Mạch và thần kinh Động mạch: niệu đạo được cấp máu bởi nhiều nhánh nhỏ và tuỳ theo từng đoạnnhìn tổng quát có các nhánh động mạch của bàng quang dưới, động mạch, độngmạch trực tràng
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bí đái cơ năng là biến chứng thường gặp: Sau đẻ, sau phẫu thuật sản phụ khoa,sau phẫu thuật hậu môn trực tràng, sau phẫu thuật ổ bụng, sau phẫu thuật cột sốngvv cũng có thể bệnh tự phát Bệnh diễn biến cấp tính với các triệu chứng: Đau tứcvùng hạ vị, mót đi tiểu song rặn nước tiểu không ra, cầu bàng quang (+) làm bệnhnhân đau đớn, phiền hà, ảnh hưởng đến sức khoẻ cũng như kết quả điều trị cácbệnh kèm theo
Bí đái kéo dài là một trong những yếu tố gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu 4,5%[23] do tạo điều kiện cho vi khuẩn lưu lại, làm tổn thương niêm mạc đường niệu,nhất là tổn thương chảy máu làm cho vi khuẩn phát triển [14]
Tại Việt Nam từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về bí tiểu cấptính sau đẻ, phẫu thuật, song chưa có một tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu nguyênnhân, cơ chế bệnh sinh của bí đái và chưa giải thích một cách thoả đáng, vì vậyviệc điều trị còn gặp nhiều khó khăn
YHHĐ có nhiều phương pháp điều trị nh: Tiêm canxi clorua, nước muối sinh lý,urotropin, clohydrrat pilocacbin, hoặc atropin sunfat, chườm nóng hạ vị hoặc ngồidậy, đi bộ sớm nếu không có kết quả thì đặt sông bàng quang Đặt sông bàng quang
dễ gây nhiễm khuẩn đường niệu ngược dòng nếu không đảm bảo vô khuẩn tuyệtđối, nếu nhiễm nặng sẽ gây nhiều tác hại cho bệnh nhân, có khi dẫn tới tử vong[14], [23]
Bí đái được miêu tả trong phạm vi chứng lung bế của YHCT: Lung là đái khôngthông thoát thường tiểu nhỏ giọt, bế là muốn đái mà đái không được Đây là bệnhcủa bàng quang do khí hoá ở bàng quang không thông lợi mà gây nên[12] Theocác tài liệu hiện có cho đến nay Lung bế có nhiều phương pháp điều trị đó là:phương pháp dùng thuốc gồm: thuốc uống, thuốc bôi, thuốc đắp và phương phápkhông dùng thuốc là châm cứu Xoa bóp bấm huyệt là phương pháp được nhiều tác
Trang 2giả đề cập đến vì: nó là phương pháp đơn giản, thuận lợi, Ýt có tai biến, hiệu quảkinh tế cao, có thể áp dụng ở mọi cơ sở Y tế, nhất là Y tế cơ sở và vùng sâu vùngxa.
Hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu, tổng kết và đánh giá một cách hệthống vai trò của XBBH trong điều trị bí đái cơ năng Vì vậy chúng tôi tiến hành đề
tài: "Đánh giá tác dụng bí đái cơ năng sau phẫu thuật hậu môn trực tràng và
sau đẻ bằng phương pháp xoa bóp bấm huyệt "với các mục tiêu:
1 Đánh giá hiệu quả điều trị bí đái cơ năng sau phẫu thuật và sau đẻ
bằng phương pháp xoa bóp bấm huyệt.
2 Đánh giá hiệu quả điều trị bí đái theo các thể lâm sàng.
Trang 3Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH MẮC BÍ ĐÁI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM.
Bí đái cấp tính là một biến chứng thường gặp sau đẻ, phẫu thuật ngoại sản khoa,phẫu thuật HMTT.Theo Gonullu NN (1993) bí đái gặp 24% ở Nam và 15% ở Nữ,trong các loại phẫu thuật thì hay gặp ở mổ thoát vị, mổ đường giữa là 23%, mổ hạsườn là 21%, những người có nguy cơ bí đái cao hơn là những ca mổ kéo dài >60phút, dùng nhóm thuốc có opiate hoặc nghiện thuốc phiện, họ sẽ tiểu tiện tự chủđược sau khi đặt sông ngắt quãng, chườm túi nước Êm (40 - 45 độ) thời gian từ 4 -
72 giê (trung bình là 12giờ)
Tại Việt Nam chưa có một thống kê toàn quốc về tỷ lệ bí đái, song theo Bác sỹPhạm Huy Trọng, Tô Duy Tráng (1996), Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An tỷ
lệ gặp bí đái sau các loại phẫu thuật từ năm 1992 - 1996 là:
Loại Phẫu thuật Sè BN phẫu thuật Sè BN bí đái Tỷ lệ
Trang 4Trong đó Nam là 37%, Nữ là 63% Lứa tuổi mắc bí đái nhiều nhất ở tuổi > 60(30%), Ýt nhất ở tuổi < 20 là 4,6% Tất cả các bệnh nhân bí đái này đều được điềutrị bằng phương pháp điện chân mang lại kết quả tương đối tốt
1.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU SINH LÝ HỆ TIẾT NIỆU.
Hệ tiết niệu gồm có:
Thận là cơ quan lọc máu ra nước tiểu
Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang
Bàng quang là nơi chứa đựng nước tiểu do niệu quản dẫn đến
Niệu đạo là nơi dẫn nước tiểu ra ngoài
1.2.1 Thận:
Vị trí, hình thể, kích thước [1,16] thận hình hạt đậu, có hai mặt: mặt trước lồi,
mặt sau phẳng; hai bờ: bờ ngoài lồi, bờ trong lõm ở giữa gọi là rốn thận, hai cựctrên và dưới Kích thước: cao 12 cm, rộng 6cm, dày 3cm, nặng 130 – 150g
Đối chiếu trên xương [1,16] Hai thận nằm dọc ở hai bên cột sống thắt lưng và
ở ngoài phúc mạc; thận phải thấp hơn thận trái khoảng 2cm
Cực trên thận phải ngang mức bờ dưới xuơng sườn XI, cực trên thận trái ngangmức bờ trên xuơng sườn XI
Cực dưới thận phải cách mào chậu 3cm Hai cực trên gần nhau hơn hai cựcdưới, có trường hợp hai cực trên dính với nhau tạo nên một hình móng ngựa
Trang 5 Bờ ngoài: Thận phải liên quan tới gan, thận trái liên quan trái liên quan tới tỳ.
Bê trong: Lõm ở giữa gọi là rốn thận Thận phải liên quan tới tĩnh mạch chủdưới, thận trái liên quan tới động mạch chủ bụng
Cấu tạo [1,16].
