Sử dụng kích thích tố nữ sau khi tắt kinh trên năm năm: Những cuộc nghiên cứu mới nhất cho thấy phụ nữ dùng các loại thuốc như Prempro, Provera hay Premarin sau khi tắt kinh có thể làm
Trang 1Ung Thư Vú
1 Ung Thư Vú là gì?
2 Các Yếu Tố Gia Tăng Nguy Cơ Mắc Bệnh Ung Thư Vú
3 Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Vú
4 Chẩn Bệnh Ung Thư Vú
5 Các Thời Kỳ (Giai Đoạn) của Ung Thư Vú
6 Trị Bệnh Ung Thư Vú
7 Kết luận
8 Truy Tầm Ung Thư Vú Miễn Phí
Bác sĩ Nguyễn Bích Liên đã dựa vào tài liệu của Hội Ung Thư Hoa Kỳ, và kinh nghiệm chuyên khoa về ung thư của mình để viết ra bài viết này Phần lớn những tin tức trong bài viết này đã được xuất bản vào năm 2003 bởi Hội Ung Thư Việt
Mỹ dưới dạng sách tựa đề “Tài Liệu Hướng Dẫn Sức Khỏe Về Vú” và trong trang nhà của Hội tại địa chỉ http://www.ungthu.org
Bài viết dưới đây đã được bác sĩ Nguyễn Bích Liên cập nhật hóa vào tháng Năm năm 2006
I Ung Thư Vú là gì?
Trang 2Ung thư vú là các tế bào bất thường gọi là tế bào ung thư phát triển từ những tế bào ống (duct) hay những tế bào nang (lobule) của vú Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư sẽ phát triển nhanh chóng trong vú, đi vào các mạch máu hay mạch bạch huyết, chạy tới các hạch, và có thể lây lan đến các bộ phận khác, gây ra đau đớn, tắc nghẽn cho cơ thể và cuối cùng mang đến sự chết Ung thư vú đứng hàng đầu trong những loại ung thư phụ nữ Việt thường mắc phải
Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày một số yếu tố đưa đến sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú Tuy nhiên, đa số phụ nữ mắc bệnh ung thư vú không có những yếu tố gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú Chúng ta cần nhớ là tất cả phụ nữ đều có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú Điều quan trọng là phát hiện sớm bệnh ung thư vú khi bệnh này còn có thể được chữa lành hoàn toàn
II Các Yếu Tố Gia Tăng Nguy Cơ Mắc Bệnh Ung Thư Vú:
Tuổi tác: Càng lớn tuổi thì nguy cơ ung thư vú càng cao Phần lớn phụ nữ da
trắng mắc bệnh ung thư vú ở tuổi 50 đến 60 Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ gốc Việt tại Hoa Kỳ mắc bệnh ung thư vú ở số tuổi trung bình là 40 đến 50, tức là trẻ hơn 10 năm so với phụ nữ da trắng Lý do của sự khác biệt này chưa làm sáng tỏ và sẽ là đề tài cho những cuộc nghiên cứu sau này về ảnh hưởng
di truyền cũng như môi sinh trên nguy cơ mắc bệnh ung thư của các sắc dân khác nhau
Tiểu sử bệnh lý gia đình: Những phụ nữ có mẹ, chị, em, hay con gái đã mắc bệnh
ung thư vú thì nguy cơ mắc bệnh cao hơn Càng có nhiều thân nhân mắc bệnh ung thư vú thì nguy cơ càng gia tăng
hết kinh sau tuổi 55
Trang 3 có kinh trước tuổi 12
sinh con đầu lòng sau tuổi 30 hay chưa có con
Dinh dưỡng và rượu: Ăn thức ăn nhiều mỡ, cũng như rượu có thể làm gia tăng
cơ hội mắc bệnh ung thư vú National Cancer Institute (Viện Ung Thư Hoa Kỳ) khuyến khích phụ nữ nên dùng thức ăn ít mỡ, tập thể dục đều đặn, và chỉ nên dùng rượu có chừng mực
Sử dụng kích thích tố nữ sau khi tắt kinh trên năm năm: Những cuộc nghiên
cứu mới nhất cho thấy phụ nữ dùng các loại thuốc như Prempro, Provera hay Premarin sau khi tắt kinh có thể làm gia tăng cơ hội mắc bệnh ung thư vú Ngoài
