%), bệnh đường hô hấp (6 - 18%), đau mắt (9 - 15%) Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do môi trường sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh, nguồn nước sạch khan hiếm Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp

ở làng nghề Dương Liễu - Hà Tây, làng bún bánh Vũ Hội - Thái Bình là 70%, làng bún Phú Đô, làng rượu Tân Độ là 50%, làng bún bánh Yên Ninh, nước mắm Hải Thanh là 10%

Làng nghề vật liệu xây dựng và gốm sứ:

Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và gốm sứ đã tồn tại từ hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất Mặc dù số làng nghề không nhiều nhưng sản phẩm của các làng nghề này đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng ngày càng tăng ở nước ta, đặc biệt là ở vùng nông thôn

Theo thống kê, tổng số làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng là 31 làng, phân bố tương đối đều trên cả nước Số lượng làng nghề tăng giảm phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của thị trường Hoạt động của các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng đã thu hút số lượng lớn người lao động tham gia và giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm lao động tại mỗi làng Các loại hình sản xuất chủ yếu bao gồm khai thác

đá, nung vôi, đóng gạch ngói và sản xuất gốm sứ Quy mô và loại hình sản xuất rất tuỳ thuộc vào nhu cầu thị trường tại địa phương và các vùng lân cận xung quanh làng nghề

Các tác động chủ yếu đến môi trường từ hoạt động của các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng là ô nhiễm không khí do bụi và khói lò nung Quy trình nung vôi,

Trang 10

gạch ở các làng nghề chủ yếu theo phương pháp thủ công sử dụng nhiên liệu là than Khí thải từ các lò nung đốt than chứa bụi, các khí ô nhiễm Đặc biệt các lò nung thường không được thiết kế đúng quy cách, nên quá trình cháy không hết, tạo ra các sản phẩm cháy nhiên liệu thiếu ôxy như CO, SO2, Bụi phát sinh từ khâu khai thác, gia công đất nguyên liệu, vận chuyển vào lò, ra lò và bốc dỡ sản phẩm Đề tài KC 08-09 đã tiến hành khảo sát tại một số làng nghề điển hình và đã cho thấy hàng năm các làng nghề thải ra môi trường một số lượng lớn các chất gây

ô nhiễm không khí (Bảng VI.6)

Trang 11

Đối với các làng nghề khai thác đá, ô nhiễm chủ yếu là bụi từ khu vực khai thác và tiếng ồn do nổ mìn và hoạt động của các máy khoan, đục, máy nghiền, xay đá, Việc khai thác 1m3 đá nguyên khai qua chế biến sẽ sinh ra 0,1 - 0,5kg bụi giàu silíc Các kết quả khảo sát cho thấy, nồng độ bụi ở các khu vực khai thác, chế biến

đá thường xuyên vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 5 lần (Tràng Thạch, Đà Nẵng) và tiếng ồn thường xuyên ở mức cao từ 80 - 95dBA

Lượng khí thải độc hại từ các lò gạch thủ công còn làm ảnh hưởng đến mùa màng

và hoa màu của nông dân tại làng nghề và cả các vùng lân cận Ngoài ra việc khai thác đất bừa bãi không theo quy hoạch gây thoái hoá đất, phá huỷ thảm thực vật, tăng nguy cơ xói mòn và giảm độ phì của đất, hậu quả là cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng mùa màng

Người dân làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng trực tiếp sống trong môi trường có nồng độ bụi, khí độc cao, công việc nặng nhọc nên tỷ lệ mắc các bệnh đường hô hấp, da, bệnh về mắt và các rối loạn thần kinh rất cao Làng nghề Đồng Tân,

Thanh Hoá và làng nghề Kiện Khê, Hà Nam có tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp do sản xuất nghề lên đến 50% Ngoài ra, các vấn đề về an toàn lao động cũng chưa được quan tâm thoả đáng ở các làng nghề này, dẫn tới nhiều tai nạn lao động như bỏng hơi, bỏng nhiệt, bị mảnh vỡ đá, đất văng gây thương vong,

Làng nghề tái chế chất thải: giấy, nhựa, kim loại,

Đây là nhóm làng nghề tận dụng phế liệu làm nguyên liệu cho sản xuất, nhờ đó giảm chi phí đầu tư và giảm lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường Mặt khác, trong khi chưa có các cơ sở lớn tái chế chất thải, thì các làng nghề tái chế chất thải phát triển đã tạo ra một mạng lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu và chất thải Do

đó, loại hình làng nghề này rất được khuyến khích phát triển Các làng nghề tái chế được chia thành 3 loại cơ bản: tái chế giấy, tái chế kim loại và tái chế nhựa

Trang 12

(Bảng VI.7), tập trung chủ yếu ở miền Bắc với số lượng vượt trội của các làng

nghề tái chế kim loại

Bảng VI.7 Phân bố các làng nghề tái chế trong cả nước

Nguồn: Đề tài KC 08-09 về môi trường - làng nghề

Số lượng làng nghề tái chế không lớn, nhưng tỷ lệ cơ giới hoá cao hơn các nghề khác rất nhiều, chiếm từ 50 - 70% Một số tổ hợp ở các làng nghề có quy mô sản xuất lớn và thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương như làng nghề tái chế nhựa Minh Khai, Hưng Yên thu hút hơn 4.000 lao động, làng nghề tái chế giấy Dương Ổ, Bắc Ninh sản xuất hàng năm 12.000 tấn giấy, thu hút 5.000 lao động, hay làng tái chế sắt, nhôm Vân Chàng, Nam Định thu hút 3.000 lao động với sức sản xuất khoảng 90 tấn phế liệu/ngày Sản phẩm của làng nghề tái chế rất đa dạng

và phong phú Do đặc thù là các làng nghề mới và sản xuất theo quy mô hộ gia đình nên tính năng động và sáng tạo trong việc nắm bắt thị trường và đa dạng hoá thị trường và sản phẩm rất rõ nét ở các làng nghề này Thu nhập và đời sống của dân làng nghề khá cao

Tuy nhiên, các làng nghề trù phú này đang đứng trước một thực trạng rất đáng lo ngại về môi trường Do sản xuất với tư tưởng tư hữu, chạy theo lợi nhuận đơn

Ngày đăng: 27/07/2014, 08:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng VI.5. Đặc trưng nước thải một số làng nghề chế biến nông sản thực - Việt Nam môi trường và cuộc sống - Phần 24 pptx
ng VI.5. Đặc trưng nước thải một số làng nghề chế biến nông sản thực (Trang 8)
Bảng VI.6. Ước tính tải lượng ô nhiễm của một số làng nghề sản xuất gạch và  nung vôi - Việt Nam môi trường và cuộc sống - Phần 24 pptx
ng VI.6. Ước tính tải lượng ô nhiễm của một số làng nghề sản xuất gạch và nung vôi (Trang 10)
Bảng VI.7. Phân bố các làng nghề tái chế trong cả nước - Việt Nam môi trường và cuộc sống - Phần 24 pptx
ng VI.7. Phân bố các làng nghề tái chế trong cả nước (Trang 12)
Bảng VI.9. Đặc trưng nước thải của một số làng nghề dệt nhuộm điển hình - Việt Nam môi trường và cuộc sống - Phần 24 pptx
ng VI.9. Đặc trưng nước thải của một số làng nghề dệt nhuộm điển hình (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm