Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục đích: Đỏnh giá chức năng thất trái ở những bệnh nhân suy tim do nhồi máu cơ tim trước và sau điều trị phối hợp bằng tế bào gốc... Mức độ ả
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhồi mỏu cơ tim (NMCT) là một bệnh thường gặp và là một trong các nguyên nhõn gõy tử vong hàng đầu trong các bệnh lý tim mạch Cùng với sự gia tăng của các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, lối sống ít vận động , số người mắc bệnh đang ngày càng tăng lên và tuổi mắc bệnh cũng ngày càng trẻ húa Theo thống kê tại Hoa Kỳ cho thấy, hàng năm có tới gần 1 triệu người phải nhập viện vì NMCT cấp [3]
Ở Việt Nam, nếu trước năm 60, rất hiếm gặp các trường hợp nhập viện vì NMCT thì trong vòng 5 năm (1991 – 1995) đã có 82 trường hợp được chẩn đoán NMCT tại Viện Tim mạch Quốc gia [11] Theo điều tra của Nguyễn Lân Việt và cộng sự, số bệnh nhân có hội chứng vành cấp tại Viện Tim mạch Quốc gia từ năm 2003-2007 là 3362 [9] Hiện nay, tại Viện Tim mạch hầu như mỗi ngày đều có bệnh nhõn nhập viện với bệnh cảnh này
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị NMCT nhưng các biến chứng về lõu dài của bệnh vẫn cũn là một thách thức lớn Cùng với
sự phát triển của các loại thuốc, các phương tiện can thiệp điều trị và sự ra đời của các đơn vị hồi sức tim mạch thì số bệnh nhõn được thoát khỏi tình trạng hiểm nghèo đang dần tăng lên Nhưng sau đó, cả người bệnh và thầy thuốc sẽ phải đối mặt với tình trạng suy tim nặng nề, thường dẫn đến phải tái nhập viện nhiều lần kéo theo những gánh nặng về kinh tế, tõm lý và xã hội Nếu chỉ tớnh riêng tại Mỹ cho đến năm 2005, trong hơn 7 triệu người đã từng bị NMCT, có gần 4 triệu người đang sống trong tình trạng suy tim với tỷ lệ tử vong sau 1 năm lên đến 20% và số bệnh nhõn suy tim giai đoạn cuối cần phẫu thuật ghép tim cũng đang ngày càng tăng [21] Cũn ở nước ta, việc điều trị suy tim sau NMCT vẫn chủ yếu tập trung vào sử dụng các loại thuốc như ức
Trang 2chế men chuyển, chẹn bêta giao cảm để nhằm làm chậm đi phần nào quá trình diễn biến tự nhiên xấu đi của bệnh Theo Nguyễn Quang Tuấn, tỷ lệ tử vong sau 1 năm của các bệnh nhõn NMCT có chức năng thất trái suy giảm dù đã được điều trị tối ưu vẫn lên đến 30% [7]
Trước tình hình này, nhu cầu tỡm ra phương pháp mới điều trị cho các bệnh nhõn suy tim sau NMCT không chỉ bằng các loại thuốc nhằm “giảm bớt” hậu quả của vùng nhồi mỏu mà cũn ứng dụng khoa học hiện đại để “sửa chữa” những vùng tổn thương không hồi phục đang ngày càng trở nên cấp thiết Với mục đích đó, trong những năm gần đõy, đang có rất nhiều trung tõm trên thế giới nghiên cứu việc sử dụng tế bào gốc như một biện pháp phối hợp đồng thời với điều trị thường quy cho các bệnh nhõn suy tim do bệnh lý mạch vành Dù cũn đang ở thời kỳ ban đầu và cơ chế vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ, nhưng kết quả thu được từ những nghiên cứu công phu trên người và động vật cũng cho thấy rất nhiều hứa hẹn Từ tháng 5/2005 đến nay, tại Thái Lan đã có 70 bệnh nhõn có tổn thương mạch vành nặng được điều trị bằng phương pháp sử dụng tế bào gốc cho kết quả tốt Kết quả theo dừi trung hạn cho thấy, ở những bệnh nhõn này, khả năng gắng sức, tình trạng tưới mỏu tại vùng cơ tim tổn thương và chức năng tim đều có sự cải thiện đáng kể [4] Điều này đã mở ra một xu hướng mới trong điều trị cho các bệnh nhõn suy tim nặng ngoài những phương pháp truyền thống đang được áp dụng hiện nay
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục đích:
Đỏnh giá chức năng thất trái ở những bệnh nhân suy tim do nhồi máu cơ tim trước và sau điều trị phối hợp bằng tế bào gốc
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Nhồi máu cơ tim và vấn đề suy tim sau nhồi máu cơ tim
1.1.1 Dịch tễ học của bệnh
1.1.1.1 Trên thế giới
NMCT là một bệnh rất phổ biến trên toàn thế giới Mặc dù đã có rất nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, nhưng NMCT vẫn là một trong những nguyên nhõn hàng đầu gõy tử vong và mất sức lao động tại các nước phát triển cũng như ngày càng trở thành vấn đề sức khỏe đáng quan tõm ở các nước đang phát triển Tại Mỹ, theo kết quả của Điều tra quốc gia về tình hình sức khỏe và dinh dưỡng (NHANES) 1999 – 2002 Có 7,1 triệu người đã từng được chẩn đoán NMCT với trên 500.000 trường hợp mắc mới mỗi năm Trong số đó 4,9 triệu người phải chịu hậu quả suy tim và khoảng 1/5 các trường hợp này tử vong sau 12 tháng [21]
Tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và cùng một nhóm tuổi thì tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn ở nữ [7]
1.1.1.2 Tại Việt Nam
Trước năm 1960 mới chỉ có 2 trường hợp NMCT được phát hiện
Trong thập kỷ 90, theo Trần Đỗ Trinh và cộng sự [6] tổng kết tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam, tỷ lệ NMCT trên tổng số bệnh nhân nhập viện là:
- Năm 1991: 1%
- Năm 1992: 2,74%
- Năm 1993: 2,53%, trong đó tỷ lệ tử vong là 27,4%
Trang 4Theo thống kê của Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam, trong 10 năm (1980 - 1990) có 108 ca NMCT vào viện nhưng chỉ trong 5 năm (1991 - 1995) đã có 82 NMCT [11] Nếu tớnh từ năm 1995 đến năm 2006, tại đõy số chụp và can thiệp động mạch vành đã gần 4.000 trường hợp [2]
Theo Nguyễn Quang Tuấn, tỷ lệ tử vong sau 1 năm của những bệnh nhõn NMCT cấp có chức năng tõm thu thất trái < 40% dù đã được điều trị tối
ưu cũng lên tới 33% [7]
Ở Việt Nam, NMCT chủ yếu gặp ở nam giới chiếm 87,2% với 49,3% cũn đang trong độ tuổi lao động (< 60 tuổi) [5]
1.1.2 Nguyên nhõn và sinh lý bệnh nhồi mỏu cơ tim
Nguyên nhõn chủ yếu của NMCT là do xơ vữa động mạch vành Một số nguyên nhõn khác có thể gõy tổn thương động mạch vành gồm bất thường bẩm sinh các nhánh động mạch vành, viêm lỗ động mạch vành do giang mai, bóc tách động mạch chủ ngực lan đến động mạch vành, thuyên tắc động mạch vành trong bệnh hẹp hai lá, Osler, hẹp van động mạch chủ vôi húa
Khi mảng xơ vữa nứt ra, các thành phần bên dưới lộ ra tiếp xúc với mỏu tuần hoàn làm khởi động quá trình đông mỏu, hình thành huyết khối gõy tắc động mạch vành
Nếu quá trình hẹp tắc động mạch vành xảy ra từ từ, cơ tim sẽ có thể thích nghi với tình trạng thiếu oxy mạn tớnh Do đó, diễn biến và tiên lượng
có thể khác với trường hợp tắc đột ngột gõy thiếu oxy cấp tớnh cho cơ tim Qua thực nghiệm, tế bào cơ tim được chứng minh rằng có thể sống sót lõu hơn nếu trước đó đã trải qua những đợt thiếu mỏu ngắn Hiện tượng này được gọi bằng thuật ngữ “cơ tim thích nghi”
Trang 5Khi bị thiếu máu, cơ tim có thể thích nghi bằng cách giảm co bóp (giảm nhu cầu năng lượng) để phù hợp với tình trạng giảm tưới máu nhằm duy trì khả năng sống (cơ tim “đụng miờn” - myocardial hibernating) Thời gian phục hồi của cơ tim đụng miờn sau tái tưới máu rất thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian bị thiếu máu, mức độ trầm trọng của thiếu máu, mức độ của tái tưới máu và số lượng tế bào cơ tim bị mất biệt hóa trong vùng đụng miờn
Cơ tim “choáng váng” (myocardial stunning), là thuật ngữ mô tả sự rối loạn chức năng tồn tại sau tái tưới mỏu mặc dù tổn thương tế bào cơ tim cũn khả năng phục hồi và sự tưới mỏu đã trở lại bình thường hoặc gần bình thường Tình trạng cơ tim choáng váng có thể góp phần làm suy tim và có thể đóng vai trò trong bệnh tim do thiếu mỏu cục bộ
Sau khi xảy ra tình trạng tắc đột ngột một động mạch vành, sự tưới mỏu vùng cơ tim được nuôi dưỡng bởi phần mạch mỏu phớa sau bị suy giảm một cách trầm trọng hoặc mất hoàn toàn, các tế bào cơ tim buộc phải chuyển húa theo con đường yếm khí Quá trình trao đổi chất nội bào bị ảnh hưởng sõu sắc Các sản phẩm giáng húa trong quá trình này như acid lactic, acid pyruvic
và các gốc tự do làm thay đổi tớnh thấm của màng tế bào làm rối loạn sự trao đổi ion qua màng cùng với tình trạng thiếu hụt năng lượng (ATP) gõy suy giảm chức năng của tế bào cơ tim và hiện tượng tái cấu trúc cơ tim
Tái cấu trúc tâm thất (Ventricular remodeling)
Tái cấu trúc là một thuật ngữ để chỉ hiện tượng biến đổi về hình thái và cấu trúc của tế bào cơ tim tổn thương, không những trong vùng nhồi máu mà
cả ở vùng lân cận Quá trình này liên quan đến hiện tượng chết đi của các tế bào hoại tử, biến đổi mạng lưới ngoại bào, du nhập và tân tạo các tế bào mới, kết quả là sự giãn ra của buồng tim tại vựng đú, làm chức năng thất trái xấu
Trang 6dần đi Hiện tượng này có thể xảy ra rất sớm, chỉ một vài ngày sau NMCT, đặc biệt là trong các trường hợp nhồi máu cơ tim diện rộng
Tái cấu trúc sau NMCT được chia thành 2 pha: pha sớm (trong vòng 72 giờ sau nhồi máu) và pha muộn (sau 72 giờ) Những biến đổi cơ tim trong pha sớm liên quan tới sự lan rộng của vùng nhồi máu, có thể là cơ chế của hiện tượng vỡ thành tim hay tạo phình thành tim Tái cấu trúc muộn thể hiện bằng tình trạng phì đại cơ tim, giãn buồng tim theo thời gian làm buồng tim mất dần cấu trúc hình nón, sẹo húa cỏc vựng cơ tim hoại tử và giảm dần khả năng
co bóp của cơ tim
Tái cấu trúc buồng thất là hiện tượng xảy ra theo cả cơ chế cơ học và hóa sinh học Tình trạng tăng sức căng của thành tim do tăng áp lực tác động lên đó là một trong những yếu tố cơ học quan trọng nhất thúc đẩy quá trình tái cấu trúc Tăng sức ép lờn cỏc buồng tim tạo thành một lực ộp gõy gión buồng tim thụ động và hiện tượng các tế bào cơ tim tại vựng khụng nhồi máu phì đại như một phản ứng bù trừ Những thay đổi ở mạng lưới ngoại bào cũng là một nhân tố quan trọng trong quá trình tái cấu trúc tiến triển Sự hoạt hóa một loạt các enzyme tiêu protein ngoại bào (matrix metalloproteinases - MMPs) dẫn đến sự thoái hóa của hệ thống collagen gian bào làm thúc đẩy quá trình giãn buồng thất
Hiện tượng tế bào cơ tim phì đại là hậu quả của sự tăng tiết các catecholamine, tình trạng căng giãn cơ tim, sự hoạt hóa hệ renin - angiotensin - aldosteron sau nhồi máu Khi các receptor b1 adrenergic tại các tiểu đảo cận cầu thận bị kích thích sẽ làm tăng tiết angiotensin II Đồng thời, các protease huyết tương tại cỏc vựng cơ tim không nhồi máu hoạt hóa hệ renin - angiotensin - aldosteron dẫn đến các gen điều hòa tổng hợp angiotensin biểu hiện quá mức và tăng hoạt động của các men chuyển angiotensin tại chỗ Nồng độ angiotensin II trong máu tăng
Trang 7lên sẽ làm co cơ trơn thành mạch, kích thích giải phóng noradrenaline, tăng tổng hợp các catecholamine và tác dụng của các noradrenaline tại các thụ thể hậu synap Ngoài ra, angiotensin II và noradrenaline còn có tác dụng làm tăng giải phóng endothelin-1, một loại hormon tại chỗ có tác dụng kích thích phì đại tế bào và tăng giải phóng yếu tố lợi niệu nhĩ (atrial natridiuretic peptide - ANP), yếu tố có tác dụng điều hòa sự tổng hợp catecholamine, angiotensin và aldosteron Khi cơ chế này mất đi tác dụng thích nghi, vòng xoắn bệnh lý của hiện tượng tái cấu trúc sẽ xảy ra
Tái cấu trúc xảy ra ở khoảng 30% các trường hợp sống sót sau NMCT [13] Tiêu chuẩn xác định có hiện tượng tái cấu trúc hiện hay được áp dụng là thể tích cuối tâm trương thất trái sau 6 tháng tăng > 20% so với thời điểm NMCT giai đoạn cấp Theo Bolognese và cộng sự, những bệnh nhân này có
tỷ lệ tử vong sau 5 năm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với những người không có hiện tượng này [13] Trong nghiên cứu của Mengozzi và cộng sự, 32% những bệnh nhân cú tỏi cấu trúc buồng thất tiến triển thành suy tim ứ huyết sau 6 tháng so với 0% ở nhóm chứng [31] Một số tác giả khác sử dụng các chỉ số sau để chẩn đoán tình trạng tái cấu trúc gồm: thể tích cuối tâm trương tăng > 15%, phân số tống máu thất trái toàn bộ giảm > 15%, chỉ số thể tích cuối tâm trương sau 6 tháng > 63 ml/m2, chỉ số thể tích cuối tâm trương > 30 ml/m2, hoặc tổng hai chỉ số trên > 88 ml/m2 Theo tiêu chuẩn này, những người có hiện tượng tái cấu trúc thất trái cũng tăng nguy cơ tử vong và suy tim sau 6 tháng [15]
1.1.3 Chức năng thất trái sau nhồi máu cơ tim
1.1.3.1 Chức năng tâm thu thất trái toàn bộ
Tế bào cơ tim giảm co bóp do rối loạn sâu sắc quá trình trao đổi chất và năng lượng dẫn đến giảm chức năng co bóp của toàn bộ thất trái, phản ánh
Trang 8qua sự suy giảm cung lượng tim, thể tích tống máu, tỷ lệ dP/dt, trong khi thể tích cuối tâm thu tăng lên Trên lâm sàng có thể biểu hiện bằng huyết áp giảm
Mức độ ảnh hưởng đến chức năng thất trái trong những giờ đầu sau NMCT phụ thuộc vào độ rộng và độ nặng của rối loạn vận động vùng cơ tim nhồi máu, độ rộng của vựng “rỡa” (cú rối loạn vận động vùng nhưng không
do động mạch vành tắc chi phối), phạm vi và mức độ tăng vận động bù của vùng cơ tim lành
1.1.3.2 Chức năng tâm trương
Trong NMCT, chức năng tâm trương của thất trái bị ảnh hưởng chủ yếu thể hiện qua giảm khả năng giãn của thất trái và rối loạn đổ đầy tâm trương Hiện tượng này thường kết hợp với giảm dP/dt và tăng áp lực cuối tâm trương, tiếp sau đó thể tích cuối tâm trương tăng và áp lực cuối tâm trương trở
về bình thường Cũng như chức năng tâm thu, chức năng tâm trương cũng tương quan với kích thước ổ nhồi máu
1.1.4 Các phương pháp điều trị suy tim sau nhồi máu cơ tim hiện nay
1.1.4.1 Các biện pháp tái tưới máu mạch vành
Điều trị tái tưới máu sớm là một yếu tố quan trọng để làm giảm vùng
cơ tim tổn thương và hoại tử, giúp cơ tim phục hồi và hạn chế được tình trạng tái cấu trúc tâm thất trong cả hai pha sớm và muộn Điều trị tiêu huyết khối và can thiệp động mạch vành ngay thì đầu đã tạo nhiều cơ hội để mở thông những động mạch vành bị tắc cấp tính và khôi phục lại dòng chảy bình thường tới vùng cơ tim bị tổn thương Tái tưới máu được coi là thành công khi đã tưới máu đầy đủ tới được tận mạng lưới vi mạch, điều này thể hiện trên phim chụp mạch là hình ảnh TIMI 3 với mức độ TMP 3
Trang 9Tiêu huyết khối là phương pháp tái tưới mỏu cú ưu điểm do có thể khôi phục dòng chảy sớm nhờ dùng thuốc đường tĩnh mạch đơn giản và nhanh chóng Tuy nhiên, không đến 1/3 số bệnh nhân phù hợp với các chỉ định dùng thuốc Kết quả của điều trị cũng không triệt để, chỉ <50% các động mạch thủ phạm được mở thụng cú dòng chảy đạt mức TIMI 3, chưa kể tới hơn 1/3 các động mạch trong số đó vẫn còn hẹp nhiều, lâu dần sẽ tắc lại
Trong những năm gần đây, việc mở thụng cỏc động mạch vành bị tắc cấp tính để khôi phục lại dòng chảy bình thường tới vùng cơ tim bị tổn thương đã được công nhận là phương pháp điều trị NMCT cấp hiệu quả nhất Trong đó, can thiệp động mạch vành thì đầu là chiến lược điều trị được lựa chọn với nhiều ưu điểm hơn hẳn so với tiêu sợi huyết như khôi phục tốt dòng chảy, tỷ lệ nhồi máu tái phát thấp hơn, tỷ lệ biến chứng chảy máu cũng như tỷ
lệ tử vong thấp hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn Ngày nay, nhờ có sự ra đời của các dụng cụ hút huyết khối và các thiết bị bảo vệ đoạn xa, các cục huyết khối và các mảnh xơ vữa nhỏ có khả năng gây nghẽn mạch có thể bị loại bỏ, cho phép đảm bảo dòng chảy ở tận mức vi mạch
Phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành là một trong những phương pháp điều trị kinh điển trong điều trị động mạch vành Phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành cấp cứu ngày nay gần như đã được thay thế bởi các phương pháp như tiêu huyết khối, can thiệp động mạch vành thì đầu Hiện thường chỉ định phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành có chuẩn bị cho những trường hợp tổn thương nặng thân chung, tổn thương nhiều thân, phức tạp không phù hợp cho can thiệp hoặc cú cỏc biến chứng cơ học kèm theo
1.1.4.2 Điều trị suy tim sau nhồi máu cơ tim
Tắc động mạch vành sẽ khởi phát nhiều cơ chế tái cấu trúc ngay từ những giờ đầu sau NMCT Cho dù các biện pháp tái tưới mỏu giỳp nhanh
Trang 10chóng thiết lập lại dòng chảy tới vùng cơ tim bị tổn thương nhưng hiện tượng tái cấu trúc vẫn xảy ra Như vậy, tái tưới máu kịp thời ở động mạch thủ phạm gây nhồi máu chưa đủ để ngăn chặn quá trình tái cấu trúc có hại của cơ thất đối với phần lớn bệnh nhân và cần dùng thuốc tiếp theo để hạn chế quá trình này
Ức chế men chuyển là thuốc có tác dụng bảo vệ đối với nội mạc mạch máu và phòng bệnh thứ phát Thuốc có hiệu quả tác động lên tất cả các giai đoạn của quá trình tái cấu trúc thất Để đạt được hiệu quả tối ưu, nờn dựng thuốc ức chế men chuyển sớm sau NMCT và tiếp tục duy trì để ngăn ngừa sự tái cấu trúc muộn Với cùng cơ chế đú, cỏc thuốc ức chế thụ thể angiotensin II cũng được chứng minh có tác dụng giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng ở các bệnh nhân suy tim sau NMCT [10]
Mặc dù cơ chế tác dụng của thuốc chẹn thụ thể beta lên quá trình tái cấu trúc thất trái sau nhồi máu vẫn chưa được sáng tỏ, nhưng các số liệu ban đầu cho thấy carvedilol có thể làm chậm quá trình tái cấu trúc và làm giảm rõ rệt các biến cố tim mạch lớn ở các bệnh nhân suy tim sau NMCT [16] Trong các trường hợp suy tim mạn tính do thiếu máu cơ tim, chẹn beta có thể hạn chế thậm chí đảo ngược quá trình tái cấu trúc khi dựng cựng ức chế men chuyển và các thuốc điều trị chuẩn khác
Cho đến nay, dù có nhiều tiến bộ trong điều trị bệnh tim thiếu máu cục
bộ nhưng tiên lượng của những bệnh nhân suy tim nặng do thiếu máu cơ tim vẫn rất tồi Tỷ lệ tử vong hàng năm của các bệnh nhân được điều trị bằng chẹn beta, ức chế men chuyển angiotensin và ức chế thụ thể aldosterone vẫn luôn vượt quá 10% Việc cấy máy phá rung tự động giúp giảm 30 - 54% nguy
cơ tử vong ở các bệnh nhân suy tim sau NMCT nhưng lại làm tăng tỷ lệ tái nhập viện do suy tim tiến triển [19] Tái đồng bộ tim cũng là một lựa chọn tốt
Trang 11cho điều trị các bệnh nhân suy tim nặng có chức năng tâm thu giảm nhiều Tuy nhiên, rất ít bệnh nhân có thể thỏa mãn các tiêu chuẩn để có thể chỉ định cho phương pháp này [30] Con đường điều trị cuối cùng của các bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối vẫn là phẫu thuật ghép tim Tuy nhiên, ngay cả ở những nước rất phát triển trong lĩnh vực ghép tạng như Hoa Kỳ, tỷ lệ người bệnh được áp dụng biện pháp này cũng chỉ khoảng 2% mỗi năm
1.1.5 Tế bào gốc và ứng dụng trong điều trị suy tim sau nhồi máu cơ tim 1.1.5.1 Khái niệm tế bào gốc
Trong cơ thể, các tế bào luôn trải qua quá trình nhân đôi, từ một tế bào thành hai tế bào giống hệt nhau và giống tế bào ban đầu để đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể Biệt hóa là một quá trình phức tạp để tạo thành các quần thể tế bào mới có thể có cấu trúc khác hẳn so với tế bào ban đầu, giúp cho tế bào đảm nhận những nhiệm vụ chuyên biệt Song song với quá trình biệt húa, cú sự “tắt đi” của các gen không phục vụ cho tế bào đã biệt hóa hoạt động Số lượng gen bị “tắt” tỷ lệ thuận với mức độ biệt hóa của tế bào Thông thường, những tế bào đã biệt hóa sẽ không có khả năng quay trở lại thành tế bào nguồn ban đầu cũng như không có khả năng chuyển sang con đường biệt húa khỏc để trở thành một loại tế bào khác
Tế bào gốc (stem cell) là những tế bào đặc biệt, được đặc trưng bởi 2 khả năng, đó là khả năng tự đổi mới và biệt hóa thành nhiều dòng tế bào chuyên biệt khác nhau để thay thế cho các tế bào đã chết do quá trình “già” đi một cách tự nhiên hay do các yếu tố sang chấn Các tế bào này nằm rải rác ở khắp cỏc mụ, cơ quan trong cơ thể, đều đặn tăng sinh và biệt hóa, cung cấp nguồn tế bào mới để tái tạo mô và giữ cơ thể luôn trong trạng thái cân bằng Sự quyết định hướng phát triển và biệt hóa của một dòng tế bào phụ thuộc vào các yếu tố kích thích sinh trưởng do mô, cơ quan đó tiết ra (các hormon tại chỗ)
Trang 12Hình 1.1 Tế bào gốc thai chuột nhìn dưới kính hiển vi huỳnh quang
Hiện nay, có 3 loại tế bào gốc được nghiên cứu nhiều nhất trong các thử nghiệm lâm sàng trên người và động vật, gồm:
- Tế bào gốc phôi (embryonic stem cell): lấy từ gan của phôi 8 - 12 tuần tuổi Các tế bào này có đặc điểm rất “non” về mức độ biệt húa nờn cú tiềm năng biến đổi thành cỏc dũng tế bào chuyên biệt cao nhất, khả năng phân chia lớn nhất, nhưng có hai nhược điểm chính của dòng tế bào này là khả năng sinh u quái và vấn đề đạo đức
- Tế bào gốc ở rau thai: lấy từ máu cuống rốn (embilical cord blood stem cell) sau đó được phân lập, tách chiết hoặc lấy từ màng dây rốn (embilical cord lining stem cell) Các tế bào này cũng có khả năng tồn tại và biệt hóa cao, dễ thu nhận mà không gây ra các vấn đề về đạo đức Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã xây dựng các ngân hàng lưu trữ và bảo quản tế bào gốc từ rau thai để cung cấp cho việc điều trị
- Tế bào gốc ở người trưởng thành (adult stem cell): có mặt tại nhiều mô,
cơ quan khác nhau như da, cơ xương, tủy xương, máu ngoại vi Việc thu thập
Trang 13tế bào thường gặp khó khăn hơn do số lượng tế bào gốc tại mỗi mô không nhiều, thường phải dựng cỏc thuốc kích thích tăng sinh trước khi lấy bệnh phẩm Tuy nhiên, sử dụng nguồn tế bào gốc tự thân này sẽ tránh được các vấn
đề như thải ghép, khả năng sinh u quái và các rào cản về đạo đức
1.1.5.2 Ứng dụng tế bào gốc trong điều trị suy tim sau nhồi máu cơ tim
Quan điểm truyền thống xem các tế bào cơ tim như những tế bào trưởng thành, không còn khả năng phân chia hay biệt hóa, nếu đã hoại tử thì chỉ còn lại mô xơ sẹo không còn chức năng Tuy nhiên, thực tế lâm sàng gặp không ít trường hợp bệnh nhân vẫn duy trì được cơ năng thậm chí phục hồi một phần cho dù NMCT rộng, suy tim nặng hoặc bệnh ĐMV lan tỏa nhờ cơ chế thích nghi nội sinh của cơ thể
Năm 2001, Goldman và cộng sự đã thông báo những bằng chứng đầu tiên về sự có mặt của các tế bào nguồn sinh máu tại mô cơ tim ở 4 trường hợp
bị NMCT cấp mà không có bằng chứng của các bệnh máu ác tính hay các bệnh lý toàn thân khỏc Cựng năm đó, Orlic và cộng sự đã sử dụng tế bào gốc tủy xương để tiêm vào vùng cơ tim chuột bị hoại tử do nhồi máu đã cho thấy
có sự biệt hóa của các tế bào được tiêm vào thành các tế bào cơ tim và tạo thành các cấu trúc vi mạch, giảm bớt diện nhồi máu, giảm tình trạng giãn thành tim và cải thiện chức năng tim sau 27 ngày [33] Những kết quả ban đầu này đã mở ra một hướng mới trong điều trị các bệnh tim do thiếu máu
Trang 14Hình 1.2 Thử nghiệm tiêm tế bào gốc vào cơ tim chuột được gây nhồi máu
cơ tim cấp (cỏc vựng có mũi tên chỉ vị trí tiêm tế bào gốc cho thấy
có sự phát triển làm mô dày hơn, giảm bớt diện tích mô sẹo)
Hầu như rất ít nghiên cứu sử dụng dòng tế bào gốc riêng biệt, mà đa số
sử dụng nguồn tế bào gốc không chọn lọc từ tủy xương Trong đó, chứa sẵn nhiều dòng tế bào chưa biệt hóa như tế bào máu gốc, tế bào nội mạc mạch non và tế bào trung mô gốc, do khả năng lấy tủy dễ dàng, không cần những thiết bị đắt tiền, phức tạp để sử dụng trên lâm sàng
Tế bào gốc tủy xương [4] (bone marrow derived stem cell) rất đa dạng,
có thể phân loại thành hai nhóm lớn (dòng tế bào máu và dòng tế bào trung mô) dựa vào các chỉ điểm trên bề mặt tế bào như: CD34 hay CD45 Những chỉ điểm khỏc trờn bề mặt tế bào như: CD117, CD133, Sca-1 và Stro-1 cũng được áp dụng để phân loại nguồn tế bào này thành cỏc nhúm nhỏ hơn
Tế bào gốc từ tủy xương rất phù hợp để cấy vào cơ tim nhờ khả năng phát triển theo nhiều kiểu khác nhau (theo đường trung mô) để hình thành tế bào cơ trơn, cơ tim, mạch máu non (angioblast) - vốn là ba loại tế bào chủ
Trang 15chốt của tim Nhiều thực nghiệm chứng tỏ, các tế bào gốc từ tủy xương như
tế bào tạo máu gốc, tế bào nội mạc mạch non, tế bào đơn nhân và các tế bào trung mô gốc, đều có khả năng biệt hóa thành tế bào cơ tim và nội mạc sau khi cấy vào tim, từ đó tái sinh phần mô nhồi máu đã bị hoại tử và thiếu mạch máu nuôi dưỡng Khả năng tái sinh mô có thể đạt tới 68% vùng cơ tim nhồi máu sau 9 ngày ở chuột thí nghiệm gây NMCT cấp được cấy dòng
tế bào máu gốc
Tế bào gốc từ tủy xương cũng rất phù hợp để ứng dụng trong lâm sàng do: khả năng tách trực tiếp từ dịch chọc tủy hoặc thu thập từ máu ngoại vi truyền hoàn hồi đều dễ dàng, mức độ tăng sinh cao trong môi trường nuôi, đặc tính sinh lý - hóa sinh có thể xác định chi tiết trước khi đem cấy…
Dựa vào những kết quả hấp dẫn trên động vật, một số thử nghiệm đã được tiến hành để kiểm tra tính khả thi và an toàn của việc truyền tế bào gốc cho bệnh nhân NMCT cấp Tất cả các thử nghiệm đều chọn đối tượng là bệnh nhân NMCT cấp, được can thiệp động mạch vành và đặt stent thì đầu để tái lưu thông ĐMV gây nhồi máu, sau đó tế bào gốc được truyền qua động mạch vành Bảng 1.1 tổng kết các thử nghiệm đã làm và được phân loại trên cơ sở dòng tế bào gốc được cấy
Trang 16Bảng 1.1 Các nghiên cứu sử dụng tế bào gốc ở bệnh nhân sau NMCT
Tác giả Số bệnh nhân bào gốc Loại tế Đường cấy
Sau NMCT (ngày)
Kết quả (nhóm cấy TB
gốc) Cải thiện thay đổi Không
Strauer [45] 10 cấy
10 chứng MNC ĐMV 5-9
RWM, tưới máu,kích thước ổ NM
LVEF, LVEDV
RWM, tưới máu, kích thước ổ NM, LVEF
LVEDV, kích thước ổ
NM
Chen [14] 34 cấy
35 chứng MSC ĐMV 18
RWM, kích thước ổ NM, LVEF, LVEDV
Vanderheyden [48] 12 cấy
10 chứng CD133 ĐMV 14±6
RWM, LVEF, tưới máu REPAIR - AMI
LVEF: phân số tống máu thất trái; RWM: vận động vùng; LVEDV: thể tích cuối tâm trương thất trái; ổ NM: ổ nhồi máu; MNC: tế bào tủy xương gốc đơn nhân; CPC: tế bào nội mạc non trong máu; NC: tế bào tủy xương gốc có nhân; MSC: tế bào trung mô gốc
Trang 17Hiện nay, theo các nghiên cứu đang thử nghiệm có 3 con đường nhằm đưa tế bào gốc đến mụ đớch thường được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm truyền tế bào gốc qua tĩnh mạch ngoại vi đồng thời dựng cỏc yếu tố hóa ứng động đặc hiệu (hiệu quả không cao) Tiêm trực tiếp tế bào gốc vào vùng sẹo nhồi máu (thường áp dụng trong khi phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành) và truyền tế bào gốc qua ống thông vào động mạch vành qua da (hình 1.3)
Hình 1.3 Hai con đường thường được sử dụng để đưa tế bào gốc vào mụ đớch
1.1.6 Các phương pháp đánh giá chức năng thất trái
1.1.6.1 Chụp buồng thất trỏi cú bơm thuốc cản quang
Cho đến nay, chụp buồng thất trái có bơm thuốc cản quang vẫn là một phương pháp kinh điển để đánh giá chức năng tõm thu toàn bộ của thất trái Thông số thường được sử dụng là phõn số tống mỏu (EF) Phõn số tống mỏu được tớnh dựa trên cơ sở so sánh thể tích thất trái cuối tõm trương với thể tích thất trái cuối tõm thu theo công thức sau:
Trang 18Trong đó:
Vd: thể tích thất trái cuối tõm trương
Vs: thể tích thất trái cuối tõm thu
Để tớnh thể tích buồng thất trái, có nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có hai phương pháp phổ biến nhất là phương pháp Dodge và phương pháp Simpson
Phương pháp Dodge:
Nếu coi thất trái là một khối cầu hình elip thì thể tích thất trái có thể tớnh theo công thức:
V = 4/3π a/2 b/2 L/2
L: trục dài, đo từ mỏm tim đến vòng van động mạch chủ
a, b: trục ngắn đo trờn cỏc hỡnh chụp chếch phải và chếch trái
Nếu dựa theo diện tích của hai thiết diện chụp nghiêng phải (AOAD) và nghiêng trái (AOAG) thì:
a = AOAD/ πL và b = 4 AOAG/ πL (Hai diện tích này có thể thu được bằng cách vẽ đường viền nội mạc buồng thất bằng tay hoặc vẽ tự động nhờ chương trình vi tớnh lập sẵn)
Như vậy, công thức trên sẽ có dạng:
Vd - Vs
EF =
Vd
Trang 19A: diện tích thiết diện L: đường kính trục dọc của thiết diện
Nếu việc tớnh toán chỉ dựa vào một mặt cắt thì hai đường kớnh a, b được coi như bằng nhau, và công thức là:
V = 8 A2 / 3π L
Phương pháp Simpson:
Phương pháp này dựa trên nguyên lý Simpson: có thể tớnh được thể tích hình khối bằng cách chia trục dài thành nhiều khối có bề dày bằng nhau Thể tích mỗi khối nhỏ được tớnh dựa trên diện tích bề mặt và bề dày của khối Thể tích của cả khối bằng tổng thể tích của các khối nhỏ Càng chia nhỏ, thể tích của khối càng chớnh xác Hiện nay, cách công thức tớnh đều mặc định chia thành 20 khối nhỏ
Như vậy, công thức tớnh thể tích theo phương pháp này sẽ là:
V = Σ (h π D2 / 4) h: bề dày mỗi mảnh = kích thước trục dài / số mảnh
D: đường kớnh của mảnh
Nhược điểm của phương pháp chụp buồng thất trái:
Tuy chụp buồng thất trái có tiêm thuốc cản quang sẽ cung cấp các thông số có độ chớnh xác cao nhưng đõy là một phương pháp thăm dò gõy chảy mỏu, có thể có các biến chứng nguy hiểm, khó có thể thực hiện lặp lại nhiều lần Mặt khác, phương pháp này đòi hỏi trang bị máy móc hiện đại đắt tiền cùng với một đội ngũ nhõn viên được đào tạo chuyên nghiệp nên không
8 AOAD AOAG
V =
3π x L
Trang 20phải cơ sở nào cũng có thể triển khai được Vì vậy, chụp buồng thất trái có tiêm thuốc cản quang không phải là phương pháp được chỉ định thường quy
để đánh giá chức năng thất trái trong chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch
1.1.6.2 Siêu âm tim
* Siêu âm tim một bình diện (time motion - TM )
Những thông số thu được trên siêu õm TM gồm:
- Biên độ vận động của vách liên thất và thành sau thất trái
- Bề dày vách liên thất cuối tõm trương và tõm thu
- Bề dày thành sau thất trái cuối tõm trương và tõm thu
- Đường kớnh thất trái cuối tõm trương (Dd) và cuối tõm thu (Ds)
Từ đó, ta có thể tớnh được:
- Chỉ số co ngắn sợi cơ (%D)
- Thể tích thất trái cuối tõm trương (Vd)
- Thể tích thất trái cuối tõm thu (Vs)
4 , 2
7 3
V: thể tích thất trái d: đường kớnh thất trái
Trang 21loạn vận động vùng khu trú thì kết quả đo được sẽ không phản ánh chính xác
khả năng co bóp của toàn bộ quả tim
* Siêu âm tim hai bình diện (2D)
Do có thể cắt ở nhiều mặt cắt khác nhau nên siêu âm 2D cho phép đánh giá toàn bộ các thành tim trái và vận động của từng vùng thất trái Về phương diện thăm dò chức năng tim và huyết động, siêu âm 2D đánh giá được chức năng tâm thu thất trái và các thông số huyết động Phương pháp được coi là chính xác và hay sử dụng nhất là phương pháp Simpson Việc đo đạc thường được tiến hành trờn cỏc mặt cắt 4 buồng, 2 buồng hoặc phối hợp mặt cắt 2 buồng với mặt cắt trục ngắn cạnh ức trái hay 4 buồng với 2 buồng
Theo phương pháp Simpson, thể tích thất trái (V) được coi là tổng thể tích của 20 hình khối (19 hình khối trụ và 1 hình nón) Các hình khối này thu được bằng cách cắt vuông góc với trục dài của buồng thất thành 20 đoạn có độ dài bằng nhau, độ dài của mỗi đoạn chính là chiều dày của khối trụ (h = L/ 20)
và đường kính buồng thất = đường kính của khối (D)