Xoang thận: Thành xoang có nhiều lồi lõm, chỗ lồi gọi là gai thận, chỗ lõm gọi
là đài thận nhỏ, các đài nhỏ hợp lại tạo thành đài thận lớn rồi thông với bể thận
Nhu mô thận: Có hai vùng: Vùng tuỷ ở trong, vùng vỏ ở ngoài
Tuỷ thận: Gồm: Tháp thận, đỉnh hướng về xoang thận, đáy hướng về các mặtthận
Vỏ thận: phần ở giữa các tháp gọi là cột thận; phần ở ngoài đáy tháp gọi là tiểuthuỳ vỏ
Thần kinh [16].
Thận được phân phối thần kinh từ các nhánh của đám rối thận thuộc hệ thần kinh tựchủ đi dọc theo động mạch thận Hầu hết là các thần kinh vận mạch Còn các nhánhthần kinh cảm giác đau, chủ yếu ở bể thận, đi vào tuỷ gai qua các thần kinh tạng
Trang 6 Đoạn bụng: Bắt đầu từ bể thận, đi theo hướng chếch xuống dưới và vào trongtới đường tận cùng chậu.
Phía trước: có phúc mạc, mạch sinh dục bắt chéo phía trước
Phía sau: có cơ thắt lưng - chậu, mỏm ngang các đốt sống thắt lưng, thần kinh sinhdục đùi Đáng chú ý là niệu quản bắt chéo phía trước động mạch chậu ngoài ở bênphải và động mạch chậu chung ở bên trái Chiếu lên thành bụng thì ở điểm nối 1/3ngoài với 1/3 giữa của đường nối liền hai gai chậu trước trên, gọi là điểm niệu quản
Đoạn chậu hông: là phần còn lại, tiếp tục đi tới mặt sau bàng quang
Phía sau: là khớp chậu cùng, bó mạch thần kinh bịt
Phía trước: ở nam và nữ khác nhau; ở nam liên quan với túi tinh và ống dẫntinh; ở nữ chui vào đáy dây chằng rộng, bất chéo phía sau động mạch tử cung ởcách cổ tử cung 1,5cm
Từ mặt sau của bàng quang, hai niệu quản xuyên chếch trong thành bàng quangkhoảng 1,5 cm, tới trong lòng bàng quang hai lỗ cách nhau khoảng 2-3 cm
Thần kinh [1,16] Các thần kinh đến niệu quản từ đám rối thận và đám rối hạ
vị, gồm các sợi vận động chi phối vận động cho cơ trơn thành niệu quản và các sợicảm giác mang đến cảm giác đau khi có sự đột ngột thành niệu quản
Trang 7Ýt nước tiểu thì nằm dưới gò mu, khi bàng quang căng đầy sẽ vượt lên trên gò mu,thăm khám thành bụng thấy được cầu bàng quang.
Mặt trước: có xương mu, khớp mu và khoang sau mu, trong khoang này có đámrối tĩnh mạch bàng quang ở mặt trước còn có các dây chằng cố định bàng quangvới thành bụng trước gồm:
Dây chằng mu bàng quang
Dây chằng rốn giữa, treo đỉnh bàng quang vào rốn
Dây chằng rốn trong là phần động mạch rốn bị tắc trở thành thừng động mạch rốn
Mặt sau: còn gọi là đáy bàng quang
Ở Nam giới: liên quan tới tuyến tiền liệt, bọng tinh, ống tinh, niệu quản, trực tràng
Ở Nữ giới: Liên quan với cổ tử cung và thành trước âm đạo
Mặt sau gặp mặt trước ở cổ bàng quang, và thông với niệu đạo bởi lỗ niệu đạotrong
Đỉnh bàng quang: Là chỗ mặt trước gặp mặt trên, có dây chằng rốn giữa
Cấu tạo [1,16] Thành bàng quang có 3 lớp, từ ngoài vào là:
Líp thanh mạc: che phủ mặt trên và sau phần không có lớp này, được thay thếbởi mô liên kết
Lớp cơ: Thớ dọc ở ngoài, thớ vòng ở giữa và thớ chéo ở trong
Lớp niêm mạc: có nhiều nếp gấp, có 3 lỗ thông là 2 lỗ niệu quản và lỗ niệu đạotrong, Ba lỗ trên là 3 đỉnh của tam giác bàng quang
Trang 8 Động mạch trực tràng giữa và động mạch tử cung âm đạo.
Thần kinh: Gồm các thần kinh tách từ đám rối hạ vị và các thần kinh cùng 2 vàcùng 3 (S2,S3) các thần kinh này chi phối vận động cho lớp cơ bàng quang đồngthời nhận những cảm giác từ bàng quang, chủ yếu là cảm giác căng đầy, cảm giácđau và rát bỏng
1.2.4 Niệu đạo [1,16] Niệu đạo là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài niệu
đạo nam dài hơn niệu đạo nữ , đồng thời còn là ống dẫn tinh
Niệu đạo nam [1,16].
Giới hạn đường đi và kích thước: Bắt đầu từ lỗ niệu đạo trong cổ bàng quang tới
lỗ niệu đạo ngoài ở đỉnh quy đầu Từ cổ bàng quang đi theo hướng cong xuốngdưới và ra trước, ôm lấy bờ dưới khớp mu vào góc dương vật, chạy trong vật xốptới đỉnh quy đầu
Dài từ 16 - 18 cm, có thể chia thành 3 đoạn: Đoạn tiền liệt 2,5 – 3cm; đoạn màng1,2cm; đoạn xốp 12cm
Liên quan:
Đoạn tiền liệt: xuyên qua tuyến tiền liệt nhưng theo trục tuyến nên phần lớntuyến ở sau niệu đạo, chỉ có một phần nhỏ của tuyến ở trước niệu đạo, tronglòng niệu đạo có một lỗ rộng ở khoang giữa đoạn này gọi là lồi tính, hai bên có
2 lỗ phóng tinh và nhiều lỗ nhỏ ngoại tiết của tuyến tiền liệt
Đoạn màng: Đi từ đỉnh tuyến tới thành dương vật đoạn này nằm ngay giữa khớp
mu nên dễ dập, đứt khi ngã kiểu cưỡi ngựa hoặc vỡ xương chậu do cân đáy chậugiữa giằng kéo Phía ngoài có cơ thắt vân bao quanh, trong lòng thì niêm mạc cónhiều nếp gấp dọc
Đoạn xốp: nằm trong thể xốp của dương vật Trong lòng đoạn xốp có:
Ở phần đầu có 2 lỗ tuyến hành niệu đạo
Ở chỗ lõm của niêm mạc là các tuyến niệu đạo
Trang 9Ở cách lỗ niệu đạo ngoài 1-2 cm có van hố thuyền.
