1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính

73 795 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu nồng độ B type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Tác giả Phan Thanh Nhung
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thắng
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Y Học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

người ta đang quan tâm nhiều hơn đến sự thay đổi về nồng độ trong huyếttương của một số dấu marker sinh học ở bệnh nhân suy tim [28].Peptide lợi niệu týp B B – type natriuretic peptide l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ Nễệ̃I

- -PHAN THANH NHUNG

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ B-TYPE NATRIURETIC PEPTIDE HUYẾT TƯƠNG CỦA BỆNH NHÂN TRƯỞNG THÀNH

SUY TIM MẠN TÍNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

CHUYÊN NGÀNH: NỘI KHOA

Mã số: 60.72.20

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHẠM THẮNG

Hà nội, 2009

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả cuối cùng củanhững bất thường về cấu trúc và chức năng của quả tim gây suy giảm khảnăng nhận máu hoặc tống máu của một hoặc cả hai tâm thất Suy tim lànguyên nhân tử vong hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Tại Mỹ,khoảng 5 triệu bệnh nhân đang điều trị suy tim và mỗi năm có gần 500.000bệnh nhân suy tim mới mắc Hàng năm có khoảng 12 – 15 triệu lượt bệnhnhân chính thức đến khám vì suy tim và số ngày điều trị suy tim trong bệnhviện là 6,5 triệu ngày Theo thống kê 10 năm qua tại Mỹ, số bệnh nhân nhậpviện hàng năm do suy tim được chẩn đoán ngay khi nhập viện tăng từ550.000 tới gần 900.000 và từ 1,7 triệu đến 2,6 triệu đối với những bệnh nhânđược chẩn đoán suy tim sau khi đã nằm viện [11]

Suy tim cũng là bệnh lý hàng đầu ở người có tuổi Người ta ước tính có

từ 6 – 10 % nam giới hoặc nữ giới trên 65 tuổi bị suy tim Hơn 80% bệnhnhân suy tim nhập viện có tuổi đời trên 65 Suy tim không những là bệnh lýthường gặp nhất mà nó cũn chiếm vị trí hàng đầu trong ngõn sách chi tiêu củangành y tế [11]

Có nhiều cách phân loại suy tim nhưng gần đây người ta nói nhiều vềphân loại dựa theo chức năng tim Theo đó suy tim có hai loại, suy tim tâmthu và suy tim tâm trương Phân biệt hai hình thái suy tim nói trên chủ yếudựa vào phân số tống máu (EF) của thất trái đo trên siêu âm hai bình diện: vớisuy tim tâm thu, EF giảm dưới 45% Suy tim tâm thu vẫn là hình thái suy timthường gặp nhất, chiếm khoảng 70% các trường hợp suy tim nói chung [32]

Suy tim không chỉ là hậu quả của quá tải hay tổn thương cơ tim mà làcòn là hậu quả của những biến đổi về thần kinh – thể dịch Bên cạnh các thăm

dò về hình thái kinh điển trong chẩn đoán và theo dõi, tiên lượng, gần đây

Trang 3

người ta đang quan tâm nhiều hơn đến sự thay đổi về nồng độ trong huyếttương của một số dấu (marker) sinh học ở bệnh nhân suy tim [28].

Peptide lợi niệu týp B (B – type natriuretic peptide) là một dấu sinh học

có nồng độ trong huyết tương liên quan chặt chẽ với các triệu chứng lâm sàng

và tiên lượng của bệnh nhân suy tim Giá trị của Peptide lợi niệu týp B (BNP)trong chẩn đoán, theo dõi tiến triển của bệnh nhân suy tim cũng như tiênlượng bệnh đã được nhiều công trình nghiên cứu chứng minh, tuy nhiên chođến nay chúng tôi chưa tham khảo được công trình trong nước nào nêu bậtnhững đặc điểm về nồng độ BNP trong huyết tương của bệnh nhân suy timtâm thu mạn tính, về sự liên quan giữa BNP với một số triệu chứng lâm sàng

và cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim trong quá trình tiến triển của bệnh

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu, định lượng BNP trong huyếttương của những bệnh nhân suy tim tâm thu mạn tính trong thời gian điều trịsuy tim tại bệnh viện, so sánh với nồng độ BNP của những bệnh nhân không

có dấu hiệu suy tim trên lâm sàng và chức năng tâm thu thất trái nằm tronggiới hạn bình thường nhằm mục tiêu:

1 Tìm hiểu sự thay đổi của nồng độ BNP huyết tương ở bệnh nhân suy tim mãn tính.

2 Tìm hiểu sự liên quan giữa nồng độ BNP huyết tương với một số triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân trên.

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về suy tim

1.1.1 Định nghĩa

Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả của tổn thươngthực thể hay rối loạn chức năng quả tim dẫn đến tâm thất không đủ khả năngtiếp nhận máu (suy tim tâm trương) hoặc tống máu (suy tim tâm thu)

Biểu hiện lâm sàng chính của suy tim là mệt, khó thở và ứ dịch Mệt vàkhó thở sẽ dẫn đến không đủ khả năng gắng sức, dịch sẽ dẫn đến sung huyếtphổi và phù ngoại vi Tất cả các triệu chứng trên có thể không biểu hiện cựnglỳc trờn bệnh nhân Một số bệnh nhân có thể khó thở và mệt nhiều nhưng ớtphự ngoại vi, một số khác triệu chứng chủ yếu là phù [11]

1.1.2 Nguyên nhân

Suy tim có thể do:

Rối loạn khả năng co bóp của cơ tim do tổn thương cơ tim hoặc do rốiloạn nhịp tim

Quá gắng sức cho tim về áp lực và dung tích máu

Hoặc phối hợp cả hai trạng thái trên

Những nguyên nhân suy tim phổ biến của người lớn tuổi tại các nước pháttriển là bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim và tăng huyết áp, thường phối hợp vớibệnh đái tháo đường type II, có tổn thương các mạch máu nhỏ làm trầm trọngthêm các tổn thương cơ tim

Tổn thương cơ tim trong bệnh tăng huyết áp ở người có tuổi thườnggặp cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển

Các bệnh van tim ít gặp ở bệnh nhân tuổi cao, tuy nhiên vẫn có một sốbệnh nhân sống được đến tuổi già mặc dù có tổn thương van tim do bệnh thấp

Trang 5

đã được chẩn đoán khi còn trẻ Thường hay gặp là hẹp và hở van động mạch

do xơ hóa và vụi hóa cỏc lỏ van

Ít gặp suy tim do các bệnh nhiễm khuẩn hoặc siêu vi trùng, rối loạndinh dưỡng và bệnh cơ tim do rượu

Ở những người già suy tim có thể do loạn nhịp chậm hoặc loạn nhịpnhanh do giảm dự trữ chức năng Dạng loạn nhịp nhanh thường gặp hơn cả làrung nhĩ, sau đó là cuồng động nhĩ và nhịp nhanh kịch phát thất, tất cả cácdạng loạn nhịp này đều liên quan với bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim

Block nhĩ thất là dạng rối loạn dẫn truyền gây chậm nhịp tim phổ biênhơn cả dẫn tới suy tim Ngoài thiếu máu cục bộ và hoại tử cơ tim trong bệnhnhồi máu cơ tim cấp, nguyên nhân của block có thể là do xơ hóa vụ căn cỏcnhỏnh của bó His và bó His bị các ổ vụi hóa hủy hoại [3]

1.1.3 Phân loại suy tim

1.1.3.1 Suy tim cấp tính và suy tim mãn tính

- Suy tim cấp tính: Quá trình suy tim xuất hiện sớm ngay sau khi cónhững nguyên nhân gây suy tim, diễn biến nhanh trong hai tuần đầu của bệnh