V = Σ (h π D2 / 4) Siêu âm 2D còn cho phép đánh giá vận động của các thành tim Để khảo sát được toàn bộ các thành tim, cần quan sát trên nhiều mặt cắt khác nhau, ít nhất là trên 4 mặt cắt chính (trục dọc cạnh ức trái, trục ngắn cạnh ức trái, 4 buồng và 2 buồng từ mỏm) Rối loạn vận động vùng được đánh giá dựa trên độ di động vào trong của thành tim và độ dày lên của thành tim trong thì tâm thu Để đánh giá vận động các thành tim khách quan và chính xác hơn, hiện nay thường áp dụng cách chia thất trái thành 16 vùng và cho điểm vận động theo khuyến cáo của Hội siêu âm Hoa Kỳ, từ đó tính được chỉ số vận
Trang 22động vùng Chỉ số này cho phép ước lượng mức độ và phạm vi của vùng bị nhồi máu
Ngoài ra, siêu âm 2D cũn giỳp phát hiện các biến chứng của NMCT như phình thành tim, thủng vỏch liờn thất, hở van hai lá, huyết khối trong buồng tim và tràn dịch màng tim
* Siêu âm Doppler
Trên siêu õm Doppler tim, chức năng tõm thu thất trái toàn bộ được đánh giá qua các thông số cung lượng tim (CO) qua van động mạch chủ, vận tốc tối
đa (Vmax) và tớch phõn dòng chảy (VTi) qua van động mạch chủ:
- Thời gian tiền tống máu (Tttm): là thời gian từ chõn súng R trên điện tâm đồ đến điểm bắt đầu của dòng tống máu vào động mạch chủ (bình thường: 75,5 ± 13,3 ms) Khi chức năng tâm thu thất trái giảm thì chỉ số này thường tăng
- Thời gian tống mỏu (Ttm): là thời gian từ điểm đầu đến điểm cuối của tống mỏu vào động mạch chủ (bình thường: 303,3 ± 26,5 ms) Khi chức năng tõm thu thất trái giảm thì chỉ số này giảm
- Phõn số huyết động (Tttm/Ttm): bình thường 0,25 ± 0,05 Khi chức năng tõm thu thất trái giảm thì chỉ số này tăng lên
- Cung lượng tim (CO):
CO = VTiđmc x (d/2)² x x f
Trong đó:
VTi: tích phõn vận tốc dòng chảy theo thời gian
d: đường kớnh đường ra thất trái
f: tần số tim
Trang 23- VTi được đo bằng Doppler liên tục (trừ trường hợp hẹp van động mạch chủ)
- Các nghiên cứu cho thấy nếu Vmax > 0,66 m/s và Vti > 12,6 cm thường
có tiên lượng tốt (độ nhạy 49%, độ đặc hiệu 86%, giá trị tiên lượng dương tớnh 91%)
- Nghiên cứu cho thấy giảm chức năng tõm trương thất trái trên siêu õm Doppler xuất hiện ngay giờ đầu sau NMCT với dấu hiệu giảm vận tốc sóng E và sóng A, tăng chỉ số tõm thu/ tõm trương của phổ Doppler dòng chảy tĩnh mạch phổi, kéo dài thời gian gión đồng thể tớch mặc dù chưa có
sự thay đổi về hình thái Sau 3 tuần thấy tăng chỉ số E/A, giảm chỉ số tõm thu/ tõm trương của phổ Doppler dòng chảy tĩnh mạch phổi kốm theo tăng diện tích nhĩ trái
- Các nghiên cứu về chức năng tõm trương thất trái qua dòng chảy van hai
lá đều cho thấy rút ngắn thời gian đổ đầy chậm (DT ≤ 140 ms) là dấu hiệu quan trọng tiên lượng tử vong, tái nhập viện do suy tim do NMCT, tiên lượng tình trạng tái cấu trúc cơ tim sau NMCT, tiên lượng gión thất trái muộn ở bệnh nhõn NMCT đã tái tưới mỏu thành công [22]
- Chỉ số chức năng cơ tim (Index of myocardial Performance - IMP hay Tei - index) là chỉ số kết hợp giữa thời gian tõm thu và thời gian tõm trương của thất trái cũng tăng lên rừ rệt ở các bệnh nhõn NMCT Nghiên cứu cho thấy chỉ số này ≥ 0,6 và rút ngắn thời gian đổ đầy thất chậm (DT ≤ 140 ms) là các yếu tố tiên lượng có ý nghĩa trong NMCT [17] [40] Chỉ số này được tớnh bằng tỷ lệ giữa tổng của thời gian gión đồng thể tích và thời gian co đồng thể tích so với thời gian tống mỏu thất trái Chỉ số Tei được đo dựa vào dòng chảy qua van hai lá và van động mạch chủ:
Trang 24Tei - index = (A – B)/B = (ICT + IRT)/ET
ICT: thời gian co đồng thể tích
IRT: thời gian giãn đồng thể tích
ET: thời gian tống máu thất trái
Sơ đồ cách tớnh chỉ số Tei:
1.1.6.3 Chụp cắt lớp đa dãy tim (MSCT)
Chụp cắt lớp đa dãy tim là phương pháp chẩn đoán hình ảnh khá chớnh xác để đánh giá chức năng thất trái Ưu điểm của phương pháp này là thăm dò không chảy máu, không phụ thuộc vào hình thái buồng tim và trình độ của người chụp, cho phép dựng lại hình ảnh buồng thất trái trong không gian 3 chiều với chuyển động thực Từ đó, cho phép đánh giá tương đối khách quan
sự biến đổi mức độ vận động của cỏc vựng cơ tim Chụp MSCT đánh giá chức năng thất trái cho kết quả chính xác cao khi so sánh với phương pháp chụp buồng thất trái qua da cũng như so với xạ hình buồng thất trái và có thể lặp lại nhiều lần
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên 6 bệnh nhõn được điều trị tại Viện Tim mạch Quốc gia với chẩn đoán suy tim do NMCT cấp trong khoảng thời gian từ tháng 7/2007 đến tháng 7/2008
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Tất cả các bệnh nhõn thỏa món các tiêu chuẩn sau:
Nhập viện với chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp (theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế thế giới năm 1971 [10]) trong khoảng thời gian
< 12 giờ kể từ thời điểm khởi phát bệnh hoặc sau 12 giờ nhưng bệnh nhân vẫn còn đau ngực cần phải can thiệp ĐMV Tiêu chuẩn này bao gồm phải có ít nhất 2 trong 3 dữ kiện: 1- đau ngực điển hình kiểu động mạch vành; 2- có thay đổi trên điện tim đồ điển hình (ST chờnh lờn và/hoặc sóng Q bệnh lí) và 3- có thay đổi động học men tim (CK - MB hoặc Troponin T)
Động mạch thủ phạm gây ra nhồi máu cơ tim cấp là động mạch liên thất trước đoạn I hoặc II
Được điều trị nội khoa và can thiệp động mạch vành thủ phạm (nong và đặt stent) với kết quả từ TIMI II trở lên
Chức năng tim giảm sau can thiệp (EF đo theo phương pháp Simpson trong khoảng 30 - 40%)
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Trang 262.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Có biến chứng cơ học do nhồi mỏu cơ tim
Đã từng bị nhồi mỏu cơ tim cấp trước đó
Những bệnh nhõn không thể thực hiện theo dừi tiếp theo
Chức năng tim EF < 30% hoặc > 40%
Sốc tim hoặc NYHA IV trước khi được lựa chọn
Không tuõn thủ điều trị chuẩn sau đó
Kốm theo tổn thương nặng động mạch vành phải hoặc động mạch mũ (hẹp > 75% hoặc tắc mạn tớnh) và/ hoặc tổn thương thõn chung (hẹp từ 50% trở lên) hoặc chỉ tổn thương đoạn III động mạch liên thất trước
Thiếu mỏu nặng (hemoglobin < 90 g/L)
Cú các bệnh lý mạn tính khác kèm theo (bệnh gan, thận, hô hấp, ung thư )