Cấu tạo: Gồm 2 líp
Lớp cơ ở ngoài, có 2 loại thớ: thớ dọc ở trong, thớ vòng ở ngoài
Lớp niêm mạc ở trong, có đặc điểm: rất chun dãn nên khi bị đứt thì 2 đầu xanhau nên khó tìm khó nối Có nhiều hốc và tuyến niệu tiết nhờn, là nơi Èn náucủa vi khuẩn nên khi bị viêm dễ trở thành mãn tính, đặc biệt là viêm lậu
Mạch và thần kinh
Động mạch: niệu đạo được cấp máu bởi nhiều nhánh nhỏ và tuỳ theo từng đoạnnhìn tổng quát có các nhánh động mạch của bàng quang dưới, động mạch, độngmạch trực tràng giữa, đéng mạch hành dương vật , động mạch niệu đạo, độngmạch sau dương vật
Tĩnh mạch: đổ vào đám rối tĩnh mạch thẹn trong và đám rối tĩnh mạhc tiền liệt
Thần kinh: xuất phát từ đám rối tiền liệt và các nhánh của thần kinh thẹn
Niệu đạo nữ [1,16] Niệu đạo nữ tương ứng với niệu đạo đoạn tiền liệt và niệu
đạo màng của nam, đi từ lỗ niệu đạo trong ở cổ bàng quang tới lỗ niệu đạo ngoàicủa âm hộ, dài khoảng 3-4 cm Lỗ niệu đạo ngoài là nơi hẹp nhất của niệu đạo,nằm giữa 2 môi nhỏ, ở phía trước là lỗ âm đạo, phía dưới và sau là âm vật Trênđường đi, niệu đạo cũng xuyên qua hoành chậu và hoành niệu dục và có liên quanđến các hoành này
Hình thể trong: niêm mạc cũng có mào niệu đạo ở phía sau và những nếp dọc ởgần lỗ niệu đạo ngoài, có 2 lỗ thông của tuyến Skene
Mạch máu và thần kinh tương tự nh nam
1.3 SỰ BÀI XUẤT NƯỚC TIỂU VÀ PHẢN XẠ TIỂU TIỆN [5]
Nước tiểu trong các ống góp đổ vào bể thận Nhu động của niểu quản đưa nướcxuống bàng quang một cách liên tục Thể tích nước tiểu trong bàng quang tăng dần
Trang 10tới khi đạt tới một mức nhất định sẽ tạo ra áp xuất đủ mạnh tạo phản xạ điều kiện.Khi đó, cơ thắt cổ bàng quang mở ra cho nước tiểu ra ngoài theo niệu đạo.
1.3.1 Đặc điểm cấu tạo của bàng quang [5]
Bàng quang nh một cái túi lộn ngược và luôn thay đổi kích thước nên có cấu tạothích hợp với chức năng
Thành bàng quang có 3 líp:
Ngoài cùng là lớp mô liên kết
Tiếp đến là lớp cơ trơn, cơ trơn gồm 3 loại: cơ vòng, cơ dọc, cơ chéo do vậybàng quang có khả năng co giãn cao và rất bền
Trong cùng là niêm mạc Niêm mạc bàng quang có khả năng co giãn theo sứcchứa của bàng quang, khi bàng quang đầy nước, niêm mạc căng phẳng ra ngượclại khi Ýt nước tiểu bàng quang co nhỏ, thì bàng quang chun lại Vùng cổ bàngquang có cơ hình tam giác, 2 lỗ niệu quản đổ vào và lỗ niệu đạo đều nằm trongvùng cơ tam giác này Khi cơ bàng quang co để tống nước tiểu ra niệu đạo, các cơthành bàng quang Ðp chặt lỗ niệu quản Nhờ vậy, nước tiểu không trào ngược lên
bể thận
Cổ bàng quang dài khoảng 2-3 cm Phần này gồm các sợi cơ trơn xen kẽ các sợichun và được gọi là cơ thắt trơn (hay cơ thắt trong) Trương lực tự nhiên của cơthắt trơn ngăn cản nước tiểu thoát vào niệu đạo cho tới khi áp xuất trong bàngquang thắng được sự co tự nhiên này
Phía dưới cơ thắt trơn là cơ thắt vân (hay cơ thắt ngoài) Cơ thắt vân chịu sự chiphối của não, do đó có khả năng “đóng – mở “ theo ý muốn
Thần kinh bàng quang gồm có:
Thần kinh giao cảm: Trung tâm thần kinh giao cảm ở đốt tuỷ sống thắt lưng 5(L5), đốt tuỷ cùng 1 và 2 (S2, S2) Thần kinh giao cảm chi phối cơ trơn để kìmhãm nước tiểu bằng cách giãn cơ thành bàng quang và co cơ thắt trơn
Trang 11 Thần kinh phó giao cảm: Trung tâm ở đốt tuỷ sống cùng 2 và 3 Tác dụng củathần kinh phó giao cảm đối lập với thần kinh giao cảm, nghĩa là co cơ thành bàngquang và giãn cơ trơn cổ bàng quang cho nước tiểu vào niệu đạo.