Ví dụ: suy tim ngay sau nhồi máu cơ tim, tắc động mạch phổi, viêm cơ tim,chấn thương tim…

- Suy tim mãn tính: Suy tim diễn biến từ từ, trải qua giai đoạn bù đắpkéo dài nhiều năm tháng Ví dụ: sau bệnh van tim do thấp, viêm màng ngoàitim mãn tính, bệnh tim bẩm sinh, suy tim do bệnh tăng huyết áp, suy tim dobệnh thiếu máu cục bộ cơ tim

Biểu hiện của suy tim phụ thuộc vào tốc độ diễn tiến và thời gian đểhiện tượng tích tụ dịch mô kẽ xảy ra Nhìn chung nếu bệnh tim gốc diễn tiếnchậm, các cơ chế bù trừ có đủ thời gian để hoạt hóa, bệnh nhân có khả năngđiều chỉnh phù hợp với tình trạng thay đổi cung lượng tim Nếu bệnh lý gốcdiễn tiến nhanh hoặc kèm yếu tố thúc đẩy suy tim, kết quả có thể là tưới máu

Trang 6

cơ quan không đủ hoặc sung huyết cấp tính Giường tĩnh mạch dẫn lưu về thất

bị ảnh hưởng, gây ra mất bù tim đột ngột kèm theo giảm cung lượng tim vàkhởi phát cấp tính các triệu chứng

Trong suy tim mạn, cơ chế thích nghi được hoạt hóa một cách từ từ vàtim phì đại dần Những thay đổi này cho phép bệnh nhân điều chỉnh và dungnạp hiện tượng giảm cung lượng tim dễ dàng hơn Khi suy tim trái xảy ra từ

từ, tim phải tạo ra áp lực cao hơn đáp ứng với tình trạng kháng lực mạch máuphổi cao; trường hợp kháng lực mạch máu phổi tăng cấp tính tới mức tương

tự có thể gây nên bệnh cảnh suy tim phải cấp Bệnh nhân suy tim mạn có thểđạt được tình trạng bù trừ nhưng sau đó có thể mất bù cấp tính nếu có yếu tốthúc đẩy[6]

1.1.3.2 Suy tim tâm thu và suy tim tâm trương

- Suy tim tâm thu: Là tim bị suy do bệnh lý cơ tim hoặc cơ tim giảmkhả năng tống máu

- Suy tim tâm trương: Là suy tim do cơ tim khụng gión được để kộomỏu về tim

Triệu chứng cơ năng và thực thể của suy tim có thể do bất thường chứcnăng tâm thu dẫn đến tim giảm co bóp tống máu (suy tim tâm thu) hoặc bấtthường chức năng tâm trương của cơ tim dẫn đến bất thường về sự đổ đầy thất(suy tim tâm trương) Giảm đổ đầy thất trái do rối loạn chức năng tâm trươnggây giảm thể tích nhỏt búp và các triệu chứng của cung lượng tim thấp, trongkhi tăng áp lực đổ đầy dẫn đến các triệu chứng của sung huyết phổi.Vỡ vậy,một số đặc trưng của suy tim (ví dụ: thất trái mất khả năng cung cấp đủ cunglượng về phía trước để đáp ứng nhu cầu của cơ vân khi vận động, đồng thờiduy trì áp lực đổ đầy thất bình thường) Có thể ban đầu là do rối loạn chứcnăng tâm trương và có thể xảy ra ở một sổ bệnh nhân có chức năng tâm thuthất trái bình thường Không có dữ liệu chính xác nào về tần xuất của rối loạn

Trang 7

chức năng tâm trương dẫn đến suy tim, với chức năng tâm thu bình thường.Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng có đến 40% bệnh nhântrong số các bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng suy tim có chức năng tâmthu thất trái bảo tồn, và nhiều người trong số các bệnh nhân này có bằngchứng của rối loạn chức năng tâm trương Một vài yếu tố có thể làm tăngnguy cơ rối loạn chức năng tâm trương trong trường hợp chức năng tâm thuthất trái bình thường [6].

Những yếu tố liên quan với rối loạn chức năng tâm trương thất trái:

- Bệnh động mạch vành:

+ Thiếu máu cơ tim

+ Sẹo và phì đại thứ phát sau nhiễm trùng cơ tim

- Phì đại thất trái

- Bệnh cơ tim giãn

- Quá tải thể tích

- Gia tăng hậu tải

- Xơ hóa cơ tim

- Hạn chế đổ đầy

+ Viêm màng ngoài tim co thắt

+ Bệnh cơ tim tắc nghẽn

+ Bệnh thâm nhiễm cơ tim ( ví dụ: Amyloidosis)

Biểu hiện lâm sàng chính của suy tim tâm thu là do cung lượng tim vềphía trước không đủ; hậu quả chính của suy tim tâm trương liên quan đến sựgia tăng áp lực đổ đầy áp lực tĩnh mạch phía trước tâm thất, gây ra sung huyếtphổi và sung huyết tĩnh mạch hệ thống hoặc cả hai Suy tim tâm thu gây ra do

sự suy chức năng co bóp cơ tim mãn tính sau hoại tử cơ tim do nhồi máu phổitrước đó và sự giảm co bóp cơ tim cấp tính trong thiếu máu cục bộ cơ tim.Mặt khác, suy tim tâm trương ở các bệnh nhân bị động mạch vành trước tiên

Trang 8

là do giảm sự đàn hồi của thất và tăng độ cứng do mô cơ tim bình thường, đànhồi bị thay thế bởi mô sẹo xơ không căng giãn (ví dụ: vùng NMCT) cũng như

do độ giãn tâm trương của cơ tim bình thường bị giảm cấp tính trong giaiđoạn thiếu máu cơ tim thoáng qua Suy tim ở các bệnh nhân bị động mạchvành thường là kết quả của sự kết hợp giữa rối loạn chức năng tâm thu và tâmtrương [6]

1.1.3.3 Suy tim phải và suy tim trái

- Suy tim phải: Là suy chức năng nhĩ phải và thất phải, chủ yếu là suythất phải làm tăng áp lực trung bình nhĩ phải >6mmHg, tăng áp lực và ứ máu

hệ tĩnh mạch ngoại vi

- Suy tim trái: Là suy chức năng nhĩ trái và thất trái, chủ yếu là suy thấttrái làm tăng áp lực trung bình nhĩ trái >12mmHg, gây thiếu ụxy so với nhucầu chuyển hóa của tổ chức

- Suy tim toàn bộ: Là tim bị suy chức năng cả nửa bên phải (nhĩ phải vàthất phải), cả nửa bên trái (nhĩ trái và thất trái) [3]

Suy tim thường chỉ bị một bên nếu khởi đầu đột ngột (ví dụ: trongNMCT) Khả năng chứa máu của hệ tĩnh mạch bên trái nhỏ hơn hệ tĩnh mạchtoàn thân bên phải, và tăng áp lực tĩnh mạch cũng như các triệu chứng kèmtheo của suy tim trái xảy ra khi có sự tích tụ dịch tương đối ít hơn

Mặc dù quá trình bệnh ban đầu có thể chỉ liên quan đến một thất, nhưng vềsau thường cả hai thất đều bị suy, nhất là khi thất trái bị tổn thương trước Cảhai thất có chung vách liên thất và những thay đổi sinh hóa không chỉ giới hạn

ở buồng thất bị tổn thương mà ảnh hưởng đến buồng thất bên kia Thêm vào

đó, do cả bốn buồng tim nằm trong khoang màng ngoài tim, khi bị kích thướccủa bất kỳ buồng nào tăng lên đột ngột, buồng tim đối diện sẽ bị chèn ép và

áp lực đổ đầy thất tăng lên (điều này được định nghĩa như là sự phụ thuộc lẫnnhau giữa các buồng thất) Suy tim trái thường gây suy tim phải, nhưng suy

Trang 9

tim phải đơn độc (ví dụ: thông liên, tâm phế mạn) hiếm khi gây suy tim tráinếu không có một bệnh lý tim trái kèm theo (ví dụ: bệnh mạch vành với thiếumáu cục bộ hoặc NMCT) Ở các bệnh nhân bị suy thất trái, tim phải suy cóthể làm giảm các triệu chứng hô hấp (khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm,khó thở về đêm) thường có trong suy tim trái [6].