Có bệnh van tim nặng kốm theo
Tuổi ≥ 70
Các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu và không
có trong tiêu chuẩn loại trừ sẽ được giải thích đầy đủ về mục tiêu và tiến trình nghiên cứu, những người đồng ý tham gia vào nghiên cứu đều ký vào bản cam kết tham gia nghiờn cứu (phụ lục A) và được lập danh sách theo trình tự nhập viện
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp
Trang 272.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu
- Lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu (theo tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đã trình bày ở trên)
- Thăm khám lâm sàng tỉ mỉ theo mẫu bệnh án
- Làm các xét nghiệm cận lâm sàng đánh giá (xét nghiệm cơ bản về sinh húa mỏu, công thức máu, xét nghiệm miễn dịch…)
- Thăm khám siêu âm tim đánh giá chức năng thất trái theo phương pháp Simpson
- Lấy tủy xương và tách lọc theo yêu cầu tại khoa Huyết học, Bệnh viện 108
- Bệnh nhân được chụp lại buồng tim qua đường ống thông đánh giá chức năng thất trái
- Đồng thời tiến hành ghép (bơm dung dịch tế bào gốc đã được tách lọc) vào động mạch vành (động mạch liên thất trước) chi phối vùng nhồi máu
cơ tim
- Theo dõi bệnh nhân theo trình tự thời gian: trong bệnh viện, sau 30 ngày, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm
- Theo trình tự thời gian, bệnh nhân được thăm khám lâm sàng, làm siêu
âm tim tại tất cả các thời điểm, chụp MSCT đánh giá chức năng thất trái trước
và sau 6 tháng - 1 năm, chụp buồng thất trái trước và sau 6 tháng - 1 năm
Mọi bệnh nhõn đều được lập bệnh án nghiên cứu theo mẫu có sẵn
trước khi ra viện và qua mỗi lần theo dừi định kỳ (phụ lục B)
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
Hồi cứu, bệnh án trong thời gian 07/2007 - 07/2008
Trang 282.2.4.2 Chuẩn bị hỗn hợp tế bào gốc tự thân từ tủy xương
a Thu tế bào gốc từ tủy xương
- Vào ngày thứ 3 - 5 sau khi người bệnh bị NMCT đã được can thiệp đặt stent động mạch vành thủ phạm thì đầu, bệnh nhân được đánh giá lại toàn trạng trước khi tiến hành thủ thuật
- Phối hợp và thống nhất quy trình thực hiện giữa nhúm bỏc sỹ gây mê, bác sỹ hồi sức tim mạch và bác sỹ chuyên khoa huyết học tiến hành chọc hút tủy xương tại phòng mổ Bệnh viện Bạch Mai
- Bệnh nhân được gây tê tủy sống tại vị trí khe gian đốt sống L3 - L4
- Khi đã đảm bảo vô cảm đầy đủ, tiến hành chọc hút lấy 200ml tủy xương ở vị trí mào chậu sau trên 2 bên Quy trình được đảm bảo vô khuẩn tuyệt đối
- Kết thúc thủ thuật, người bệnh được theo dõi sát toàn trạng, các chỉ số sinh tồn, tình trạng chảy máu vết chọc và khả năng vận động chi dưới cho tới khi hoàn toàn hết tác dụng của thuốc tê (trung bình 2 - 3 giờ).
Trang 29Hình 2.1 Sơ đồ lấy dịch tủy xương để tách lọc tế bào gốc
b Tách, lọc tế bào gốc từ tủy xương
- Hỗn hợp tế bào gốc từ tủy xương thu được sẽ được xử lý theo quy trình kín tại khoa Huyết học Bệnh viện 108
c Bảo quản hỗn hợp tế bào gốc
- Sau khi đó tỏch lọc, hỗn hợp tế bào gốc được lưu trữ ở điều kiện lạnh
2oC trong vòng tối đa 24 giờ
- Trước khi thực hiện tiêm trở lại động mạch vành, trong vòng 2 giờ, hỗn hợp này được đánh giá lại chất lượng tế bào (tỷ lệ tế bào sống/tổng số tế bào) trước khi tạo thành 10 ml hỗn hợp cô đặc (nồng độ 1.5 x 108
) để vận chuyển trở lại phòng thủ thuật tiêm tế bào gốc vào ĐMV Trong quá trình vận chuyển, hỗn hợp này được lưu trữ ở điều kiện lạnh 4 - 8o
C
Trang 302.2.4.3 Đưa hỗn hợp tế bào gốc tự thân từ tủy xương trở lại động mạch vành thủ phạm
a Chuẩn bị bệnh nhân
- Các bước chuẩn bị tương tự như với một trường hợp trước can thiệp động mạch vành có kế hoạch (đánh giá tình trạng cơ năng, chức năng thận, các thuốc đang sử dụng…)
- Tiến hành chụp kiểm tra tình trạng tưới máu ĐMV, chụp buồng thất trái đánh giá chức năng thất trái
b Tiêm tế bào gốc trở lại ĐMV thủ phạm
- Địa điểm tại phũng thông tim chụp mạch Viện Tim mạch Quốc gia
- 10 ml hỗn hợp tế bào gốc tự thân từ tủy xương được tiêm trở lại lòng ĐMV thủ phạm trong 3 lần bằng bóng over the wire, mỗi lần bơm bóng kéo dài 3 phút đồng thời với tiêm tế bào gốc, xen kẽ với 3 phút xả bóng để đảm bảo tưới máu mạch vành
Hình 2.2 Trong phòng Cath Lab tại Viện Tim mạch, nơi thực hiện ghộp
(tiờm) tế bào gốc vào động mạch vành của người bệnh qua đường
ống thông
Trang 31Hình 2.3 Sơ đồ cỏch tiờm tế bào gốc trong lòng động mạch vành, nhánh
chi phối vùng tổn thương cơ tim do nhồi máu 2.2.4.4 Theo dõi trong và sau tiêm tế bào gốc vào động mạch vành
a Theo dõi trong quá trình tiêm tế bào gốc vào ĐMV
- Trong quá trình tiêm tế bào gốc, người bệnh phải được theo dõi sát về các chỉ số sinh tồn, tính chất cơn đau ngực và hình ảnh điện tâm đồ bề mặt trên monitor theo dõi liên tục
b Theo dõi sau khi kết thúc thủ thuật
- Sau khi tiêm tế bào gốc, cần theo dõi sát tính chất cơn đau, huyết động và động học các men như GOT, GPT, CK, CK-MB và Troponin 6 giờ/lần Ghi điện tâm đồ cho người bệnh mỗi 6 giờ hoặc nếu có cơn đau ngực
2.2.4.5 Điều trị sau tiêm tế bào gốc
Về cơ bản, phương pháp tiêm tế bào gốc vào ĐMV thủ phạm là một phương pháp điều trị phối hợp, không thay đổi phác đồ điều trị chuẩn Sau tiêm tế bào gốc, cần tiếp tục điều trị cho bệnh nhân theo phác đồ thông
Trang 32thường được thống nhất áp dụng cho các bệnh nhân NMCT đã được can thiệp ĐMV bằng phương pháp nong và đặt stent qua da
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được nhận điều trị theo quy trình chuẩn theo phác đồ khuyến cáo về điều trị NMCT của Hội Tim mạch Việt Nam ban hành tháng 11/2006 [1] Trong quá trình nằm viện, các đối tượng được làm các xét nghiệm thường quy như xét nghiệm máu, điện tâm đồ và siêu âm tim qua thành ngực
2.2.5 Các biến số nghiên cứu và thông tin cần thu thập
2.2.5.1 Thông số lâm sàng
- Tuổi
- Giới
- Yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch
+ Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá
2.2.5.2 Các thông số liên quan đến phương pháp ghép tế bào gốc
- Tỉ lệ thành công, thất bại, biến chứng
- Thông số liên quan tới biến cố tim mạch