Thần kinh thẹn tách ra từ khe đốt sống cùng 2,3 và 4 Tác dụng của thần kinhnày là điều khiển co giãn cơ thắt vân
1.3.2 Áp suất trong bàng quang và phản xạ tiểu tiện [5]
Nước tiểu từ hai thận liên tục đổ vào bàng quang Thể tích nước tiểu trong bàngquang tăng lên dần làm cho áp suất trong bàng quang tăng lên áp suất tăng chậmhơn so với tăng lượng nước tiểu Có sự tăng không tương xứng này là do thànhbàng quang có khả năng co giãn cao
Khi bàng quang chứa Ýt nước tiểu, áp suất xấp xỉ bằng 0 Thể tích nước tiểu lêntới 100 ml, áp suất sẽ là 5-10 cm H2O Thể tích nước tiểu trước khi đạt tới 400 ml,
áp suất tăng rất chậm Khi thể tích vượt qua 400 ml, áp suất tăng rất nhanh áp suấttrong bàng quang tăng cao sẽ tác động vào bộ phận cảm thụ với áp suất trong thànhbàng quang tạo xung động thần kinh, các xung động này truyền về trung tâm phản
xạ tiểu tiện ở tuỷ cùng qua sợi cảm giác Phản xạ hình thành và truyền theo thầnkinh phó giao cảm tới bàng quang, cơ bàng quang co lại từng đợt, áp suất trongbàng quang tăng theo sù co bóp lại tác động vào bộ phận cảm thụ hơn nữa Vòngfeed-back dương tính được thành lập có tác dụng làm cho áp suất tăng nhanh
Khi áp suất trong bàng quang đủ mạnh thắng được cơ thắt trơn và nước tiểutruyền áp suất kích thích cơ thắt vân gây ra cảm giác mót tiểu tiện
1.3.3 Não điều khiển tiểu tiện [5]
Phản xạ tiểu tiện thuộc loại phản xạ tự động của tuỷ sống Phản xạ này thường
xuyên bị các trung tâm của các phần não cao hơn chi phối
Trang 12 Cầu não có 2 trung tâm chi phối phản xạ tiểu tiện của tuỷ sống: Trung tâm ứcchế và trung tâm kích thích Trung tâm ức chế chiếm ưu thế, do đó thường xuyênkìm hãm tiểu tiện ngay cả khi mót tiểu tiện Trung tâm kích thích chỉ hoạt động khi
có sự chi phối của vỏ não
Võ não cũng có 2 trung tâm điều hoà: ức chế và kích thích Trung tâm ức chếhoạt động liên tục, còn trung tâm kích thích chỉ hoạt động khi (thời cơ) tiểu tiệnxuất hiện
Khi tiểu tiện, trung tâm kích thích của vỏ não tác động vào trung tâm kích thích
và kìm hãm trung tâm ức chế ở cầu não, đồng thời ức chế cơ thắt vân Cơ thắt vângiãn để nước tiểu qua niệu đạo ra ngoài
Người bị tổn thương tuỷ sống và hôn mê, phản xạ tuỷ mất sự chi phối của vỏnão sẽ tiểu tiện tự động
1.4 ĐỊNH NGHĨA, CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH, NGUYÊN NHÂN BÍ ĐÁI THEO YHHĐ [3]
1.4.1 Định nghĩa: Khi bí đái, thận vẫn làm việc được, bàng quang đầy nước tiểu
nhưng người bệnh không đi đái được Khác hẳn với vô niệu, người bệnh không điđái vì thận không lọc được nước tiểu, bàng quang trống rỗng
1.4.2 Chẩn đoán xác định:
Căng tức vùng hạ vị
Cảm giác muốn đi tiểu nhưng rặn nước tiểu không ra
Khám thấy có cầu bàng quang
Siêu âm thấy bàng quang đầy nước tiểu hoặc thông đái lấy được nhiều nướctiểu, cầu bàng quang xẹp xuống
1.4.3.Nguyên nhân:
Tại bàng quang:
Trang 13 Dị vật ở bàng quang: Sái hay cục máu Có thể từ trên xuống, hoặc sinh ngay tạibàng quang, lúc đó không đi đái được.
Ung thư bàng quang: Rất hiếm gặp Nếu khối u to có thể làm tắc lỗ niệu đạothông với bàng quang và gây bí đái Soi bàng quang sẽ thấy khối u hay nằm ở vùng
cổ bàng quang
Hẹp niệu đạo: Trong bệnh lậu, hay gây hẹp niệu đạo Nếu phần hẹp nhiều có thểgây bí đái
Ngoài bàng quang:
Do tiền liệt tuyến: là nguyên nhân thường gặp nhất ở nam giới Tiền liệt tuyến
to lên sẽ đè bẹp niệu đạo, gây bí đái Tiền liệt tuyến to lên do hai nguyên nhân
Ung thư tiền liền liệt tuyến: Rất hay gặp ở người già, là nguyên nhân bí đái chủyếu ở những người già Thăm trực tràng, thấy tiền liệt tuyến to và cứng
Viêm tiền liệt tuyến: Có triệu chứng viêm bàng quang, đái ra mủ, đôi khi có thểgây bí đái Thăm trực tràng thấy tiền liệt tuyến to nhưng mềm, đau, có thể nặn ra mủ
Do khối u ở tiểu khung: Ung thư trực tràng, ung thư cổ tử cung, ung thư thân tửcung, vv khi di căn vào tiểu khung, có thể đè vào vùng cổ bàng quang gây bí đái
Do các tổn thương thần kinh trung ương:
Bệnh ở tuỷ sống: chấn thương, gãy cột sống, đứt ngang tuỷ, lao cột sống, u tuỷ,viêm tuỷ, vv đều có thể gây bí đái
Bệnh ở não và màng não: Viêm não, áp xe não, chảy máu não, nhũn não, viêmmàng não,vv đều có thể gây bí đái
Bí đái cấp sau phẫu thuật: Đây là một nguyên nhân thường gặp, chiếm một tỷ lệlớn, bí đái thường xuất hiện sau phẫu thuật 3 - 6 giờ, làm BN đau đớn khó chịu ảnhhưởng đến kết quả phẫu thuật và kéo dài thời gian điều trị Nguyên nhân và cơ chếbệnh sinh chưa rõ ràng song có một nghiêm cứu sau:
Trang 14 Theo JOSEPH G BARONE, M,D,, khi nghiên cứu niệu động học ở 9 BN bítiểu cấp sau phÉu thuật hậu môn trực tràng lành tính cho thấy rằng: căn nguyên của
bí tiểu là do tắc nghẽn đường ra của bàng quang, không có sự mất co thắt của bàngquang như đã đề nghị trước đây
Những nghiên cứu niệu động học gần đây đã chứng minh rằng: đường ra củabàng quang rất giầu thụ thể An pha Adrenecgic, kích thích giao cảm các thụ thểnày sẽ dẫn đến sự co thắt đường đi ra của bàng quang, tạo sự tắc nghẽn về chứcnăng dẫn đến bí tiểu tiện, người ta cũng đề nghị rằng sự hoạt hoá các thụ thể này
sẽ đưa đến sự bí tiểu cấp sau phẫu thuật
Nghiên cứu chúng tôi cho thấy rằng một cơ chế tương tự hoạt hoá thụ thể các
An pha Adrenecgic tại đường ra của bàng quang có thể chịu trách nhiệm gây ra
bí tiểu cấp sau phẫu thuật, tất cả 9 BN của chúng tôi là bí tiểu tiện , nhưng tuynhiên tất cả họ đã được chứng minh co thắt bàng quang trong suốt thời gianđánh giá niệu động học tại giường, điều này chứng tỏ rằng sự tắc nghẽn đường
đi ra của bàng quang hơn là mất sự co bóp của bang quang Nhiều phương pháp
đã được sử dụng để ngăn ngừa hoặc điều trị bí tiểu cấp sau phẫu thuật, kết quảnghiên cứu chúng tôi cho thấy rằng điều trị nên tập trung làm giảm sự tắc nghẽnchức năng tại cổ bàng quang, không phải là tăng cường co bóp của bàng quang
Trong thời kỳ sau mổ tác động của hệ giao cảm do nhiều nguyên nhân khácnhau gây nên sự phóng thích các cozamin và sự co thắt cổ bàng quang trunggian của an pha Adrenecgic Nếu nh cơ bàng quang không vượt qua được cáclực cản tại cổ bàng quang thì bí tiểu sẽ xảy ra, do đó điều trị hiện tượng này nêntrực tiếp giảm tối đa sự kích thích vào an pha Adrenecgic tại đường đi ra củabàng quang
1.5 BÍ ĐÁI THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN.
1.5.1 Khái niệm chung [22]
Trang 15Trong các sách kinh điển của YHCT không có tên bệnh bí đái, sỏi thận, phì đạitiền liệt tuyến, viêm bàng quang, viêm niệu đạo, nhưng các chứng này được y vănxưa và nay quy nạp về chứng lâm là chỉ chung về các chứng bệnh tiết niệu như:lâm chứng, lung bế.