1.1.4 Những yếu tố thúc đẩy suy tim thường gặp

- Không tuân thủ ( chế độ ăn, dùng thuốc)

- Tăng huyết áp không kiểm soát được

- Nhồi máu cơ tim hay thiếu máu cơ tim

- Rối loạn nhịp tim:

- Nhiễm trùng toàn thân

- Bất thường nội tiết

- Những yếu tố môi trường

- Điều trị không đủ

- Stress cảm xúc

- Mất máu, thiếu máu [6]

Trang 10

1.1.5 Sinh lý bệnh suy tim:

Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến cung lượng tim:

1.1.5.1 Tiền gánh

Tiền gánh là yếu tố quyết định mức độ kéo dài sợi cơ tim trong kỳ tâmtrương trước lúc thất co búp.Tiền gỏnh được đánh giá bằng thể tích hoặc áplực cuối tâm trương Tiền gánh phụ thuộc vào:

- Áp lực đổ đầy thất tức là lượng máu trở về tâm thất

- Độ giãn cơ tâm thất.[21]

1.1.5.2 Sức co bóp cơ tim (Định luật Frank - Starling)

Khi áp lực hoặc thể tích cuối tâm trương trong tâm thất tăng lên thì sẽlàm tăng sức co bóp cơ tim và thể tích nhỏt búp sẽ tăng lên

Nhưng đến một lúc nào đó, dù áp lực hay thể tích cuối tâm trương củatâm thất có tăng lên hơn nữa thì thể tích của nhỏt búp cung không tăng tươngứng, mà thậm chí còn giảm, mức đó gọi là “mức dự trữ tiền gánh tới hạn”

Đây là cơ chế quan trọng trong suy tim, nghĩa là áp lực hoặc thể tíchcuối tâm trương trong tâm thất gia tăng do nguyên nhân khác nhau thì làmcho thể tích nhỏt búp tăng theo Nhưng sau một thời gian dài chịu đựng, sức

co bóp của cơ tim sẽ yếu dần, thể tích nhỏt búp giảm dần và xuất hiện suytim Tim càng suy thì thể tích nhỏt búp càng giảm Tim càng suy thì thể tích nhát bóp càng giảm [21], [35]

1.1.5.3 Hậu gánh

Hậu gánh là sức cản của mạch máu đối với sự co bóp của cơ tim Sứccản càng cao thì sự co bóp của cơ tim càng phải lớn Lúc đó công của tim sẽtăng lên và tăng mức tiêu thụ oxy cơ tim Lâu dần sức co bóp cơ tim giảm dần

và giảm lựu lượng tim [21]

1.1.5.4 Tần số tim

Trang 11

Trong suy tim lúc đầu nhịp tim tăng lên, sẽ có tác dụng bù trừ tốt chotình trạng giảm thể tích nhỏt búp, duy trì cung lượng tim Nhưng nếu nhịp timtăng quá nhiều thì sẽ làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim, làm tăng công tim vàlàm tim suy yếu nhanh chóng [10].

1.1.6 Cơ chế bù trừ trong suy tim

1.1.6.1 Bù trừ tại tim

Giãn tâm thất: là cơ chế thích ứng đầu tiên để trỏnh quỏ tăng áp lựccuối tâm trương của tâm thất Khi tâm thất giãn ra sẽ làm kéo dài các sợi cơtim và theo định luật Frank - Starling sẽ làm tăng sức co bóp các sợi cơ timnếu dự trữ co cơ vẫn còn

Phì đại tâm thất: Tim cũng có thể thích ứng bằng cách tăng bề dày cácthành tim nhất là trong các trường hợp tăng áp lực trong buồng tim Việc tăng

bề dày các thành tim chủ yếu để đối phó với tình trạng tăng hậu gánh và cảithiện thể tích tống máu bị giảm trong suy tim [21]

1.1.6.2 Bù trừ ngoài tim

- Kích thích hệ thần kinh giao cảm:

Khi có suy tim hệ thần kinh giao cảm được kích thích, lượngcatecholamine từ các đầu tận cùng các sợi giao cảm hậu hạch được tiết ranhiều làm tăng sức co bóp của cơ tim và tăng tần số tim Cường giao cảm sẽ

co mạch ngoại vi như da, cơ thận và các tạng bụng để ưu tiên tưới máu chonão và tim

- Kích thích hệ Renin - Angiotensin - Aldosteron:

Tăng hoạt hóa giao cảm và tưới máu tới thận sẽ kích thích bộ máy cậncầu thận chế tiết nhiều renin và làm tăng nồng độ renin trong máu Renin sẽhoạt hóa Angiotensinogen và các phản ứng tiếp theo để tăng tổng hợpAngiotensin II

Trang 12

Chính Angiotensin II là chất co mạch mạnh, đồng thời lại tham gia kíchthích tổng hợp Noradrenalin ở đầu tận cùng các sợi thần kinh giao cảm hậuhạch và Adrenalin từ tủy thượng thận.

Cũng chính Angiotensin II còn kích thích vỏ thượng thận tiếtAldosteron làm tăng tái hấp thu Natri và nước ở ống thận [32]

- Hệ Arginin - Vasopressin:

Ở suy tim giai đoạn muộn, vùng dưới đồi - tuyến yên được kích thích

để tiết ra Arginin - Vasopressin (ADH) ADH làm tăng thêm tác dụng comạch ngoại vi của Angiotensin II và làm giảm bài tiết nước ở ống thận

Cả 3 hệ thống co mạch bù trừ này nhằm duy trì cung lượng tim, nhưnglâu ngày chúng lại làm tăng tiền gánh và hậu gánh, tăng ứ nước và Natri, tăngcông và mức tiêu thụ oxy cơ tim, tạo nên vòng xoắn bệnh lý làm tim ngàycàng suy thêm [13], [21]

- Những yếu tố khác:

Trong suy tim nhằm cố gắng hạn chế việc co mạch khu trú hay toànthân qỳa mức, các chất giãn mạch khác cũng được gia tăng sản xuất như:Bradykinin, Prostaglandin (PGI úa mức, các chất giãn mạch khác cũng đượcgia tăng sản xuất như: Bradykinin, Prostaglandin (PGI2, PGE2), Endothelin vàđặc biệt là yếu tố lợi niệu nhĩ ANP, mà ngày nay chủ yếu là BNP được xem làyếu tố quan trọng trong việc chống rối loạn chức năng thất trái, cải thiện tìnhtrạng suy tim [32], [53]

1.1.7 Phân độ suy tim

Hiện nay trong lâm sàng tim mạch ở nước ta và các nước khỏc trờn thếgiới đều dùng tiêu chuẩn phân độ suy tim của Hội tim mạch New York (NewYork Heart Assosiation) viết tắt là NYHA:

Độ I: Hay còn gọi là NYHA I Không hạn chế, vận động thể lực thôngthường khụng gõy mệt, khó thở hoặc hồi hộp

Trang 13

Độ II: Hay còn gọi là NYHA II Hạn chế nhẹ vận động thể lực Bệnhnhân khỏe khi nghỉ ngơi Vận động thể lực thông thường dẫn đến mệt, hồihộp, khó thở hoặc đau ngực.