ra, những loại thuốc này còn có thể gia tăng cơ hội bị tai biến mạch máu não và nghẹt động mạch vành tim gây ra chứng máu nhồi cơ tim Những loại thuốc này thường được dùng để giúp các bệnh nhân sau khi tắt kinh đỡ bị cáu kỉnh, buồn chán, nóng bừng, khi nóng khi lạnh, và đổ mồ hôi vào ban đêm Nếu phụ nữ nào
bị những chứng này thì có thể sử dụng những loại thuốc vừa nêu trên trong một thời kỳ ngắn, rồi từ từ ngưng lại khi cơ thể đã quen với sự tắt kinh Nếu chỉ dùng thuốc trong thời gian ngắn, thì ta có thể giảm thiểu những triệu chứng trong những ngày tháng đầu của tắt kinh, mà cũng tránh gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú
Yếu tố di truyền ( BRCA - tức là chữ tắt của BReast CAncer gene): Phần lớn phụ
nữ mắc bệnh ung thư vú không có yếu tố di truyền, và bệnh sử gia đình cũng không có ai mắc bất cứ loại ung thư nào cả Tuy nhiên, có khoảng 15% phụ nữ
mắc bệnh ung thư vú mang những yếu tố di truyền về ung thư gọi là BRCA 1 hay BRCA 2 Những phụ nữ này có những vấn đề đặc biệt riêng trong việc truy tầm,
phòng ngừa, cũng như chữa trị ung thư vú, không nằm trong phạm vi của bài viết này Nếu quý vị cần biết rõ hơn về yếu tố di truyền BRCA 1 hay BRCA 2 thì quý
vị có thể vào website sau đây của phòng thí nghiệm Myriad:
Trang 4http://www.myriadtests.com/brac.htm để đọc bài viết bằng tiếng Anh Nói chung, phần lớn phụ nữ có yếu tố di truyền này có nhiều người trong gia đình mắc bệnh ung thư vú và ung thư buồng trứng
III Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Vú:
Đây có thể được coi là một việc làm quan trọng nhất cho tất cả phụ nữ đã bước vào tuổi trưởng thành
BA VIỆC LÀM ĐỂ SỚM PHÁT HIỆN UNG THƯ VÚ
THỨ NHẤT: Tự khám vú bắt đầu ở tuổi 20 Mỗi tháng, ngay sau khi hết chu kỳ kinh nguyệt, tất cả phụ nữ nên tự khám vú của mình
Mỗi tháng một lần
Mỗi tháng một lần
Dùng chỗ mềm của đầu các ngón tay trỏ, giữa và
áp út để xoa nắn vú Nên cho ba ngón tay này
"bước theo nhau" trên mô vú theo từng hàng thẳng
từ trên xuống dưới Cố gắng khám tất cả các phần của vú, đừng sót phần nào
Nhớ khám dưới nách
Trang 5Xem xét và tìm những bất thường như:
Lồi lõm, cục u
Da dầy cộm hay có vẩy, nhất là đầu và núm vú
Nước hay máu chảy ra từ đầu vú
Những thay đổi khác thường khác
Hội Ung Thư Việt Mỹ có DVD chỉ dẫn rõ ràng cách tự khám vú do người mẫu, và nói tiếng Việt Quý vị có thể liên lạc với Hội để xin DVD miễn phí
THỨ NHÌ: Khám vú do chuyên viên y tế (CBE hay Clinical Breast Examination): Quý bà nên yêu cầu bác sĩ hay y tá đã được huấn luyện khám vú cho mình mỗi năm một lần Nếu khi tự khám vú thấy có gì lạ, quý vị nên yêu cầu bác sĩ khám lại
THỨ BA: Chụp quang tuyến vú (Mammogram):
Nếu trên 40 tuổi, quý bà nên chụp mammogram mỗi năm một lần, dù không có sự bất bình thường gì khi khám vú Phụ nữ có mẹ hay chị em ruột mắc bệnh ung thư
vú, hay có yếu tố di truyền như BRCA gene có thể cần truy tầm ung thư vú trước tuổi 40
Những phụ nữ có BRCA gene có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và ung thư buồng trứng rất cao, và có thể phải được truy tầm ung thư vú ở tuổi trẻ hơn, và có thể phải sử dụng cách chụp bằng từ trường tức MRI (Magnetic Resonance Imaging)
để việc khám phá ung thư vú được hiệu quả hơn Những người này còn có thể nghĩ đến chuyện cắt bỏ cả hai vú và buồng trứng để ngừa hai loại ung thư này hữu hiệu hơn Họ cần phải suy nghĩ và thảo luận rất kỹ lưỡng với bác sĩ điều trị hay chuyên viên về di truyền rất kỹ lưỡng trước khi có những quyết định này