+ Tử vong, suy tim, nhồi máu cơ tim mới, đột quỵ
2.2.5.3 Các thông số liên quan đến đánh giá chức năng thất trái
a Đánh giá trên lâm sàng triệu chứng cơ năng suy tim : độ NYHA
b Đánh giá chức năng thất trỏi trờn kết quả xét nghiệm Pro-BNP
c Đánh giá chức năng thất trái bằng phương pháp siêu âm tim
- Địa điểm: phòng siêu âm tim, Viện Tim mạch Quốc gia - Bệnh viện
Bạch Mai
- Máy siêu âm Doppler màu Phillip IE 33 có đầy đủ các chức năng thăm dò siêu âm hiện đại: siêu âm TM, siêu âm 2D, siêu âm Doppler xung, siêu âm Doppler liên tục và siêu âm Doppler mã hoá màu
Trang 33* Các thông số đo đạc và tính toán trên siêu âm tim
Trên siêu âm TM, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các thông số sau:
+ Đường kính thất trái cuối tâm trương (Dd)
+ Đường kính thất trái cuối tâm thu (Ds)
+ Phân số tống máu EF (đo bằng phương pháp Teichholz) Tuy nhiên, trong trường hợp NMCT, thông số này thường không chính xác mà chỉ có ý nghĩa tham khảo
Trên mặt cắt hai buồng tim với siêu âm hai chiều (2D), chúng tôi tiến hành nghiên cứu các thông số sau:
+ Thể tích thất trái cuối tâm trương (Vd)
+ Thể tích thất trái cuối tâm thu (Vs)
+ Phân số tống máu (EF): 2 buồng và 4 buồng tính bằng phương pháp Simpson Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cách tính toán phân số tống máu (EF) trên siêu âm 2D để đánh giá chức năng tâm thu thất trái
Đánh giá chỉ số vận động vùng theo 16 vùng (tiêu chuẩn của Hội siêu âm Hoa Kỳ)
Trên siêu âm Doppler chúng tôi tiến hành nghiên cứu các thông số sau:
+ Thời gian đổ đầy chậm (DT)
+ Tỉ lệ E/A
Hai thông số này để đánh giá chức năng tâm trương thất trái
+ Chỉ số chức năng cơ tim (Tei-index) đánh giá chức năng thất trái cả tâm thu và tâm trương
Trang 34Hình 2.4 Siêu õm Doppler tim đánh giá sau tiêm tế bào gốc
d Đánh giá chức năng thất trái bằng phương pháp chụp buồng thất trái qua đường ống thông
Địa điểm: phũng thông tim can thiệp, Viện Tim mạch Quốc gia - Bệnh
Trang 35Chúng tôi đánh giá chức năng thất trái qua các thông số sau:
+ Thể tích cuối tâm thu thất trái (ESV)
+ Thể tích cuối tâm trương thất trái (EDV)
+ Phân số tống máu
Hình 2.6 Hình ảnh chụp buồng thất trái một bệnh nhân sau tiêm tế bào gốc: hình bên trái là trước tiêm với chức năng co bóp của thất trái (EF) chi
là 37,6% và sau tiêm 3 tháng (bên phải) với EF là 60,0%
e Đánh giá chức năng thất trái bằng phương pháp chụp MSCT
Địa điểm: khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai
Máy chụp cắt lớp 64 dãy
Chúng tôi đánh giá chức năng thất trái qua các thông số sau:
+ Thể tích cuối tâm thu thất trái (ESV) + Thể tích cuối tâm trương thất trái (EDV) + Phân số tống máu
2.2.6 Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích theo từng trường hợp bệnh
2.2.7 So sánh kết quả điều trị dựa trên sự thay đổi các chỉ số nghiên cứu đã thu thập được
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả chung của nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu đó cú 6 bệnh nhõn được ghép tế bào gốc điều trị tại Viện tim mạch quốc gia Đặc điểm được mô tả trong bảng 3.1, bảng 3.2 và bảng 3.3
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của những bệnh nhân được ghép TBG
Trang 37Bảng 3.2 Đặc điểm yếu tố nguy cơ của các bệnh nhân
Rối loạn lipid máu
Trang 38Nhận xét:
Có 5/6 bệnh nhân có ít nhất 1 yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch Có 3/6 bệnh nhân có ≥ 2 yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch, có 1 bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ nào của bệnh tim mạch
Bảng 3.3 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ghép tế bào gốc
BN 1 BN 2 BN 3 BN 4 BN 5 BN 6
Trung bình
Thời gian được tái
tưới máu (giờ)
10
Nồng độ CK - MB
(lớn nhất) (U/L) 10 13 15 75 43 508 110.67 Nồng độ CK (U/L) 210 220 66 1415 755 4130 1132.67
Nhận xét:
Tất cả các bệnh nhân trước khi ghép tế bào gốc đều có phân loại suy tim NYHA III, các bệnh nhân được can thiệp PCI trước 24 giờ Thời gian trung bình được tái tưới máu của 6 bệnh nhân là 8.3 ± 1.8 giờ Nồng độ CK-MB trung bình là 110.67 U/L, nồng độ này lớn gấp 4.6 giá trị bình thường Nồng độ
CK trung bình là 1132.67 U/L, nồng độ này lớn gấp 7.7 giá trị bình thường
Trang 393.2 Kết quả của phương pháp ghép tế bào gốc ở bệnh nhân suy tim do nhồi máu cơ tim
3.2.1 Kết quả của phương pháp ghép tế bào gốc về mặt kỹ thuật
- Trong số 6 bệnh nhân được ghép tế bào gốc thì kỹ thuật thành công 100%
- Không gặp trường hợp nào xảy ra biến chứng nặng liên quan đến thủ thuật thu gom tế bào gốc hay tiêm tế bào gốc vào động mạch vành (0%)
- Thời gian trung bình lấy tế bào gốc là: 27 ± 17 phút ( 20 - 47 phút)
- Thời gian trung bình quy trình tiêm tế bào gốc lại động mạch vành của bệnh nhân là 37 ± 20 phút (25 - 61 phút)
- Tất cả 6 bệnh nhân đều được chụp buồng thất trái để đánh giá chức năng thất trái trước khi ghép tế bào gốc
- Cả 6 bệnh nhân đều được tiêm 10 ml thể tích tế bào gốc được cô đặc
- Thời gian trung bình được tiêm tế bào gốc sau khi can thiệp PCI thì đầu là 7.0 ± 3 ngày
Bảng 3.4 Kết quả theo dõi quá trình tiêm tế bào gốc
Thời gian tiêm tế bào gốc
Tổng thời gian bơm bóng
Chú thích: (-) không có
Trang 403.2.2 Về các thông số theo dõi sau thủ thuật
- Các thông số lâm sàng, cận lâm sàng cơ bản, siêu âm tim, chụp buồng tim được đánh giá theo đúng quy trình đề ra
- Thời gian nằm viện:
Tất cả các bệnh nhân đều dung nạp tốt, không có những biến cố trầm trọng nào liên quan đến thủ thuật
Tất cả bệnh nhân được ra viện với thời gian nằm viện trung bình:
9 ± 5 ngày (7 - 15)
3.2.3 Về các biến cố tim mạch chính sau can thiệp ghép tế bào gốc
Qua theo dõi, đánh giá các bệnh nhân trong thời gian nghiên cứu, đề tài ghi nhận
- Không có bệnh nhân nào tử vong sau 1 năm theo dõi
- Có 1 bệnh nhân phải nhập viện vì suy tim và kiểm soát đường huyết chưa tốt
- Không có bệnh nhân nào bị đột quỵ
- Không có bệnh nhân nào có rối loạn nhịp nặng nề ngay sau can thiệp cũng như theo dõi sau đó
Bảng 3.5 Các biến cố tim mạch chính sau 1 năm theo dõi ở bệnh nhân