Lâm chứng: Là bệnh bí đái nhiều lần, đái đau , nước tiểu Ýt, khó ra, bụng dướiđau, nặng thì đái không được Theo kim quỹ yếu lược thì bệnh lâm đi đái nước tiểunhỏ giọt, bụng dưới đau căng, lan đến rốn Thường có nhiệt lâm, thạch lâm, huyếtlâm, cao lâm, khí lâm Theo sách nội khoa y học cổ truyền cho rằng các chứngnhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, đái dưỡng chấp của YHHĐ tương ứngvới lâm chứng của YHCT
Long bế (lung bế) [12] Theo YHCT lung bế là chứng tiểu tiện bất lợi hoặc sáttrệ bất thông, làm cho tiểu phúc bị trướng mãn, tiểu tiện bất thông Nội kinh viết:(bàng quang là quan năng của bến nước, nơi tàng chứa tân dịch, khi nào khí hoá thìmới xuất ra được) Bệnh lung bế tuy nói rằng do khí hoá của bàng quang bị bất lợinhưng tiểu tiện dù bị nói là cũng khó khí hoá, khai ngòi nước lại do ở tam tiêu Nộikinh còn nói: “tam tiêu là tam quan năng khai ngòi nước, thuỷ đạo xuất ra” (từ đó).Nạn kinh cũng nói: “ tam tiêu là con đường thông đạo của thuỷ cốc, là nơi chungcủa thuỷ khí” Do đó nếu khí hoá của tam tiêu bị thất thường, không làm thông lợiđược thuỷ đạo nó sẽ xuống bàng quang để sinh ra chứng lung bế Nếu bàng quang
và thận bị tà nhiệt hoặc thấp nhiệt ở trung tiêu không xuống hạ tiêu, bàng quang sẽ
bị kết nhiệt làm cho khí hóa bị rối loạn, khí trệ huyết ứ, vô âm thì dương không lấyđược để hoá, vậy là phát sinh lung bế hoặc do thận khí hư tổn, tinh huyết hao tổn,mệnh môn hoả suy không hoá được thuỷ, Vô dương thì âm cũng không lấy gì đểhoá thuỷ sẽ đọng lại và tích tụ lại cũng có thể phát sinh chứng lung bế
1.5.2 Biện chứng luận trị theo YHCT[12].
Trang 16Trong các y văn YHCT chưa có tài liệu nào phân thể của chứng bệnh này,song trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng, sựthịnh suy của khí huyết, tạng phủ, kinh lạc trong nghiên cứu này chúng tôi chia làmhai thể:
Thể nhiệt: bao gồm âm hư hảo vượng, can thận âm hư, âm hư dương
cang, thận âm bất túc, phế thận âm hư, huyết nhiệt
Triệu chứng: sau khi phẫu thuật hoặc đẻ, BN thường đau tức, căng chướngvùng hạ vị, có thể đái buốt, đái rắt nước tiểu Ýt, đỏ và đục, nặng thì bí đái, mót đitiểu, nhưng rặn nước tiểu không ra, có thể có sốt, khát nước, miệng đắng, kèmváng đầu hoa mắt, họng khô, tâm phiền, nóng ở lòng bàn tay chân, đại tiện táo kết,chất lưỡi tím hoặc đỏ không có rêu, mạch trầm tế sác
Pháp điều trị: tư âm giáng hoả, hành khí hoạt huyết lợi niệu
Bài thuốc: "Tri bá địa hoàng hoàn" gia giảm hoặc "Lục vị địa hoàng hoàn"kết hợp với "Trư linh thang"
Xoa bóp: các huyệt Trung cực, Quan nguyên, Khí hải, Thuỷ đạo, Huyếthải, Túc tam lý, Tam âm giao
Thể hàn: bao gồm mệnh môn hoả suy, dương hư chân dương bất túc, tỳ
thận dương hư
Triệu chứng: Sau khi phẫu thuật hoặc đẻ, BN thường đau tức, căngchướng vùng hạ vị, đi tiểu từng giọt không hết, sức tống nước tiểu ra kém, nặnghơn thì bí tiểu tiện, sắc mặt trắng nhợt, tinh thần yếu đuối, lưng đau gối mỏi, sợlạnh chân tay lạnh, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch trầm tế nhược
Pháp điều trị: ôn dương Ých khí, hoạt huyết lợi niệu
Bài thuốc: tế sinh thận khí hoàn gia giảm
Xoa bóp: tả các huyệt Trung cực, Quan nguyên, Khí hải, Thuỷ đạo, Huyếthải, Túc tam lý, Tam âm giao
Trang 171.6 PHƯƠNG PHÁP XOA BÓP BẤM HUYỆT [11].
1.6.1 Nguồn gốc [11].
YHCT và YHHĐ đều có xoa bóp Xoa bóp là phương pháp ra đời sớm nhất,được xây dựng và phát triển trên cơ sở những kinh nghiệm tích luỹ được trong đấutranh bảo vệ sức khoẻ của người xưa Xoa bóp của YHCT được lý luận của YHCTchỉ đạo; xoa bóp của YHHĐ được lý luận của YHHĐ chỉ đạo và các phương tiệnhiện đại hỗ trợ
Về YHCT: Xoa bóp cũng được coi là một phương pháp phòng bệnh và chữabệnh Đặc điểm của nó là: Chỉ dùng thao tác của bàn tay; ngón tay tác động lên dathịt của bệnh nhân để đạt được mục đích phòng bệnh và chữa bệnh Ưu điểm của
nó là giản tiện, có hiệu quả, có phạm vi chữa bệnh tương đối rộng, có giá trị phòngbệnh lớn
Giản tiện vì chỉ cần dùng tay để phòng bệnh và chữa bệnh trong bất kỳ hoàncảnh nào, không bị các phương tiện khác hạn chế
Có hiệu quả vì nó có khả năng chữa một số chứng bệnh cấp tính và nhiều khiđạt kết quả nhanh chóng Dùng xoa bóp để chữa một số bệnh mãn tính tươngđối an toàn, làm xong nhẹ người, triệu chứng giảm hẳn
Xoa bóp có tác dụng phòng bệnh và giữ sức khoẻ tương đối tốt
Xoa bóp có các môn phái khác nhau Biểu hiện các thủ thuật và vị trí xoa bópkhác nhau Có phái làm nhiều thủ thuật, xoa bóp từng bộ phận kết hợp với tác độngvào huyệt, làm thời gian dài; có phái dùng Ýt thủ thuật chỉ chú trọng kinh lạc, làmthời gian ngắn; Có phái có lý luận chủ đạo, có phái là kinh nghiệm dân gian hoặcgia truyền
1.6.2.Tác dụng của xoa bóp [11].