Độ III: Hay còn gọi là NYHA III Hạn chế nhiều vận đông thể lực Mặc

dù bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi nhưng chỉ vận động nhẹ đã có triệu chứng

cơ năng

Độ IV: Hay còn gọi là NYHA IV Không vận động thể lực nào màkhông gây khó chịu Triệu chứng cơ năng của suy tim xảy ra ngay khi nghỉngơi Chỉ một vận động thể lực, triệu chứng cơ năng gia tăng.[11], [32]

1.1.8 Chẩn đoán suy tim

1.1.8.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán

Tiêu chuẩn chẩn đoán theo Framingham bao gồm nhiều tiêu chuẩn,trong đó suy tim được chẩn đoán xác định khi có 2 tiêu chuẩn chính hoặc 1tiêu chuẩn chớnh kốm 2 tiêu chuẩn phụ [10], [32]

Trang 14

- Giảm ≥ 4,5kg cân nặng trong 5 ngày đáp ứng với điều trị suy tim.

X quang lồng ngực:

Trang 15

Các dấu hiệu của X quang chỉ đạt được giá trị chẩn đoán cao nếu đọcphim X quang trong bối cảnh các kết quả lâm sàng và bất thường ĐTĐ Việckhảo sát X quang hữu ích để phát hiện tim to và xung huyết phổi Trên bệnhnhân suy tim cấp và các trường hợp rối loạn chức năng tâm trương thườngkhông thấy tim to Tuy nhiên trên bệnh nhân suy tim mãn tính, tim tăng kíchthước với chỉ số tim/ lồng ngực > 0,5 và xung huyết tĩnh mạch phổi là dấuhiệu chỉ điểm hữu ích của chức năng tim bất thường với giảm phân số tốngmáu (EF) và hoặc tăng áp lực đổ đầy thất trỏi Phự phế nang và mô kẽ phổicũng là những dấu hiệu quan trọng và đáng tin cậy của rối loạn chức năng thấttrái nghiêm trọng.[1], [53]

Siêu âm tim:

Siêu âm tim là phương pháp thăm dò không chảy máu và an toàn được

ưa chuộng cho việc đánh giá các rối loạn chức năng tim lúc nghỉ để chẩn đoánsuy tim Siêu âm tim qua thành ngực là phương pháp nhanh chóng, an toàn vàkhả dụng Nó cho phép đánh giá kích thước buồng tim, bề dày và hình dạngthành tim, các chỉ số chức năng tâm thất từng vùng, toàn bộ, chức năng tâmthu, chức năng tâm trương Thông số quan trọng để phát hiện bệnh nhân córối loạn chức năng tâm thu và bệnh nhân còn bảo toàn chức năng tâm thu làphân số tống máu (EF).[32], [53]

Các dấu sinh học :

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, suy tim không phải chỉ là hậu quảcủa quá tải hay tổn thương cơ tim mà còn là hậu quả của những thay đổi vềthần kinh- nội tiết, viờm, cỏc thay đổi về sinh húa…tỏc động lên tế bào cơ tim

và mô kẽ Các yếu tố như men, kích thích tố, chất sinh học, các dấu của stress

và rối loạn chức năng cơ tim cũng như tế bào tim gọi chung là dấu sinh họcngày càng trở nên quan trọng Braunwald xếp các dấu sinh học vào 6 nhúm:

Trang 16

viờm, stress oxit hóa, tái tạo gian bào (extracellular – matrix remodeling),thần kinh – nội tiết, tổn thương tế bào tim, stress tế bào tim Một số dấu sinhhọc đã được áp dụng trong sàng lọc, chẩn đoán, tiên lượng và điều trị suy timnhư: C – Reactive Protein (CRP) giúp phân loại các bệnh nhân về nguy cơsuy tim, Myeloperoxidase ( stress oxit hóa MPO), Troponin T và Troponin I(tổn thương tế bào tim), B – Type Natriuretic Peptide (stress tế bào tim) Ứng dụng nhiều hơn cả trong số đó hiện nay là BNP [28], [37]

1.2 B - type Natriuretic Peptide (BNP)

1.2.1 Lịch sử phát hiện các Natriuretic Peptide

Năm 1981, De Bold và cộng sự tìm thấy một chất được chiết xuất từtâm nhĩ của một vài loài động vật có vú, chim và cá có tác dụng gây lợi niệu

và giãn mạch, như một chất đối kháng với hệ Renin – Angiotensin Chất đóđược đặt tên là lợi niệu natri nhĩ (Atrial Natriuretic Peptide - ANP) Ba nămsau đó trình tự aminoacide của ANP được xác định Từ đó, có nhiều nghiêncứu đã được thực hiện để xác định vai trò của ANP trong suy tim Đến năm

1988, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra hợp chất trong não lợn và chuột mộtchất đặt tên là là Brain Natriuretic Peptide (BNP) sau đó người ta nhanhchóng phát hiện ra rằng nguồn bài tiết chính của BNP là ở cả tâm nhĩ và tâmthất nên BNP còn được gọi là B – type Natriuretic Peptide [42]

Năm 1990, một natriuretic peptide thứ ba đã được xác định và để duytrì vần alphabet, người ta đặt tên nó là C- type Natriuretic Peptide(CNP) Lúcđầu, CNP cũng được tìm thấy ở não của nhiều loài động vật có xươngsống,nhưng sau đó người ta phát hiện nguồn gốc bài tiết CNP ở mạch máu,nhất là cấu trúc nội mạc.[28]

1.2.2 Cấu trúc phân tử và hoạt tính sinh học của BNP

Trang 17

1.2.2.1 Quá trình tổng hợp và bài tiết BNP

BNP là một polypeptide gồm 32 acide amin trong đó có một vòng 17acide amin chung cho tất cả các natriuretic peptide Gen tổng hợp BNP nằm ởnhiễm sắc thể số 1 của người, gồm 3 exon xen kẽ 2 intron nên BNP có cấutrúc nhẫn gồm 17 acide amin nối với nhau bằng cầu nối disulfite giống cácnatriuretic peptide khỏc Cỏc natriuretic peptide chỉ khác nhau ở chiều dàiđuụi tùy loại Khác với ANP, vì BNP có nhiều biến thể cấu trúc khác nhautùy loài nên hoạt tính sinh học của BNP cũng khác nhau đặc hiệu cho từngloài [42]

BNP của người được tổng hợp đầu tiên dưới dạng PreproBNP là mộtprepropeptide có 132 a xít amines trong đó gồm một chuỗi tín hiệu (24 acideamine) được chuyển hóa bởi endoprotease nối liền với ProBNP1-108 (108 acideamin) Dưới tác dụng của furin hoặc corin, là men chuyển hóa protein,ProBNP tiếp tục tách thành phân tử BNP77-108 hoạt động và phân tử NT-proBNP1-76 bất hoạt [37]

BNP được phóng thích sớm ngay sau khi được tổng hợp Chỉ mộtlượng nhỏ BNP được bao gói bởi các hạt tiết của tâm nhĩ cùng với ANP Gen

Trang 18

tổng hợp BNP đòi hỏi tác nhân kích thích đủ dài để tăng tổng hợp, tăng bàitiết BNP [5].