Trang 6Nếu những phương pháp truy tầm này khám phá ra những thay đổi bất thường của
vú, tùy theo trường hợp, các bác sĩ sẽ cho bệnh nhân thực hiện các thử nghiệm khác như siêu âm (ultrsound), MRI, hay sinh thiết (biopsy), v.v… để định bệnh
Những việc làm nêu trên là lời khuyên cho tất cả phụ nữ thuộc các chủng tộc khác nhau Như đã trình bày trên, phụ nữ Việt có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú ở tuổi trẻ hơn Tuy nhiên, cho tới nay, chưa có nghiên cứu nào xem xét vấn đề tuổi nào thích hợp nhất để bắt đầu chụp quang tuyến vú mammogram cho phụ nữ gốc Việt Chụp mammogram ở tuổi trước 40 có lẽ cũng không được hiệu quả lắm, vì phần lớn phụ nữ ở tuổi này có tế bào vú rất nhiều nang chứa nhiều nước, và khi chụp quang tuyến, sẽ che lấp những tế bào ung thư nếu có Do đó, những phụ nữ trẻ tuổi cần theo dõi vú bằng phương pháp tự khám vú cũng như nhờ bác sĩ khám
vú cẩn thận hơn
IV Chẩn Bệnh Ung Thư Vú:
Xem xét các bất thường ở vú có phải là ung thư hay không
Nếu việc tự khám vú, khám vú theo tiêu chuẩn y tế hoặc chụp mammogram đã cho thấy bất cứ triệu chứng bất thường nào, một hay nhiều phương cách sau đây có thể được dùng để chẩn bệnh:
Aspiration: (Lấy nước hay tế bào để thử nghiệm bằng cách dùng kim nhỏ):
Kim nhỏ (fine needle aspiration) được dùng để rút nước hay các tế bào
riêng rẽ ra Nếu chỗ bất thường có dạng u nang tức là bứu nước (cyst), thường chỉ cần dùng kim và ống chích lấy chất lỏng trong nang ra mà
không cần cắt (như làm sinh thiết hay trích mô - biopsy) Tuy nhiên, nếu bác sĩ nghi ngờ là có ung thư nhưng khi thử nghiệm bằng kim nhỏ không có
Trang 7kết quả, thường phải sử dụng đến một trong những phương pháp sinh thiết dưới đây
Biopsy (sinh thiết hay trích mô): Mẫu tế bào hay mô được lấy ra từ nơi có
sự bất bình thường Trích mô có thể thực hiện được bằng giải phẫu cắt toàn phần (excisional biopsy) hay một phần (incisional biopsy); hay bằng cách đâm kim vào chỗ bất thường để lấy tế bào ra Loại trích mô dùng kim lớn (core needle biopsy) sẽ lấy ra một mẫu mô tế bào còn nằm trong cấu trúc của mô Những mẫu tế bào này sẽ được thử nghiệm bằng kính hiển vi để tìm xem có ung thư hay có những tế bào bất thường không Cách giải phẫu cắt toàn phần (excisional biopsy) hay một phần (incisional biopsy) và cách dùng kim lớn (core needle biopsy) chính xác hơn là dùng kim nhỏ trong việc chẩn bệnh vì lấy được nhiều tế bào hơn, và các tế bào này còn được nằm trong cấu trúc mô chứ không phải là các tế bào riêng rẽ được hút ra từ kim nhỏ
Stereotactic Biopsy (trích mô với sự hướng dẫn của quang tuyến): Với
phương pháp này, các bác sĩ có thể làm trích mô sử dụng kim lớn để lấy mô mẫu thử nghiệm dưới sự hướng dẫn của hình chụp Chỗ bất thường sẽ được đánh dấu trên hình chụp, và một kim lớn sẽ được đâm vào chính chỗ này để lây tế bào ra
Ultrasound (siêu âm): Những luồng sóng âm thanh được chiếu vào vú và
sự vang động của sóng âm thanh sẽ được phân tích: Phương pháp này phân biệt được bướu đặc và bướu nước Nhiều khi phương pháp này còn có thể tiên đoán được bướu có phải ung thư hay không Siêu âm cũng dược dùng
để hướng dẫn sinh thiết trong nhiều trường hợp Bác sĩ sẽ định chỗ bướu bằng siêu âm, sau đó kim được đâm vào bướu và bác sĩ có thể nhìn thấy cùng lúc mình đâm kim vào đâu, để việc lấy tế bào được chính xác hơn