Trang 18Xoa bóp là một kích thích vật lý, trực tiếp tác động vào da thịt và các cơ quan
cảm thụ của da và cơ, gây nên những thay đổi về thần kinh thể dịch, nội tiết, từ đóảnh hưởng đến toàn thân
Tác động đối với hệ thần kinh: Cơ thể thông qua hệ thần kinh có những phản
ứng đáp lại tích cực đối với những kích thích của xoa bóp Rất nhiều tác giả chorằng xoa bóp có ảnh hưởng rất lớn đối với hệ thần kinh thực vật, nhất là đối với hệgiao cảm, qua đó gây nên những thay đổi trong một số hoạt động của nội tạng vàmạch máu ví dụ:
Xoa bóp gáy, lưng, vai có thể gây nên thay đổi ở các cơ quan do thần kinh thựcvật ở cổ chi phối và các cơ quan do trung khu thực vật cao cấp ở chất xám não thấtIII chi phối do đó có thể dùng để chữa bệnh ở mũi họng
Xoa bóp TLI, TLII, dễ gây xung huyết ở hố chậu nhỏ
Xoa bóp lưng dưới, thắt lưng, xương cùng để điều tiết dinh dưỡng và tuần hoàncác cơ quan trong hố chậu lớn, nhỏ và chi dưới
Xoa bóp có thể gây nên thay đổi điện não: Kích nhẹ nhàng gây hưng phấn, kíchthích mạnh thường gây ức chế
Tác động với da: Có tác động trực tiếp với da và thông qua da ảnh hưởng tới
toàn thân
Ảnh hưởng đến toàn thân: Các chất nội tiết tế bào được tiết ra khi xoa bóp dathấm vào máu và có thể tăng cường hoạt động của mạch máu và thần kinh ở da,xoa bóp có tác động đến toàn cơ thể Nh vậy, xoa bóp đã có tác dụng đối với toànthân:
Tăng cường hoạt động của thần kinh
Nâng cao quá trình dinh dưỡng và năng lực hoạt động của cơ thể
Ảnh hưởng cục bé: Xoa bóp làm cho hô hấp của da tốt hơn, mạch máu dãn cólợi cho việc tăng dinh dưỡng ở da, làm cho da co dãn tốt, da bóng đẹp, có tác dụng
Trang 19tốt đối với chức năng bảo vệ cơ thể của da, mặt khác xoa bóp có thể làm nhiệt độcủa da tăng lên do giãn mạch máu tại chỗ và toàn thân dãn.
Tác dụng đối với gân, cơ, khớp.
Đối với cơ: Xoa bóp có tác dụng làm tăng năng lực làm việc, sức bền bỉ của cơ
và phục hồi sức khoẻ cho cơ nhanh hơn khi không xoa bóp Khi cơ làm việc quácăng, gây nên phù nề co cứng và đau, xoa bóp có thể giải quyết tốt chứng này
Đối với gân, khớp: Xoa bóp có khả năng tăng tính co dãn, tính hoạt động củagân, dây chằng, thúc đẩy việc tiết dịch trong ổ khớp và tuần hoàn quanh khớp Nócòn có thể dùng để chữa bệnh khớp
Tác dụng đối với tuần hoàn.
Tác dụng đối với huyết động: Một mặt xoa bóp làm dãn cơ, trở lực trong mạchgảm đi, mặt khác xoa bóp trực tiếp đẩy máu về tim, do đó xoa bóp vừa giảm gánhnặng cho tim vừa giúp máu trở về tim tốt hơn
Đối với người huyết áp cao Ýt tập luyện, xoa bóp có thể làm hạ áp
Xoa bóp trực tiếp Ðp vào hệ lympho, giúp tuần hoàn lympho nhanh và tốt hơn,
do đó có thể có tác dụng tiêu sưng.Trong khi xoa bóp, số lượng hồng cầu, tiểu cầuhơi tăng, xoa bóp xong trở lại như cũ, số lượng bạch cầu, huyết sắc tố cũng có thểtăng
Tác dụng đối với hô hấp, tiêu hoá và quá trình trao đổi chất.
Đối với hô hấp: khi xoa bóp, thở sâu lên, có thể do trực tiếp kích thích vào thànhngực và phản xạ thần kinh gây nên, do đó có tác giả dùng xoa bóp để chữa khí phếthòng, hen phế quản, xơ cứng phổi… để nâng cao chức năng thở và ngăn chặn sựsuy sụp chức năng thở
Đối với tiêu hoá: có tác dụng tăng cường nhu động dạ dày, của ruột và cải thiệnchức năng tiêu hoá Khi chức năng tiết dịch tiêu hoá kém, dùng kích thích mạnh để
Trang 20tăng tiết dịch Khi chức năng tiết dịch tiêu hoá quá mạnh, dùng kích thích nhẹ hoặcvừa để giảm tiết dịch.
Xoa bóp làm tăng lượng nước tiểu bài tiết ra, nhưng không thay đổi độ acidtrong máu Có tác giả nêu lên, xoa bóp 2 đến 3 ngày sau, chất nitơ trong nước tiểutăng lên và kéo dài vài ngày, do tác dụng phân giải protid của xoa bóp gây nên xoabóp toàn thân có thể tăng nhu cầu về dưỡng khí 10 – 15%, đồng thời cũng tănglượng bài tiết dưỡng khí
1.6.3.Các thủ thuật: Xát, xoa, day, bấm và ứng dụng trên lâm sàng [11].
Xát.
Cách làm: dùng gốc gan bàn tay, mô ngón tay út, hoặc mô ngón tay cái xát lên
da, theo đường thẳng (đi lên xuống hoặc sang phải sang trái) Tay của thày thuốc dichuyển trên da người bệnh Cũng có khi dùng dầu, bột tan (tal) để làm trơn da
Tác dụng: thông kinh lạc, dẻo gân cốt, lý khí, làm hết đau, hết sưng, khu phongtán hàn, kiện tỳ vị , thanh nhiệt
Xoa.