Sự gión cơ học của tâm nhĩ và tâm thất đóng vai trò chủ yếu thúc đẩygen tổng hợp BNP nhưng trực tiếp thông qua hoạt động của tế bào cơ tim haygián tiếp qua đường autocrine địa phương hoặc qua những yếu tố nội tiết(paracrine factors) thì vẫn còn chưa được hiểu biết đầy đủ, ví dụ nhưendothelin, angiotensin II Phenylephrine và arginine vasoprrssin là nhữngchất có tác dụng làm tăng hoạt tính của BNP Phì đại cơ tim của tâm thất cũnglàm tăng tổng hợp và bài tiết BNP Ngoài ra, nhiều tác nhân kích thích kháccũng ảnh hưởng đến sự bài tiết BNP của cơ tim, như những tình trạng: nhiễmtrùng huyết, thiếu oxy tế bào, thiếu máu tế bào [5]

Trang 19

Khác với ANP, nguồn dự trữ chủ yếu của BNP huyết tương là ở tâmthất Vì thế gợi ý BNP là yếu tố chỉ điểm nhạy cảm và khá đặc hiệu chonhững rối loạn chức năng tâm thất so với các natriuretic peptide khác Nồng

độ BNP tỷ lệ thuận với mức độ giãn tâm thất và quá tải về áp lực

1.2.2.2 Hoạt tính sinh học của BNP

Bằng cách gắn vào các receptor của peptide lợi niệu trong tế bào cơtrơn mạch máu, tế bào nội mô, tim, tuyến thượng thận và thận, thông qua việcsản xuất GMP vòng, BNP có những tác động đối với cơ thể như sau:

- Lợi niệu

- Gión mạch

- Ức chế bài tiết Renin

- Giảm hoạt động của Aldosterone

- Giảm hoạt tính của hệ giao cảm

Trang 20

BNP giúp điều hòa huyết áp bởi hệ thống cân bằng ngược với hệ thốngRenin- Angiotensin, BNP có hiệu quả ngược lại với hệ thống cân bằng này(BNP làm tăng Natri và nước bởi sự tăng lọc qua cầu thận) BNP được phóngthích liên tục để đáp ứng với sự tăng áp lực và thể tích tâm thất Thời gian bánhủy là 22 phút.

1.2.3 Nồng độ BNP và các yếu tố ảnh hưởng

1.2.3.1 Nồng độ BNP trong máu ở người bình thường

Nồng độ BNP trung bình trong huyết tương thay đổi theo tuổi [29]:

• Từ 55- 64 tuổi: 26,2 ± 1,8 pg/ml

• Từ 65 -74 tuổi: 31 ± 2,4 pg/ml

• Trên 75 tuổi: 63,7 ± 6 pg/ml

Theo nhiều công trình nghiên cứu thì nồng độ BNP trong máu lớn hơn

100 pg/ml gợi ý chẩn đoán suy tim và đây được coi là giới hạn trên của bìnhthường

Nồng độ BNP không bị ảnh hưởng bởi một số thuốc điều trị các bệnhtim mạch thường dùng như Digoxin, Nitroglycerin, Furosemide…

Nồng độ BNP trong máu hầu như không thay đổi trong ngày

1.2.3.2 Các tình trạng có tăng nồng độ BNP trong huyết tương [2], [25]

Trang 21

- Xơ gan cổ trướng.

- Bệnh nội tiết: cường Aldosterol nguyờn phỏt, cường giáp, hội chứngCushing

- Nhiễm trùng nặng

- Tuổi già

1.2.4 Vai trò của BNP trong suy tim

1.2.4.1 BNP giúp chẩn đoán suy tim

Trong suy tim, nồng độ BNP trong máu tỉ lệ thuận với mức độ nặngcủa bệnh và tăng nhiều lần so với người không suy tim [26], [27]

Nhiều nghiên cứu sử dụng các xét nghiệm và các điểm cắt khác nhau

đã báo cáo độ nhạy từ 85% - 97% và độ đặc hiệu từ 84% - 92%, giá trị chẩnđoán dương tính từ 70% - 90%, trong khi giá trị chẩn đoán âm tính cao hơn95%

Từ nhiều công trình nghiên cứu, người ta đề nghị mức BNP = 100pg/ml

là giá trị tối đa theo tuổi và giúp phân biệt bệnh nhõn cú suy tim hay không.Nồng độ BNP này có độ nhạy là 82,4% ở bệnh nhân suy tim nói chung vàtăng dần đến 99% ở bệnh nhân suy tim NYHA IV Xét nghiệm BNP có độđặc hiệu hơn 95% khi so sánh bệnh nhân suy tim với các bệnh nhân khôngsuy tim [27]

Các nghiên cứu đã xác định một mức độ BNP bình thường là một chỉđịnh tốt chứng tỏ khó thở là do một tình trạng bệnh lý khác hơn là suy tim (do

hô hấp) hoặc loại trừ nguyên nhân phù do tim: nồng độ BNP ở bệnh nhân phù

mà không suy tim là 63pg/ml và 1063pg/ml ở bệnh nhân phù do suy tim.1.2.4.2 Vai trò của BNP trong đánh giá rối loạn chức năng thất trái

Mặc dù siêu âm tim là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để chẩnđoán rối loạn chức năng thất trái và cũng là phương tiện phát triển nhanh nhất

Trang 22

trong tim mạch, tuy nhiên đối với những bệnh nhân suy hô hấp hoặc khôngthể đi làm siêu âm tại khoa tim mạch được thì BNP lại là một xét nghiệm phùhợp để chẩn đoán suy thất trái.

Các nghiên cứu gần đây đã phân tích siêu âm tim và giá trị của BNPtrong nhóm bệnh nhân có tiền sử suy tim và có rối loạn chức năng thất tráitrước đó, tất cả có siêu âm tim bất thường với mức tăng nồng độ BNP trongmáu là: 545 ± 45pg/ml, nồng độ BNP trong máu tăng trong cả rối loạn chứcnăng tâm thu và rối loạn chức năng tâm trương [40]

Trong một nghiên cứu trên 152 bệnh nhân, sự gia tăng BNP có độ nhạy

là 77%, độ đặc hiệu là 87% và giá trị chẩn đoán âm tính là 97,5% đối vớibệnh nhân bị rối loạn chức năng thất trái Ở những bệnh nhân trên 55 tuổi, độnhạy là 92%, độ đặc hiệu là 72% và giá trị chẩn đoán âm tính là 99,2% [37]

Vì thế mặc dù độ đặc hiệu không quá cao nhưng giá trị chẩn đoán âm tính caolàm cho xét nghiệm này trở thành một phương pháp thích hợp cho việc chọnlọc bệnh nhân cần làm siêu âm tim Một nghiên cứu khác cho thấy nồng độBNP có giá trị chẩn đoán rối loạn chức năng tâm thu với độ nhạy là 83%, độđặc hiệu là 77% và chẩn đoán rối loạn chức năng tâm trương với độ nhạy là85%, độ đặc hiệu là 70% Vì thế BNP có thể coi là công cụ hữu ích giúp nhậnđịnh sự rối loạn chức năng thất trái

1.2.4.3 BNP trong đánh giá rối loạn chức năng thất phải

Nồng độ BNP cũng tăng lên trong rối loạn chức năng thất phải, mặc dùkhông giống như trong rối loạn chức năng thất trái Trong một nghiên cứutrên 60 bệnh nhân có tăng áp lực động mạch phổi nguyờn phỏt, nồng độ BNP

có giá trị tiên đoán độc lập tử vong trong 24 tháng Trong suốt quá trình theodõi, mức độ tử vong ở bệnh nhân có nồng độ BNP giảm thấp hơn so vớinhững bệnh nhân có nồng độ BNP tăng, ở bệnh nhân có loạn sản thất phải gây

Trang 23

rối loạn nhịp, nồng độ BNP tăng có liên quan tới mức độ nặng của rối loạnchức năng thất phải [43].