Trang 8 MRI (Magnetic Resonance Imaging): Sử dụng những chấn động từ tính để
chụp hình ba chiều các bộ phận trong cơ thể: MRI có thể được sử dụng để chụp hình vú nếu cần trong những trường hợp đặc biệt, khi mammogram hay siêu âm không có kết quả, MRI cũng có thể được dùng để truy tầm xem bệnh đã lây lan tới các cơ phận khác hay chưa
quang tuyến X với sự hỗ trợ của máy điện toán để chụp hình: Cách này cũng có thể chụp hình cơ thể ba chiều được Cách này không được dùng để truy tầm bệnh ở vú, nhưng rất hữu dụng trong việc truy tầm xem bệnh đã lây lan tới các cơ phận khác hay chưa Ngoài ra, nó cũng được dùng rất nhiều để hướng dẫn làm sinh thiết các bướu tìm thấy ở các cơ phận trong cơ thể như phổi, gan, hạch, v.v
từ hạt nhân positron hay hạt nhân dương tính để chụp hình: Một lượng đường có gắn chất phóng xạ rất nhỏ sẽ được chích vào cơ thể Những tế bào
cơ thể sẽ dùng chất đường này để hoạt động Vì tế bào ung thư mọc nhanh hơn tế bào bình thường, chúng sẽ sử dụng nhiều chất đường này hơn, và sẽ hấp thụ nhiều phóng xạ hơn Do đó khi hình chụp ra, những chỗ có ung thư
sẽ nổi bật ra Cách này chỉ cho thấy một cách tổng quát vị trí của ung thư, chứ không cho thấy được cấu trúc hay vị trí rõ ràng của ung thư Do đó, rất nhiều trường hợp, ta phải chụp cả PET và CT scan rồi lồng hình vào nhau
để kết quả được chính xác hơn Phương pháp này thường được dùng để truy tầm chỗ ung thư đã lây lan hơn là để chẩn bệnh
V Các Thời Kỳ (Giai Đoạn) của Ung Thư Vú:
Trang 9 Thời kỳ 0: khi ung thư còn bị giới hạn trong ống dẫn sữa (ductal in situ)
mà chưa ăn vào nhũng mô vú hay mô nâng bỡ bên ngoài ống dẫn sữa Cơ hội có thể chữa lành của thời kỳ này từ 90% đến 100% bằng giải phẫu toàn phần vú, hay một phần vú cộng với xạ trị (radiation) Có nhiều trường hợp, bác sĩ còn cho bệnh nhân dùng thêm thuốc loại kích thích tố như tamoxifen
Thời kỳ I: khi ung thư còn nhỏ hơn 2 cm và chưa lan vào hạch nách Cơ
hội sống còn sau mười năm là khoảng 80% đến 90% Cách chữa cũng tương tự như thời kỳ 0, nhưng một số bệnh nhân có thể được khuyên nên sử dụng thêm hóa chất trị liệu (chemotherapy) Ngoài ra, các phụ nữ đã tắt kinh còn có thể được dùng một loại thuốc gọi là Aromatase Inhibitor như Arimidex, Letrozole, hay Aromasin thay vì tamoxifen Đây cũng là thuốc loại kích thích tố
Thời kỳ II: khi ung thư từ 2 cm đến 5 cm và chưa lan vào hạch nách, hay
nhỏ hơn hơn 5 cm và đã lan vào một số hạch nách Cơ hội sống còn sau mười năm tùy thuộc vào kích thước của ung thư và bao nhiêu hạch bị lây lan Cách chữa cũng tương tự như thời kỳ I, nhưng phần lớn bệnh nhân được khuyên nên sử dụng thêm hóa chất trị liệu (chemotherapy), nhất là những ung thư lớn hay đã vào hạch nách
Thời kỳ III: khi ung thư lớn hơn 5cm hay đã lan vào nhiều hạch nách
nhưng chưa lây lan đi xa Cơ hội sống còn sau mười năm tùy thuộc vào kích thước của ung thư và bao nhiêu hạch bị lây lan Đây là thời kỳ khá trễ
và có cơ hội mắc bệnh ung thư vú trở lại hay lây lan qua các bộ phận khác rất cao Cách chữa thường bắt đầu bằng hóa chất trị liệu (chemotherapy), sau đó là giải phẫu và xạ trị
Thời kỳ IV: ung thư đã lây lan ra tới các bộ phận như gan, phổi, xương,
não, v.v Ở thời kỳ này, trừ những trường hợp rất đặc biệt, bệnh nhân có
Trang 10nguy cơ mất mạng vì bệnh trong vòng năm năm rất cao Cách chữa
