Đối với cà phê chè thông qua các cây đầu dòng ưu tú là phương pháp khá đơn giản và nhanh hơn được áp dụng ở nhiề u nước.. Braxin theo hướng chọn cây đột biến và lai tạo giữa chúng đã tạo
Trang 1cho phép hạn chế các tính trạng trội bất lợi (chống chịu kém, năng suất thấp) ở các dòng phục hồi và dòng duy trì
Ở trường hợp này tỉ lệ cây đực/ cái có thể là 1:7 – 10
Ruộ ng nhân giố ng dưa chuột, nế u sử dụng dòng mẹ là cây 100% hoa cái cần cách li với ruộng sản xuất thương phẩ m ít nhất 2.000 mét đường chim bay
Bài 6 CHỌN TẠO GIỐNG CÀ PHÊ
1 VẤN ĐỀ CHỌN TẠO GIỐNG CÀ PHÊ HIỆN NAY
Do cà phê mít có ít giá trị kinh tế, nên việc chọn tạo giống chỉ chú trọng đối với cà phê chè và cà phê mít Tương tự như các cây lâu nă m khác, việc chọn tạo giố ng đòi hỏi thưòi gian dài và một số yê u cầu kĩ thuật đặc biệt có liên quan đến tế bào học, hoá sinh, sinh học… đôi khi không ít tốn ké m Như trên đã nói, tuy số gốc bộ nhiễm sắc thể của cà phê là bằng nhau n=11, nhưng cà phê chè có cấu tạo tứ bội thể (4n=44) trong khi cà phê vối có cấu tạo nhị bội thể (2n=22) nên trong tự nhiê n không thể có sự lai hoa giữa chúng Để có thể lai được, Viện nghiên cứu cà phê – ca cao Pháp (IFCC) trước hết dùng hoá chất colchic ine để tăng gấp đôi số gốc nhiễm sắc thể của cà phê vối lên rồi mới lai hoa với cà phê chè Kết quả là tạo ra được nhiều giống cà phê lai (Arabusta) kết hợp được một số đặc tính tốt của hai giống Tuy tạo ra được là công phu, tốn kém nhưng nó không được mở rộng và chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong bảng thống
kê cà phê trên thế giới Lí do đơn giả n là người ta dễ dàng trộn cơ học các loại cà phê chè hoặc cà phê vối trong điều kiện thích ứng đặc biệt cho mỗ i giống Bởi vậy, xu thế hiện nay vẫn là cải tiến từng giống
Đối với cà phê chè thông qua các cây đầu dòng ưu tú là phương pháp khá đơn giản và nhanh hơn được áp dụng ở nhiề u nước Nhưng do tính phân li mạ nh, đặc tính năng suất cao của cây mẹ không chắc giữ được lâu qua các thế hệ sau Vì thế, ngoài năng suất, người ta chú trọng đặc biệt đến các chỉ số di truyền hình thái các khí quan của cây đầu dòng Tiếp theo, người ta nhân giố ng cây mẹ bằng hạt, theo dõi tính trạng trong 6 nă m Chọn các cây có tính di truyền ổn định đe m nhân vô tính bằng giâm cành
và chọn cây ưu tú nhất làm cây mẹ Thời gian cần khoảng 12 năm, rút ngắ n được ½ thời gian so với trước đây
Braxin theo hướng chọn cây đột biến và lai tạo giữa chúng đã tạo ra các giố ng cà phê chè mới nổi tiếng như Catura, Mundo- novo, Catuai… Việc cải tiến giố ng cà phê vối và
cà phê mít cũng được thực hiện bằng hai phương pháp Phương pháp chọn cây đầu dòng ưu tú rồi nhâ n vô tính giữ được đặc tính quý của cây mẹ, nhưng khá tốn kém
Trang 2Phương pháp hữu tính chọn hoặc lai tạo được cây đầu dòng rồi sản xuất hạt có ưu điểm
là nhâ n giố ng nhanh và rẻ hơn, nhưng mức độ phân li mạnh hơn
Quy trình cơ bản cho việc cải tiến giống cà phê do Việ n nghiên cứu cà phê –
ca cao Pháp xây dựng được tóm tắt như sau:
Hai bước chung cho cả 2 phương pháp chọn giống hữu tính và vô tính:
Bước 1: xây dựng tập đoàn giố ng Bước 2: phát hiện cá thể ưu tú Bước 3: Chọn cây đầu Bước 3: Chọn cây ưu tú nhất làm đầu dòng
dòng làm bố mẹ: Bước 4: Lập vườn nhân cành giâ m
- Thử khả năng thụ phấn Bước 5: Thí nghiệ m so sánh giống
tổng hợp (top cross) Bước 6: Chọn các dòng ưu tú
- Thử khả năng thụ phấn
riêng (test cross)
Bước 4: lập vườn nhân giống
nhị dòng (bi -clonia l) và
đa dòng (poli - clonial)
(Đối với phương pháp chọn giố ng hữu tính) (Đối với phương pháp chọn giống hữu tính)
2 KĨ THUẬT NHÂN GIỐNG CÀ PHÊ
Cà phê có thể được nhân giống bằng các phương pháp hữu tính hoặc vô tính, trong đó nhâ n giống hữu tính là phổ biến với phương pháp chủ yếu là ương hạt trong bầu
2.1 Nhân giống hữu tính
Nhân giố ng bằng hạt gồ m: trồng cà phê “rai” (nhặt cây con tự mọc để trồng), gieo hạt thẳng, ương cây trên luống và ươm cây trong bầu Nhưng chỉ có 2 phương pháp sau được sản xuất chấp nhận, trong đó ương cây trong bầu là kĩ thuật tiên tiến được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay
2.1.1 Hạt giống cà phê
Trong lớp vỏ thịt của quả là hạt (hay nhân) cà phê Hạt có 2 lớp vỏ: lớp ngoài cứng gọi là “ vỏ trấu”, lớp trong mỏng, bám sát vào nhũ gọi là “vỏ lụa” Nội nhũ gồ m 2 mảnh đối xứng áp bụng vào nhau, màu xanh cốm, có rãnh dọc Phía cuối rãnh là mầm hạt với 2 tử diệp và một rễ mầm Hạt có kích thước trung bình 10 x 6 x – 7 x 3 – 4 mm nặng 1,5 – 2,0g Sau khi quả chín hạt có thể nảy mầm ngay, không qua thời gian ngủ nghỉ Hạt nảy mầ m ở điều kiện thích hợp nhất là nhiệt độ 30 – 320C Vào mùa hè chỉ
Trang 3khi gieo hạt 2 – 3tuần, rễ non đâ m thủng vỏ trấu lộ ra ngoài (gọ i là “nứt nanh”) 20 – 25 ngà y sau thân non đẩy hạt lên khỏi mặt đất (gọ i là “ đội mũ”), 10 ngày sau tử điệp thoát
ra khỏi vỏ trấu (gia i đoạn “lá sò”) 20 – 25 ngày sau thì xuất hiệ n đôi lá thật đầu tiên
Cứ khoảng 15 ngày sau nữa lại hình thành một đôi lá tiếp theo
Để chọn hạt giống tốt người ta dùng phương châm 4 tốt: vườn tốt, cây tốt, quả tốt, hạt tốt Nên chọn cây có độ tuổi 8 – 10nă m Chỉ chọn những quả có 2 phần nhân cân đối Quả được xát tươi, đãi sạch nga y, cà phê “thóc” phơi nắng nhẹ hoặc trong râm đưa độ ẩ m xuống dưới 30%, thời gia n sử dụng không sau 2 tháng
2.1.2 Phương pháp ương cây trên luống
Là phương pháp cho kết quả cao hơn hẳn gieo hạt thẳng hay trồng cà phê “rai” tuy vậ y vẫn không thuận tiệ n bằng ương trong túi bầu
Rấm hạt Trước khi ương, hạt được xử lí và rấ m để tăng độ nảy mầ m đồng đều Dùng nước vôi trong 2%, ở 55 – 600C ngâm trong 18 giớ, rồi hong khô Hố rấm hạt đào sâu 10cm, rộng 1m, dài 5cm Dùng ván ép nhẹ cho hạt chìm vào cát Tưới đẫm Phủ luống bằng liếp tranh đã phun Boócđô trừ nấm Tưới phun đủ ẩm Sau 7 – 10 ngày kiểm tra hàng ngày lựa các hạt đã nảy mầ m (nứt nanh) ra để đe m ương trên luống hoặc trong túi bầu