Trang 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi bao gồm hai nhóm bệnh nhân:

* Nhóm bệnh nhân suy tim tâm thu (nhóm I): gồm 40 bệnh nhân

Những bệnh nhân được chẩn đoán có bệnh tim (THA, bệnh cơ tim,bệnh van tim ), cú cỏc dấu hiệu suy tim trên lâm sàng (khó thở, phù, gan to,tĩnh mạch cổ nổi ) được chẩn đoán là suy tim đều được làm siêu âm timnhằm xác định nguyên nhân suy tim (bệnh cơ tim, van tim ) và đánh giáchức năng tâm thu thất trái

Nếu phân số tống máu EF trên siêu âm 2 bình diện dưới 55% thì bệnhnhân sẽ được chẩn đoán là suy tim và đưa vào nghiên cứu

* Nhóm bệnh nhân không suy tim (nhóm II): gồm 38 bệnh nhân

Những bệnh nhân đến khám hoặc nằm điều trị nội trú tại Viện Lão

khoa và Viện Tim mạch vỡ các bệnh nội khoa khác, không có dấu hiệu suytim trên lâm sàng đồng thời phân số tống máu EF trên siêu âm nằm trong giớihạn bình thường (EF ≥ 56%), cú cựng độ tuổi với những bệnh nhân nhóm Iđược đưa vào nhóm II của đề tài nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân thuộc nhóm I và II đều được thăm khám lâm sàngmột cách tỷ mỉ, chụp Xquang tim phổi, làm điện tâm đồ và siêu âm tim nhấtloạt theo một mẫu nghiên cứu thống nhất nhằm hạn chế tối đa những biến đổicủa BNP mà không phải do suy tim gây ra

Trang 25

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Chúng tôi loại khỏi nghiên cứu những bệnh nhân tiền sử mắc bệnh phếquản - phổi tắc nghẽn mạn tính hoặc những bệnh nhân đang trong tình trạngviêm phổi, nhiễm trùng nặng, tiểu đường, suy thận mạn phải chạy thận nhântạo chu kỳ và suy gan nặng

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2009

Địa điểm: Viện Lão khoa quốc gia và Viện Tim Mạch quốc gia

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, tiến cứu ngắn hạn có đối chứng

2.4 Phương pháp tiến hành thu thập thông tin

2.4.1 Hỏi tiền sử và thông tin cá nhân

Thông qua những câu hỏi trên phiếu điều tra gồm:

Họ tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, lý do đến khám, điều trị

Tiền sử bản thân, tiền sử bệnh tim mạch và các bệnh khác

2.4.2 Khám lâm sàng toàn thân và làm bệnh án theo mẫu

Đo các chỉ số sinh tồn: mạch, huyết áp, nhịp thở, nhiệt độ

Khám tỷ mỉ, toàn diện để phát hiện các triệu chứng cơ năng, thực thểgiúp chẩn đoán suy tim trên lâm sàng như: cảm giác mệt, hạn chế vận độngthể lực, đau ngực trái, khó thở, các dấu hiệu phự, tớm, gan to, tĩnh mạch cổnổi, ran phổi, tiếng tim bất thường

Điền các thông tin thu được vào bệnh án mẫu

Trang 26

2.4.3 Các xét nghiệm và thăm dò cận lâm sàng

Các xét nghiệm hóa sinh, huyết học, các thăm dò cận lâm sàng trongnghiên cứu được tiến hành tại khoa Cận lâm sàng Viện Lão khoa quốc gia

Đối với bệnh nhân nhóm I:

Bên cạnh những dữ liệu của thăm khám lâm sàng thường quy ngay khivào viện, bệnh nhân được làm các xét nghiệm cơ bản về huyết học, đụng mỏu

và sinh hóa và siêu âm tim Nồng độ BNP huyết tương cũng được định lượngngay khi bệnh nhân nhập viện

Sau 7 - 10 ngày, bệnh nhân được làm lại các xét nghiệm sinh hóa, huyếthọc và định lượng BNP lần II Các thông số lâm sàng và siêu âm tim cũngđược đánh giá lại tại thời điểm này

Nếu diễn biến nặng lờn thỡ tiếp tục làm lại các xét nghiệm sinh hóa, huyếthọc và BNP Trong trường hợp này, tùy theo mức độ nặng của bệnh nhân đểxem xét chỉ định lại siêu âm tim để đánh giá lại EF nhưng không bắt buộc.Khi tình trạng bệnh nhân diễn biến tốt hơn thì sẽ làm lại BNP và siêu âm tim.Như vậy đối với nhóm I, các bệnh nhân sẽ được làm ít nhất 2 lần xétnghiệm BNP và 2 lần siêu âm tim Có thể xét nghiệm 3 hoặc 4 lần tùy theodiễn biến của từng trường hợp Mục đích nhằm nhận xét sự liên quan giữanồng độ BNP với diễn biến lâm sàng và chức năng tâm thu thất trái của bệnhnhân suy tim tâm thu

Đối với bệnh nhân nhóm II:

Sau khi làm siêu âm tim cho những người nằm trong độ tuổi của nhữngbệnh nhân thuộc nhóm I, bên cạnh các thăm khám lâm sàng thường quy, bệnhnhân được làm các xét nghiệm về sinh hóa, huyết học và BNP

Nhóm II chỉ làm 1 lần xét nghiệm BNP khi bệnh nhân đến khám hoặcnhập viện

Trang 27

2.4.4 Định lượng BNP huyết tương

Định lượng BNP huyết tương bệnh nhân được tiến hành tại khoa Hóasinh Viện Lão khoa quốc gia dựa trên kỹ thuật miễn dịch hóa phát quang bằngmáy ARCHITECT i1000 của hãng ABBOTT- USA với chất chống đôngEDTA

Tham số mẫu: Giá trị trung bình, trung vị, tối đa, tối thiểu, tỷ lệ %

So sánh sự khác nhau giữa 2 số trung bình của 2 nhóm: sử dụng test t

So sánh sự khác nhau giữa 2 tỷ lệ của 2 nhóm: sử dụng test χ2

Đánh giá mối liên quan giữa các biến nghiên cứu bằng OR

2.6 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành với sự đồng ý tham gia của bệnh nhân

Các xét nghiệm trong nghiên cứu không gây ảnh hưởng xấu đến sứckhỏe của những bệnh nhân tham gia

Trang 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 2/2009 đến tháng 9/2009, chỳngtụi đó tiến hành, khám, chẩn đoán, định lượng BNP huyết tương và theo dõiđiều trị cho 40 bệnh nhân có đợt cấp của suy tim mạn tính từ giai đoạn 2 đếngiai đoạn 4, gồm 17 nam và 23 nữ, tuổi trung bình 65,9 ± 19,81 Chúng tôicũng tiến hành đồng thời trên một nhóm gồm 38 bệnh nhân không suy tim,trong đó có 14 nam và 24 nữ, tuổi trung bình 66,05 ± 17,68 Sự khác biệt vềtuổi và giới của nhóm bệnh và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê(p>0,05)

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi, giới của nhóm đối tượng nghiên cứu

Nhóm suy tim (n=40)

Nhúm không suy tim

Trang 29

Biểu đồ 3.1 Phõn bố tuổi và giới ở nhóm suy tim và không suy tim

Nhận xét: Tỷ lệ nam/nữ ở nhóm bệnh là 0,73, ở nhóm không suy tim là

0,58 Giữa 2 nhúm cú sự tương đồng về tuổi và giới (p>0,05), độ tuổi trungbình xấp xỉ 66 tuổi

Cùng với nhóm bệnh nhân suy tim, chúng tôi tiến hành định lượngBNP huyết tương trên 38 người đến khỏm vỡ cỏc lý do cơ năng như: đaubụng, đau thắt lưng, đau mỏi khớp, mất ngủ Các bệnh nhân mà chúng tôiđưa vào nghiên cứu không có tiền sử mắc bệnh tim mạch, không có dấu hiệusuy tim trên lâm sàng, không mắc các bệnh làm ảnh hưởng đến nồng độ BNPhuyết tương, như chúng tôi đã trình bày trong phần phương pháp nghiên cứu