thường là với hóa chất hay thuốc loại kích thích tố
Như ta thấy trên đây, ung thư vú được khám phá càng sớm bao nhiêu thì cơ hội sống còn càng cao bấy nhiêu Do đó, tất cả phụ nữ nên quan tâm đến vấn đề truy tầm ung thư vú và theo lời khuyên truy tầm ung thư vú như trên
VI Trị Bệnh Ung Thư Vú
Hiện nay y khoa đã có rất nhiều tiến bộ trong việc xác định sớm và trị liệu ung thư
vú thành công Khi tìm thấy khối u trong vú, người phụ nữ có cơ hội lựa chọn về cách trị bệnh cho thích hợp với tình trạng của mình Các bác sĩ đang tiếp tục học hỏi về những sự thuận lợi và những điều bất lợi của những cách trị liệu khác nhau
Vì bệnh ung thư vú có thể bày tỏ một cách khác nhau cho từng người bệnh, cho nên cách trị liệu hay nhất cho mỗi người cũng khác nhau Cùng một cách trị liệu không thể dùng cho tất cả bệnh nhân
Để hiểu nhiều hơn về cách trị liệu thích hợp hãy liên lạc với Cancer Information Service qua số điện thoại 1-800-422-6237 hay truy cập vào trang web
www.cancernet.nci.nih.gov Hội Ung Thư Việt Mỹ cũng có thể giúp quý vị tìm hiểu thêm về các cách chữa trị hoặc cung cấp các tài liệu liên quan về bệnh này bằng tiếng Việt Xin liên lạc với Hội Ung Thư Việt Mỹ qua số (714) 751-8505 hoặc ghé thăm trang web của Hội qua địa chỉ www.UngThu.org
Dưới đây là sơ lược về những cách chữa trị chính cho bệnh ung thư vú
A CÁC LOẠI GIẢI PHẪU:
Lumpectomy: cách giải phẫu này chỉ lấy cục u ở vú ra với một vòng mô
bình thường chung quanh Thường thì sau đó bệnh nhân cần được trị
Trang 11radiation therapy (xạ trị) để giảm bớt cơ nguy bệnh trở lại, tùy trường hợp, bệnh nhân cũng có thể cùng lúc cần cắt bỏ rồi thử nghiệm hạch (bạch
huyết) dưới nách để xem xét coi ung thư có lan vào hạch hay chưa
Partial Mastectomy hay Segmental Mastectomy: cách giải phẫu này chỉ
cắt bỏ khối u cùng với màng mô bình thường chung quanh nó, có khi kể cả một ít da, mô lót của bắp thịt ngực ngay dưới khối u Cách này cũng tương
tự như lumpectomy nhưng có thể phải lấy ra nhiều mô hơn Nhiều bác sĩ giải phẫu cũng lấy ra một phần hoặc là hết cả hạch dưới nách để kiểm lại vì nguy cơ ung thư có thể lan vào những hạch này
Total Mastectomy hay Simple Mastectomy: Loại giải phẫu này cắt bỏ
toàn thể vú Thường thì các hạch ở dưới nách không bị cắt bỏ Tuy nhiên, nếu có một số nhỏ ở gần sát vú, những hạch này có thể bị lấy ra khi cắt bỏ
vú Thường thì loại giải phẫu này được dùng trị ung thư vú tại vị, tức là ung thư vú chưa có tính xâm lấn
Modified Radical Mastectomy: Cách giải phẫu này cắt bỏ toàn thể vú, các
hạch dưới nách và phần mô lót quanh bắp thịt ngực
Lymph Node Dissection (giải phẫu hạch bạch huyết): là cắt bỏ các hạch
bạch huyết ở dưới nách: Số hạch bạch huyết lấy ra ở mỗi phụ nữ khác nhau Những hạch bạch huyết ở dưới nách thường bị phủ bởi lớp mỡ khiến bác sĩ giải phẫu khó thấy có bao nhiêu hạch bạch huyết cắt bỏ khi giải phẫu Càng lấy nhiều hạch dưới nách ra, nguy cơ bị sưng cánh tay càng cao Bởi vì sự lưu thông của các mạch bạch huyết đi từ bàn tay, cánh tay, qua nách vào đến mạch máu trong lồng ngực để được bài tiết qua thận, bị cắt đứt
Sentinel Node Biopsy (cắt bỏ hạch giữ cửa): Rất nhiều bác sĩ giải phẫu
hiện nay dùng kỹ thuật này để tránh cho bệnh nhân tình trạng bị sưng tay như trên Trong phương pháp này, bác sĩ giải phẫu phải định xem hạch giữ