Chọn đất vườn ương Vườn ương cần cho cả 2 trường hợp: ương trên luố ng hay trong túi bầu Vị trí vườn ương cần đạt ở đất bằng hoặc thoải, thoát nước, gần nguồn nước tưới (cần 1.000 m3 nước tưới/ha/vụ) nhưng tránh nguy cơ ngập nước, thuận tiện cho việc vận chuyển cây con
Đất vườn ương dùng để ương trên luống hay nạp vào bầu cần loại tơi xốp, tránh quá sét hay quá cát, giàu chất hữu cơ (2 – 4%)
Thiết kế vườn ương:
- Là m đất: đất được cầy bừa nhiều lầ n cho tơi xốp, rải 1 – 2 tấn vô i bột/ha (100 – 200g/m2) trước lần bừa cuối cùng Đất lên thành các luống kết hợp với việc bón lót để ương cây trên luống Chân luống rộng 1,2m, mặt luống 1 m để bố trí 6 hàng cà phê cách nha u 18cm Luống cao 15 – 20cm, giữa các luống có đường đi rộng 0,5m Sau khi lên luống, một ha bón lót 40 – 50 tấn phân chuồ ng mục đã ủ với phân lân nung chảy (1% trọng lượng) trước đó 1 tháng Chung quanh vườn ương cần đào rãnh thoát nước rộng 50c m sâu 60cm
- Dựng giàn che: già n dựng bằng các cọc dài 2,2 – 2,4m, đường kính 7 – 8cm, chôn sâu 0,4 m còn lại chiề u cao cách mặt đất 1,8 – 2,0 m Cọc cách nhau 2,0m đầu cọc
có chạc để đỡ và buộc xà bằng nứa Xà nga ng dài tối thiểu 3,2m Che trên giàn bằng các loại lá như cỏ tranh, cỏ la u (1 m3/100 m2)
Chung quanh vườn cần che bằng các liếp thưa để tránh mưa gió mạnh và ngăn gia súc phá hoại
Trang 4Ương hạt: dùng các khung gỗ có đanh tre dài 2c m để định vị các lỗ nhỏ bỏ hạt trên mặt luống cách nhau 18cm x 18c m Đặt các hạt đã nứt nanh vào lỗ, lấp đất cho hạt cách mặt đất 1,2 – 1,5cm Phủ mặt luố ng bằng rơm hay cỏ mịn dày 2 – 3c m Tưới phun đẫm lần đầu
Chăm sóc vườn ương: vườn cần được tưới ẩ m đều và phá váng sau khi mưa lớn Khoảng 15 ngày sau hạt bắt đầu trồi lê n mặt đất, cần dỡ bỏ lớp cỏ rơm Xới đất nhẹ Chế độ tưới đối với việc ương cây trên luố ng trung bình như sau:
Thá ng đầu tiên: 1,5lít/m2, tưới hà ng ngày hoặc cách 1 ngày
Thá ng thứ 2: 2,0lít/m2, tưới 3 – 4ngày/lần
Thá ng thứ 3-4: 4lít/m2, tưới 1 tuần/lần
Thá ng 5- 6: 5lít/m2, tưới 10 ngày/lầ n
Khi cây có 1 đôi lá thật trở đi, bắt đầu bón thúc 2 – 3tuần/lần bằng nước phân hữu cơ loãng +0,5% phân lân Nước phân loãng là các loại phân hữu cơ (phân chuồng hoai, khô dầu, xác mắ m, lá phân xanh) được ngâm trong bể 1 – 2 tháng pha với nước lã
tỉ lệ 1/5 – 1/7 Tránh dùng phân tươi và phân khoáng để tưới Từ tháng thứ 3 mới tưới xen kẽ một lượt phân khoáng nồng độ 0,1 – 0,15% gồm urê và KCl (2:1)
Trong suốt 6 tháng ương cây, lượng phân bón cần cho 1 ha vườn ương là khoảng 30 – 50 tấn phân chuồng, 10 – 20 tấn lá phân xanh, 2 tấn khô dâu, xác mắ m, 1 tấn phân lân nung chảy, 300 – 500 kg urê, 200 – 300 kg KCl Để phòng trừ nấ m bệnh dùng boócđô 0,5% phun định kì 2 tuần/lầ n