Cách làm: dùng vân ngón tay, gốc bàn tay hoặc mô ngón tay út, ngón tay cáixoa lên trên da chỗ đau Tay thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh Là thủ thuậtmềm mại, thường dùng ở bụng hoặc nơi có sưng đỏ
Tác dông: lý khí hoà trung, thông khí huyết, làm hết sưng, giảm đau
Day.
Cách làm: dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, mô ngón tay cái, hơi dùng sức Ênxuống da người bệnh, và di động theo đường tròn Tay của thầy thuốc và da củangười bệnh dính với nhau, da người bệnh di động theo tay thầy thuốc
Tác dụng: làm giảm sưng, hết đau, khu phong, thanh nhiệt, giúp tiêu hoá
Trang 21 Bấm
Cách làm: dùng ngón tay cái bấm vào vị trí đau hoặc huyệt vị
Tác dụng: Làm giảm đau, thông kinh hoạt lạc
1.7 HUYỆT TRUNG CỰC, QUAN NGUYÊN, KHÍ HẢI, TÚC TAM LÝ, TAM ÂM GIAO, THẬN DU, BÀNG QUANG DU, TAM TIÊU DU VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ TRÊN LÂM SÀNG.
1.7.1 Trung cực [12,24].
(Huyệt mộ của bàng quang Hội của mạch Nhâm với 3 kinh âm ở chân)
Huyệt thứ 3 của mạch nhâm
Vị trí: Dưới rốn 4 thèn Lấy ở điểm nối 4/5 trên và 1/5 dưới của đoạn thẳng nốirốn và bờ xương mu
Giải phẫu: Huyệt ở trên đường trắng, sau đường trắng là mạc ngang và phúcmạc Vào sâu có ruột non khi bàng rỗng và không có thai; có bàng quang khi căngnước tiểu, có tử cung khi có thai
Da vùng huyệt được chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L1 hay tiết đoạn thần kinh D12
Tác dụng: Chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng khi hành kinh, đau ngứa sinhdục ngoài, sót rau, khí hư, di tinh, liệt dương, đái dầm, đái són, đái rắt, đái buốt, bíđái Toàn thân chữa phù thũng
Trên lâm sàng:
Phối hợp với Thuỷ phân, Thuỷ tuyền, Phục lưu, Tam âm giao để chữa phù do tim
Phối hợp với Tam âm giao để chữa đái dầm, bí đái
Phối hợp với Âm lăng tuyền, Tam âm giao để chữa đái són
Phối với Tử cung,Tam âm giao chữa kinh nguyệt không đều
1.7.2 Quan nguyên [12,24].
Huyệt thứ 4 của mạch nhâm
(Huyệt mộ của tiểu trường; hội của mạch nhâm với 3 kinh âm ở chân)
Trang 22 Vị trí: ở dưới rốn 3 thèn, lấy ở điểm nối 3/5 trên và 2/5 dưới của đoạn nối rốn và
bờ trên xương mu
Giải phẫu: Huyệt ở trên đường trắng Sau đường trắng là mạc ngang, phúc mạc,vào sâu có ruột non khi bàng quang bình thường và không có thai, có bàng quangkhi bí tiểu tiện, có tử cung khi có thai
Da vùng huyệt được chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D12 và D11
Trên lâm sàng: Kết hợp cứu Quan nguyên, Khí hải để nâng huyết áp trong hộichứng choáng
1.7.3 Khí hải [12,24].
Huyệt thứ 6 của mạch nhâm
Vị trí: ở dưới rốn 1,5 thèn, lấy ở điểm nối 1,5/5 trên với 3,5/5 dưới của đoạn rốn– bờ trên xương mu
Giải phẫu : Huyệt ở trên đường trắng, sau đường trắng là mạc ngang, phúc mạcvào sâu có ruột non khi không bí đái nhiều hoặc có thai còn nhỏ, có bàng quang khi
bí đái nhiều, có tử cung khi có thai 4-5 tháng
Da vùng huyệt được chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D11
Trên lâm sàng:
Cứu kết hợp với Quan nguyên để nâng huyết áp trong hội chứng choáng
Kết hợp với chi câu, Túc tam lý, Đại trường du để chữa tắc ruột cơ năng
1.7.4.Tóc tam lý [12,24].
(Huyệt hợp thuéc thổ)
Huyệt thứ 36 của kinh dương minh vị
Vị trí: ở dưới gối 3 thèn, trong chỗ nổi lên của đường gân lớn ở ngoài xươngống chân Dưới huyệt Độc tỵ 3 thốn cách lồi củ trước xương chày một khoát ngóntay
Trang 23 Giải phẫu: Dưới da là cơ cẳng chân trước chỗ bám các thớ gân cơ hai đầu đùi,khe giữa xương chày và xương mác, màng gian cốt
Thần kinh vận động là nhánh của dây thần kinh hông to, nhánh của dây thầnkinh chày trước
Da vùng huyệt được chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L5
Tác dụng lâm sàng: Chữa đau gối, sưng gối, gối co ruỗi khó khăn, liệt chân do
di chứng trúng phong hay di chứng bại liệt, đau dạ dày, tắc tia sữa, viêm tuyến vú,đau mắt, ăn không tiêu, táo bón, sôi bụng, ỉa chảy, sốt là huyệt phòng bệnh và nângcao sức đề kháng cho cơ thể
Phối hợp với Trung quản, Nội quan, Thái xung chữa bệnh viêm loét dạ dày
Phối hợp với Hợp cốc, Thiên khu, Quan nguyên chữa tiêu hoá không tốt
1.7.5.Tam âm giao [12,24].
Huyệt thứ 16 của kinh túc thái âm tỳ
(Huyệt hội của ba kinh Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm ở chân)
Vị trí: Ở trên mắt cá chân 3 thèn, chỗ lõm dưới xương Lấy ở chỗ lõm sát bờ sautrong xương chày, trên chỗ lồi cao nhất của mắt cá trong 3 thèn
Giải phẫu: Dưới da là bờ sau - trong xương chày, bờ trước cơ gấp dài các ngónchân và cơ cẳng chân sau
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây chày sau
Da vùng huyệt được chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L4
Tác dụng lâm sàng: Chữa sưng đau cẳng chân, đau do thoát vị, tiêu hoá kém, đầybụng không muốn ăn, ăn không tiêu, nôn, ỉa chảy, kinh nguyệt không đều, rong kimh,khí hư, bế kinh, di mộng tinh, đau dương vật, đái khó, đái buốt, bí đái, mất ngủ
1.7.6 Tam tiêu du [12,24].
Huyệt thứ 22 của kinh túc thái dương bàng quang
(Huyệt du của tam tiêu)
Trang 24 Vị trí : Huyệt ở hai bên xương sống dưới đốt sống lưng thứ 13 ngang ra 1,5thốn Điểm gặp nhau của đường ngang qua đường mỏm gai sống thắt lưng 1 vàđường thẳng đứng ngoài mạch Đốc 1,5 thốn là huyệt.