Trang 30

Bảng 3.2 Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

của nhúm khụng suy tim

Nhận xét: Trị số mạch ở nhúm không suy tim là 76,95± 10,62 lần/phỳt,

huyết áp tâm thu 113,95 ± 11,52 mmHg, huyết áp tâm trương 67,50±8,19mmHg đều trong giới hạn bình thường Các xét nghiệm hóa sinh của nhómchứng đều trong giới hạn bình thường Phân suất tống máu EF là 68,42 ±5,72% chứng tỏ các bệnh nhân trong nhóm chứng có chức năng tim tốt

Trang 31

Bảng 3.3 Diễn biến triệu chứng lâm sàng theo tiêu chuẩn Framingham

Tiêu chuẩn của

Framingham

Trước điều trị (n=40)

Sau điều trị (n=40)

Nhận xét: Sau số ngày điều trị trung bình là 14,13 ± 3,94 ngày, hầu

hết các bệnh nhân trong nhóm suy tim đều cải thiện rõ rệt về lâm sàng Dấuhiệu gặp nhiều nhất trước điều trị là tim to (97,5% ), khó thở khi gắng sức(92,5%), gan to (75,0%) Các dấu hiệu ít gặp là nhịp tim nhanh >120 lần/phỳt(5,0%) và phù phổi cấp (5,0%) Dấu hiệu không gặp trên lâm sàng là tiếngngựa phi T3 ở tim

Trang 32

Bảng 3.4 Diễn biến triệu chứng cận lâm sàng của nhóm suy tim

X ± SD (n=40) X ± SD (n=40)

Xét nghiệm sinh hóa

Creatinin (àmol/l) 103,40 ± 16,13 95,20 ± 10,19 <0,05SGOT (U/l/37 0 C) 33,75 ± 10,30 33,52 ± 5,58 >0,05SGPT (U/l/37 0 C) 32,93 ± 13,91 31,95 ± 6,37 >0,05

Na (mmol/ l) 137,05 ± 3,47 138,48 ± 3,58 >0,05

K (mmol/ l) 4,02 ± 0,45 3,93 ± 0,21 >0,05

Cl (mmol/ l) 100,95 ± 4,86 99,15 ± 5,33 >0,05Glucose (mmol/ l) 4,98 ± 1,11 4,99 ± 0,64 >0,05

Siêu âm tim

Các xét nghiệm hóa sinh khác không có sự khác biệt giữa trước và sauđiều trị với p>0,05

Trang 33

Bảng 3.5 Mức độ suy tim theo NYHA trước và sau điều trị

-Nhận xét: Phân độ suy tim theo NYHA cải thiện rõ rệt sau điều trị Các

bệnh nhân suy tim trước điều trị có suy tim độ 3 chiếm tỷ lệ cao nhất (50%),không gặp suy tim độ 1 Sau điều trị không có bệnh nhân nào có suy tim độ 4

Biểu đồ 3.2 So sánh mức độ suy tim trước và sau điều trị

Trang 34

3.2 Sự thay đổi nồng độ BNP huyết tương ở bễnh nhân suy tim mãn tính

Bảng 3.6 So sánh nồng độ BNP ở nhóm suy tim và không suy tim

suy tim 1 (n=38)

Nhóm suy tim (n=40) Trước điều trị 2 Sau điều trị 3

Trang 35

Truoc dieu tri Sau dieu tri Doi chung

Nhom benh nhan

0 1000 2000 3000 4000 5000 6000

Biểu đồ 3.3 Sự thay đổi nồng độ BNP huyết tương trước và sau điều trị

Bảng 3.7 Sự thay đổi nồng độ BNP theo nhóm tuổi

ở nhúm < 60 tuổi lên 35,68 ± 13,73 pg/ml ở nhóm > 60 tuổi, sự khác biệt có

ý nghĩa với p <0,05 Nhưng nhóm bệnh không có sự khác biệt nồng độ BNP ởhai nhóm tuổi (p>0,05)

p<0,05

Trang 36

Bảng 3.8 Sự thay đổi nồng độ BNP theo giới tớnh

Giới tính

Nhóm suy tim (n=40)

Nhúm không suy tim

Bảng 3.9 Sự thay đổi nồng độ BNP theo mức độ suy tim

* Mann Witney U test ** Kruskal-Wallis H test

Nhận xét: Nồng độ BNP huyết tương tăng dần theo sự tăng dần của

mức độ suy tim ở cả hai thời điểm trước và sau điều trị với p<0,05 Trongcựng phõn độ suy tim, nồng độ BNP cũng thay đổi 1 cách có ý nghĩa so vớitrước điều trị (p<0,05)