Khi cây con có 3 đôi lá thật trở đi bắt đầu dỡ dần vật liệ u che giàn, dỡ là m 7 –
8 lần Trước khi cà phê được đem trồng 20 – 30 ngày lớp che trên giàn được rỡ hoàn toàn để cây non quen với 100% ánh sáng trực xạ để tránh héo chết ngoài nương
2.1.3 Ương cây trong bầu
Ương cà phê trong bầu là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay nhờ các ưu điểm: tiết kiệ m 50% diện tích vườn ương, có thể dùng đất ở nơi khác đem đến nên không phải di chuyển, đỡ công tưới, chă m sóc và bứng bầu, dễ chă m sóc cá biệt đến từng cây, bảo vệ cây con nguyê n vẹn nên tỉ lệ sống đạt gần 100%
- Túi bầu: túi làm bằng chất dẻo PE có kíc h thước 17 25c m chứa được khoảng 2kg hỗn hợp đất phân Gần đáy túi có đục 4 lỗ đường kính 6 – 8 mm để thoát nước
Đất ương cây: dùng đất tốt ở tầng mặt 5 – 10c m, già u mùn Đập nhỏ sàng qua
sàng đường kính 5 mm Tạo hỗn hợp đất ương bầu gồ m 60 - 80% đất đã sàng + 20 – 40% phân hữu cơ mục + 0,5% phân lân nung chảy + 0,1%urê
- Cho đất v ào bầu gieo hạt: hỗn hợp đất phân đổ vào đầy túi nhựa, dỗ vài lần
cho đất lèn chặt (1,8 – 1,9kg) Xếp túi theo hàng (hàng ngang 10 túi, hàng dọc tuỳ chiề u dài luống) Túi cách nhau 5 – 7 cm (50túi/m2) Gieo 2 hạt đã ủ nứt nanh vào mỗi
Trang 5túi có độ sâu 1,5 – 2,0c m (nếu đặt quá sâu cây con sẽ yếu và dễ chết yểu) Sau khi cây
có 2 lá thật, để lại một cây khoẻ mạnh
Việc chă m sóc cây trong bầu cũng tương tự như ương cây trên luống đã trình bày trên Trong quá trình chăm sóc cần go m các cây có cùng mức độ sinh trưởng vào một khố i để chăm sóc, đặc biệt các cây yếu hơn, tạo độ đồng đều cao cho toàn bộ vườn
Những tiêu chuẩn quan trọng của cây cà phê con đe m trồng là có 6 – 7 tháng tuổi với 6 – 8 đôi lá thật Cây cao 25 – 30cm, thân cao mập khoẻ, đường kính cổ rễ 5 – 6mm, rễ đuô i chuột thẳng Cây có 0 – 2đôi cành ngang mới nhú Không có đốt vươn quá dài, lá đọt quá to và non nớt, không có sâu bệnh
2.2 Nhân giống vô tính
2.2.1 Giâm cành
Phương pháp này có ưu điể m quan trọng là có thể tạo ra các vườn cà phê đồng đều từ một cây đầu dòng ưu tú, giữ được các đặc tính di truyền của cây mẹ Phương pháp áp dụng tốt nhất cho cây cà phê vối là cây có đặc tính thụ phấn chéo, dễ bị phân
li Tỉ lệ cành giâm đạt 70 – 100%, trong khi cà phê chè và cà phê mít tỉ lệ này thấp Do yêu cầu cao về kĩ thuật, giâ m cành chỉ mới được áp dụng đối với cà phê vối trồng tập trung trong một số đồn điền ở Châu Phi
Vườn lấy cành giâm
Nhân giống bằng giâm cành cần một khối lượng cành rất lớn, do vậy phải xây dựng các vườn thực liệu Để lấy chồi vượt làm cành giâ m, người ta trồng cà phê mật độ cao 25c m 25cm, cắt bỏ cành ngang, chỉ để lại chồi vượt Khi cây con có 8 – 10 cặp
lá, cắt thân cây đến đoạn hoá gỗ (cách mặt đất 15c m), dùng đoạn thân này cắt nhỏ thành 10 – 15 cành giâ m Trên gốc lại nuô i tiếp 2 chồi vượt để 7 – 8 tháng sau tiếp tục dùng làm cành giâ m Sau 3 năm với 4 lầ n cắt thì cây đã kiệt sức, được loại bỏ