Giải phẫu: Dưới da là cân ngực thắt lưng của cơ lưng to, cơ lưng dài, cơ nganggai, cơ gian mám ngang, cơ vuông thắt lưng, cơ đái - chậu
Thần kinh vận cơ là các nhánh của đám rối cánh tay, nhánh của dây sống thắtlưng 1, nhánh của đám rối thắt lưng
Da vùnh huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L4
Tác dụng lâm sàng: Chữa đầy bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, ỉa chảy, bí đái, đauthắt lưng, lỵ, phù thũng
Giải phẫu: dưới da là cân ngực - thắt lưng của cơ lưng to, cơ răng bé sau - dưới,
cơ lưng dài, cơ ngang gai, cơ gian mám ngang, cơ vuông thắt lưng, cơ đái - chậu
Thần kinh vận động cơ là nhánh của đám rối cánh tay, nhánh của dây sống thắtlưng 2, nhánh của đám rối thắt lưng
Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L1 hay L2
Tác dụng lâm sàng: Chữa đau lưng, đầu váng, mắt hoa, ù tai, liệt dương di,mộng tinh, đái đục, đái ra máu, đái dầm, bí đái, các bệnh kinh nguyệt, khí hư, phùthũng Phối hợp với bàng quang du, trung cực, tam âm giao chữa viêm nhiễmđường tiết niệu, bí đái
1.7.8 Bàng quang du [12,24].
Trang 25Huyệt thứ 28 của kinh túc thái dương bàng quang.
(Huyệt du của bàng quang)
Vị trí: ở hai bên xương sống, dưới đốt xương sống lưng thứ 19 ngang ra 1,5 tấc,lấy ở điểm gặp nhau của đường ngang qua đầu mỏm gai đốt sống cùng 2 và đườngthẳng đứng ngoài mạch Đốc 1,5 tấc
Giải phẫu: Dưới da là cân cơ lưng to, khối cơ chung của các cơ ở rãnh cột sống,xương cùng 2
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của đám rối cánh tay, nhánh của dây sốngcùng 2
Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh S1và S2
Tác dụng lâm sàng: Chữa đau vùng xương cùng, đau lưng, đau sưng vùng sinhdục ngoài, đái đỏ, đái dầm, đau bụng, ỉa chảy, táo bón Kết hợp với Thận du, Trungcực, Tam âm giao chữa viêm đường tiết niệu, bí đái
1.7.9 Thủy đạo.[14,16]
Là huyệt thứ 28 của kinh dương minh vị
Vị trí : ở dưới huyệt Đại cự 1 thốn,từ huyệt Quan nguyê đo ngang ra 2 thèn
Tác dụng : Bí tiểu tiện,viêm bàng quang
1.8 TÌNH HÌNH NC ĐIỀU TRỊ BĐ SAU PT VÀ SAU ĐẺ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.8.1.Nghiên cứu của Phạm Huy Trọng, Tô Huy Tráng và Trương Sỹ Thuật Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An (Điện châm ĐT bí đái sau PT ngoại, sản, chấn thương)[29].
Thời gian thực hiện: từ năm 1992 - 1996
Mẫu nghiên cứu: 219 bệnh nhân BĐ trong 4115 BN phẫu thuật
Trang 26 Phương pháp châm tả, tần số từ 20-150 xung/phút, cường độ từ 0,1-0,8 mA.
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả:
Tốt : sau châm 1 lần BN tự đi tiểu được
Khá : sau châm 2-3 lần BN tự đi tiểu được
Trung bình: sau châm 4-7 lần BN tự đi tiểu được
Thất bại: sau 7 lần châm BN không tự đi tiểu được
Kết quả điều trị: kết quả tốt 12 BN chiếm 5,5%, khá 142 BN chiếm 64,8%,trung bình 50 BN chiếm 22,9%, thất bại 15 BN chiếm 6,8%
1.8.2.Nghiên cứu của Hoàng Thị Thanh và cộng sự tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái (Đánh giá kết quả chữa BĐ bằng điện châm) [27].
Thời gian thực hiện 1996-1997
Đối tượng nghiên cứu: gồm 65 BN bí đái sau đẻ, sau một số PT sản phụkhoa tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái
Phương huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Trung cực, Khúc cốt, Tam âm giao,nếu có vết mổ dùng thêm huyệt: Bàng quang du, Tam tiêu du, Tóc tam lý
Phương pháp châm: tả pháp, lưu kim 20-30 phót, tần sè 120 -150 xung/phút
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả:
Tốt: sau 1 lần điện châm BN tự đi tiểu được
Khá: sau 2 lần điện châm BN tự đi tiểu được
Trung bình: sau 3 lần châm BN tự đi tiểu được
Thất bại: sau 3 lần châm BN không tự đi tiểu được
Trang 27 Kết quả nghiên cứu: Tốt 24 BN chiếm 36,9%, khá 26 BN chiếm 40%, trungbình13 BN chiếm 20%, thất bại 2BNP chiếm 3,1%.
1.8.3.Nghiên cứu của Mã Tú Bình Bệnh viện Hải Hồng tỉnh Tây Ninh-TQ (Châm huyệt Thái uyên điều trị 58 ca bí đái sau đẻ) [62].
Phương huyệt: Thái uyên, Tóc tam lý, Tam âm giao
Cách châm: Dùng kim châm thẳng vào huyệt Thái uyên sâu 0,6 - 1cm khi
BN cảm thấy tức thì vê kim với tốc độ nhanh tần số khoảng 120 vòng/phút,sau đó lưu kim 15 phút, nếu trong thời gian châm BN có cảm giác mót đitiểu thì rút kim ra Nếu sau 15 phút châm BN không tự đi tiểu được hoặckhông có cảm giác mót đi tiểu thì châm tiếp huyệt Tam âm giao, Tóc tam lývới độ sâu 2,5cm vừa châm vừa vê, lưu kim 15 phót
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả:
Tốt : Sau 1 lần châm BN tự đi tiểu được
Khá: Sau 2 lần châm BN tự đi tiểu được
Trung bình: Sau ≥ 3 lần châm BN tự đi tiểu được
Kết quả nghiên cứu:
Gồm 58 BN bí đái sau đẻ, tuổi thấp nhất là 20, tuổi cao nhất là 32.Thời gian bí đái sau đẻ: 6 -10h có 42 BN, 11 - 24h có 12 BN, > 24h có