Ngày đăng: 27/07/2014, 07:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Lân Viễt (2001), “Suy tim”, Bài giảng chuyên khoa tim mạch, Nxb Y học, Hà Nội, tr 528-559 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Lân Viễt (2001), “Suy tim”, "Bài giảng chuyên khoa tim mạch
Tác giả: Nguyễn Lân Viễt
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2001
11. Phạm Nguyễn Vinh và cộng sự (2008), “Khuyến cáo 2008 của Hội Tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị suy tim”, Khuyến cáo 2008 về các bệnh tim mạch và chuyển hóa, Nxb Y học, Hà Nội, tr 438-448 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Nguyễn Vinh và cộng sự (2008), “Khuyến cáo 2008 của Hội Timmạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị suy tim”," Khuyến cáo 2008 vềcác bệnh tim mạch và chuyển hóa
Tác giả: Phạm Nguyễn Vinh và cộng sự
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2008
12. Phạm Nguyễn Vinh và cộng sự (2008), “Khuyến cáo 2008 của Hội Tim mạch học Việt Nam về áp dụng lâm sàng siêu âm tim”, Khuyến cáo 2008 về các tim mạch và chuyển hóa, Nxb Y học, Hà Nội, tr 556-564 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Nguyễn Vinh và cộng sự (2008), “Khuyến cáo 2008 của HộiTim mạch học Việt Nam về áp dụng lâm sàng siêu âm tim”," Khuyến cáo2008 về các tim mạch và chuyển hóa
Tác giả: Phạm Nguyễn Vinh và cộng sự
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2008
13. Phạm Nguyễn Vinh (2003), “Chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tại Việt Nam”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học Hội nghị Tim mạch học miền Trung, Nha Trang, tr. 224-225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Nguyễn Vinh (2003), “Chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tạiViệt Nam”, "Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học Hội nghị Tim mạchhọc miền Trung
Tác giả: Phạm Nguyễn Vinh
Năm: 2003
14. Phạm Nguyễn Vinh (1999), “ Khảo sát chức năng của tim bằng siêu âm TM, 2D và Doppler”, Siêu âm tim và bệnh lý tim mạch, tập 2, Nxb Y học, Hà Nội, tr. 153-162.Tài liễu tiếng Anh và tiếng Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Nguyễn Vinh (1999), “ Khảo sát chức năng của tim bằng siêuâm TM, 2D và Doppler”, "Siêu âm tim và bệnh lý tim mạch
Tác giả: Phạm Nguyễn Vinh
Nhà XB: Nxb Yhọc
Năm: 1999
15. ABBOT (2007), Biomarkers in Heart Failure: National Acedemy of Clinical Biochemistry Guidelines Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biomarkers in Heart Failure: National Academy of Clinical Biochemistry Guidelines
Tác giả: ABBOT
Nhà XB: National Academy of Clinical Biochemistry
Năm: 2007
16. Alan S. Maisel, M.D, Padma Krishnaswamy, M.D., Richard M, Nowak et al, (2002), “Rapid Measurement of B- Type Natriuretic Peptide in the Emergency of Heart Failure”, NEJM, 347, pp. 161-167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alan S. Maisel, M.D, Padma Krishnaswamy, M.D., Richard M,Nowak et al, (2002), “Rapid Measurement of B- Type NatriureticPeptide in the Emergency of Heart Failure”, "NEJM
Tác giả: Alan S. Maisel, M.D, Padma Krishnaswamy, M.D., Richard M, Nowak et al
Năm: 2002
18. Badgett RG, Mulrow CD, Osto PM, Ramirez (1996), How vell can the chest radiograph diagnose left ventriculer dysfunction, J Gen Inter Med, 11, pp. 625-634 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Badgett RG, Mulrow CD, Osto PM, Ramirez (1996), "How vell canthe chest radiograph diagnose left ventriculer dysfunction
Tác giả: Badgett RG, Mulrow CD, Osto PM, Ramirez
Năm: 1996
19. Berkowitz Robert (2004), “B- Type Natriuretic Peptide and Diagnosis of Acute Heart Failure”, Optimizing Heart Failure Management, 5, pp.3-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Berkowitz Robert (2004), “B- Type Natriuretic Peptide and Diagnosisof Acute Heart Failure”, "Optimizing Heart Failure Management
Tác giả: Berkowitz Robert
Năm: 2004
20. Burger A, Burger M. (2001), “BNP in decompensated heart failure diagnosis, prognosis and therapeutic potenial”, Curr Invest Drug, 2, pp.929-935 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Burger A, Burger M. (2001), “BNP in decompensated heart failurediagnosis, prognosis and therapeutic potenial”, "Curr Invest Drug
Tác giả: Burger A, Burger M
Năm: 2001
21. Brauwald E., Fauci A. S. (1998), “Heart failure”, Hariion’s Principles of Internal medicin, McGraw Hill, 14 th edition, (1), pp. 1287-1294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brauwald E., Fauci A. S. (1998), “Heart failure”, "Hariion’s Principlesof Internal medicin
Tác giả: Brauwald E., Fauci A. S
Năm: 1998
22. Campbell DJ, Mitchelhill KI, Schlicht SM et al (2000), “Plasma brain natrỉuetic peptide: anovel approach to the diagnosis of cardiac dysfuntion”, Jcard Fail, 6, pp. 130-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Campbell DJ, Mitchelhill KI, Schlicht SM et al (2000), “Plasma brainnatrỉuetic peptide: anovel approach to the diagnosis of cardiacdysfuntion”, "Jcard Fail
Tác giả: Campbell DJ, Mitchelhill KI, Schlicht SM et al
Năm: 2000
23. Christian Hall (2004), “Essential biochemistry and physiology of BNP”, The European Heart Journal of Heart Failure, 6, pp. 257-260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Christian Hall (2004), “Essential biochemistry and physiology ofBNP”, "The European Heart Journal of Heart Failure
Tác giả: Christian Hall
Năm: 2004
24. Clerio A. (2002), “The circulating levels of cardiac natriuretic hormones in healthy adults: effect of age and sex”, Clin Chem Lab Med, 40, pp. 371-377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The circulating levels of cardiac natriuretic hormones in healthy adults: effect of age and sex
Tác giả: Clerio A
Nhà XB: Clin Chem Lab Med
Năm: 2002
25. Costello Boerrigter et al (2003), “The Natriuretic Peptide system”, Medclin N. Am, 87, pp. 485-491 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Costello Boerrigter et al (2003), “The Natriuretic Peptide system”",Medclin N. Am
Tác giả: Costello Boerrigter et al
Năm: 2003
27. Dao Q, Krishnaswamyp, Kazanegraz et al (2001), “Utility of B- Type Natriuretic Peptide in the diagnosis of congestive heart failure in an urgent care setting”, J Am Coll Cardiol, 37, pp. 379-385 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dao Q, Krishnaswamyp, Kazanegraz et al (2001), “Utility of B- TypeNatriuretic Peptide in the diagnosis of congestive heart failure in anurgent care setting”", J Am Coll Cardiol
Tác giả: Dao Q, Krishnaswamyp, Kazanegraz et al
Năm: 2001
28. E. Brauwald (2008), “Biomarker in Heart failure”, N. Engl J Med, 358, pp. 2148-2159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E. Brauwald (2008), “Biomarker in Heart failure”", N. Engl J Med
Tác giả: E. Brauwald
Năm: 2008
29. Frank Peacook IV, MD. (2002), “The B- type Natriuretic Peptide assay: a rapid test for heart failure”, Cleveland clinic Journal of medicin, Vol 69, No 3, pp. 243- 250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frank Peacook IV, MD. (2002), “The B- type Natriuretic Peptideassay: a rapid test for heart failure”", Cleveland clinic Journal of medicin
Tác giả: Frank Peacook IV, MD
Năm: 2002
30. Gavin I.W Galasko, Avijit Lahiri, Sophie C. Barnes et al, (2005),“What is the normal range for N-Terminal pro-brain natriuretic peptide?How well does this normal range screen for cardiovascular disease”, The European Journal of Heart Failure, 26, pp. 2269-2276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gavin I.W Galasko, Avijit Lahiri, Sophie C. Barnes et al, (2005),“What is the normal range for N-Terminal pro-brain natriuretic peptide?How well does this normal range screen for cardiovascular disease”, "TheEuropean Journal of Heart Failure
Tác giả: Gavin I.W Galasko, Avijit Lahiri, Sophie C. Barnes et al
Năm: 2005
31. Giannesi D, Andreassi MG, Del Ry S et al, (2001), “Possibility of age regulation of natriuretic peptide C- receptor in human plateles”, Endocrinol Invest, 24, pp. 8-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giannesi D, Andreassi MG, Del Ry S et al, (2001), “Possibility of ageregulation of natriuretic peptide C- receptor in human plateles”,"Endocrinol Invest
Tác giả: Giannesi D, Andreassi MG, Del Ry S et al
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi, giới của nhóm đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi, giới của nhóm đối tượng nghiên cứu (Trang 28)
Bảng 3.2. Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.2. Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (Trang 30)
Bảng 3.4. Diễn biến triệu chứng cận lâm sàng của nhóm suy tim - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.4. Diễn biến triệu chứng cận lâm sàng của nhóm suy tim (Trang 32)
Bảng 3.7. Sự thay đổi nồng độ BNP theo nhóm tuổi - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.7. Sự thay đổi nồng độ BNP theo nhóm tuổi (Trang 35)
Bảng 3.8. Sự thay đổi nồng độ BNP theo giới tớnh - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.8. Sự thay đổi nồng độ BNP theo giới tớnh (Trang 36)
Bảng 3.9. Sự thay đổi nồng độ BNP theo mức độ suy tim - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.9. Sự thay đổi nồng độ BNP theo mức độ suy tim (Trang 36)
Bảng 3.11. Sự phù hợp chẩn đoán giữa xét nghiệm BNP và siêu âm tim - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.11. Sự phù hợp chẩn đoán giữa xét nghiệm BNP và siêu âm tim (Trang 39)
Bảng 3.12. Liên quan giữa nồng độ BNP với phù, chỉ số tim ngực - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.12. Liên quan giữa nồng độ BNP với phù, chỉ số tim ngực (Trang 42)
Bảng 3.13. Tương quan giữa nồng độ BNP với các chất điện giải máu - Nghiên cứu nồng độ b type natriuretic peptide huyết tương của bệnh nhân trưởng thành suy tim mạn tính
Bảng 3.13. Tương quan giữa nồng độ BNP với các chất điện giải máu (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w