Chọn và xử lí cành giâm
Cành giâ m được lấy từ cành vượt, dùng các đoạn chưa hoá gỗ, còn mầu xa nh chưa chuyển sang nâu Cành vượt được cắt ra thành đoạn mỗi đoạn mang một đôi lá Phía dưới dài 3 – 5cm, phía trên cắt sát gần với đốt cành Mỗi đoạn cành được bổ đôi
là m 2 phần bằng nhau, mỗ i phần mang 1 lá Cắt bỏ đi ½ lá ngay trước khi giâm Khi phải chuyể n cành đi xa cần nhúng đầu cành vào parafin hoặc đặt vào túi nhựa có bông vải ẩm Chú ý khi cắt cành thành đoạn, cắt 2 lát chéo nha u phía dưới đốt sẽ cho tỉ lệ sống cao hơn nhiều so với cắt 1 lát hoặc cắt nga ng
Môi trường cắm cành giâm có thể là cát, đất mùn, than bùn, mùn cưa, trấu…
là những chất giữ ẩm đồng thời thoáng khí Thông thường người ta trộn chúng với nha u, tránh chỉ dùng một thứ, nhất là cát Môi trường thích hợp cho cành giâ m cần có
độ ẩ m không khí cao gần bão hoà (85 – 90%) và nhiệt độ khoảng 25 – 280C Cành
Trang 6giâm cần ánh sáng tán xạ (40 – 60% cường độ sáng toàn phần), để trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời cành giâ m sẽ bị chết hàng loạt
Mùa mưa là thời gian thích hợp để giâm cành, nhất là cà phê chè Tuy vậy mưa kéo dài cũng là m cho nấm bệnh phát triển và giảm tỉ lệ sống của cành giâ m
Để kích thích cành giâ m ra rễ, nhiều phương pháp và hoá chất đã được thử nghiệ m Ở Ấn Độ và Colo mbia sử dụng hai cách xử lí đạt tỉ lệ cao giâm sống cao tới
80 – 90% là: ở Colomb ia dùng axit alpha naphtiaxetic bôi lên lát cắt, đặt đầu vào rêu tưới ẩ m hàng ngày Còn ở Ấn Độ người ta khoanh vỏ trồi vượt, bôi chất kích thích (nước chiết nước giả i trâu bò +0,2% amôn nitrat +8% đường dextro +0,01% axit indo laxetic), bọc đầu cành bằng rêu và tưới ẩm
Kĩ thuật giâm cành trong sản xuất
- Bể giâm cành: bể được xây bằng gạch rộng 1,5 – 1,7m, cao phía ngoài 50cm, phía trong 80cm Hai bể đấu lưng vào nhau ở phía trong, đáy đục lỗ thoát nước Nạp cuội sỏi đầy 2/3 bể, rồi đổ 20 – 30c m đất trộn mùn cưa (hoặc trấu, rơm mục) Nắp bể được đậy bằng khung nilon mỏng Trên bể có giàn che bằng lá la u lách cao 1,8 – 2,0 m
- Cành giâ m đã xử lí cắm vào đất trong bể với mật độ 250 – 300cành/m2 Tưới
đủ ẩ m thường xuyê n Sau 2 – 3tuần vết cắt hình thành mô sẹo và bật rễ Lựa các cành
đã mọc rễ đe m ương vào túi bầu nilông, hoặc lưu lại cho đến lúc có 3 cặp lá thật mới chuyển sang vườn ươm
Trong điề u kiện thời tiết không khắc nghiệt cũng có thể thay thế bể bằng luống đất giâm đặt dưới giàn che Luống đất cao 15cm, xếp cành giâm, rải cát mịn và tưới đủ
ẩm hà ng ngày
- Vườn ươm cành giâm: từ sau khi ra rễ, cành giâ m được lưu lại bể cho đến khi có 3 cặp lá thật và rễ dài 3,0 – 3,5cm rồi bứng ra cấy trong vườn ươm với mật độ
20 20c m Kĩ thuật vườn ươm cành giâ m cũng tương tự như đối với vườn ươm hạt đã
mô tả trên Sau khoảng 8 – 9 tháng cây có 6 – 7 đôi lá thật thì chuyển ra trồng trên nương
-Ương cành giâ m trong túi bầu: khi cành giâm nhú rễ chuyể n sang ương trong bầu ni lông sẽ giải phóng được bể, nâng cao năng suất sử dụng bể lên 4 – 5 lần, có thể sản xuất 1.500 cành giâ m/m2/năm
2.2.2 Ghé p cành cà phê
Cũng giống như đối với các cây khác, ghép cà phê giúp cho việc phối hợp các đặc tính tốt của gốc ghép và cành ghép Phương pháp ghép được coi là hiệ u quả hơn cả
là ghép ngọn
Gốc ghép là cây cà phê 6 – 8 tháng tuổi được cắt nga ng cách mặt đất 25 – 30c m Cành ghép là một đoạn trồi vượt non mang 3 – 4 đôi lá và một búp non được cắt vắt 2 nhát đối xứng dài 3 – 5cm như cái nê m Dùng dao ghép chẻ đôi gốc ghép sâu 3 –
Trang 7Dùng dây nilô ng quấn chặt phần ghép nố i và úp một phễu giấy không thấm lên trên để tránh nước mưa Sau khi ghép tưới gốc ghép đủ ẩ m thường xuyê n Sau 2 - 3 tuần các cây ghép có thể đe m ra trồng
So sánh các tổ hợp gốc ghép- cành ghép Trạm Thí nghiệ m Cây nhiệt đới Tây Hiế u kết luận ghép cà phê chè trên cà phê vối hoặc ngược lại là cho tỉ lệ sống cao nhất (68 – 70%) Ghép cà phê chè hoặc cà phê vối lên cà phê mít (nhó m Parachy coffea) cho tỉ lệ sống rất thấp
Bài 7
CHỌN TẠO GIỐNG CAM QUÝT
(Citrus s p)
1 CÁC GIỐNG CAM QUÝT CHỦ YẾU
Tất cả các giống ca m quýt hiệ n đang trồng, do tính phức tạp về mặt hình thái và giải phẫu thực vật, các đặc điểm sinh vật học , người ta thường sắp xếp vào các nhóm khác nhau như nhó m các giống cam, nhó m bưởi, chanh, quýt Sự phân nhóm như vậy
là sắp xếp các giống có đặc điể m tương tự vào cùng nha u Hiện tại trên quan điểm nông học người ta sắp xếp các nhóm như sau:
1.1 Chanh lajm: C aurantifo lia Swingle (các tên khác C.acida Roxb; C.lima
Luran; Limo nia aurantifolia Chir istm )
Cây cao 5 - 6m, lá nhỏ hình elip hoặc ovan dài, hoa nhỏ, màu trắng đôi khi có màu tím nhạt Quả nhỏ hình ovan hoặc hình cầu, đỉnh quả có núm nhỏ Quả đạt kích thước 3,5 - 5,0cm khi chín màu vàng xanh hoặc vàng hơi nâu Ăn rất chua có hương vị đặc thù Nhiều tác giả cho rằng lajm có nguồ n gốc từ vùng đông Ấn Độ, Miế n Điện và Malaixia Đây là giống rất ưa nhiệt, không chịu lạnh do vậy trồng chủ yếu ở vùng nhiệt đới Ở Việt Nam giống này được trồng nhiều ở miền Na m Việt Nam
Tương tự giống này còn có giống chanh Mehico (West Indian); cha nh Tahiti (còn gọi là Persa); chanh Palestin
1.2 Chanh núm: C.limo n Burm (các tên khác: C.communis Poit; C.limonum
Risso; C.medica var limoll )
Cây cao 3 - 6m, phân cành thấp, cành thường có gai Lá dạng ovan dài, phiến lá dày Hoa to trung bình, màu tím nhạt Quả dạng ovan, thuôn dài có núm ở đỉnh quả Vỏ quả sần sùi nhiều túi tinh dầu Ăn chua song rất thơm Là giống chịu lạnh khá so với lajm song mẫn cả m với lạ nh hơn các giống cam, bưởi chùm hoặc quýt vì vậy được trồng chủ yếu ở vùng có khí hậu ôn hoà không quá nóng hoặc lạnh