1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình -Thổ nhưỡng học - chương 12 pptx

19 625 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 534,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên sự tồn tại của lớp đất có khả năng canh tác này lại luôn chịu những tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên và các hoạt động canh tác do con người có thể làm cho chúng bị t

Trang 1

Chương XII XÓI MÒN ĐẤT

1 Khái niệm về xói mòn và ý nghĩa của việc nghiên cứu xói mòn đất

Sự tồn tại của cuộc sống con người phụ thuộc rất nhiều vào lớp đất trồng trọt để sản xuất ra lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu sản xuất công nghiệp phục vụ cho đời sống của con nguời Tuy nhiên sự tồn tại của lớp đất có khả năng canh tác này lại luôn chịu những tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên và các hoạt động canh tác do con người có thể làm cho chúng bị thoái hóa và dần mất đi khả năng sản xuất, trong đó một trong những nguyên nhân làm cho đất bị thoái hóa mạnh nhất là do xói mòn Hiện tượng mất đất do xói mòn mạnh hơn rất nhiều so với sự tạo thành đất trong quá trình tự nhiên, một vài cm đất có thể bị mất đi chỉ trong một vài trận mưa giông hoặc gió lốc trong khi để

có được vài cm đất đó cần phải có thời gian hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm mới tạo ra được Trên thế giới hầu như không có quốc gia nào là không chịu ảnh hưởng của xói mòn, nhất là ảnh hưởng của xói mòn do nước và do gió Các nước thuộc miền nhiệt đới ẩm do có lượng mưa, bão hàng năm lớn tập trung theo mùa, phần lớn đất đai canh tác nằm ở những địa hình dốc nên xói mòn do nước mưa là nguy cơ chính tạo ra hiện tượng xói mòn ở đây Trong khi đó hiện tượng xói mòn do gió lại xảy ra chủ yếu ở những vùng khô hạn và bán khô hạn, nơi có lượng mưa thấp không duy trì được lớp thảm thực vật thường xuyên trên

bề mặt đất Xói mòn mạnh có thể làm mất tới 1400 tấn đất/ ha/năm,

tương đương với toàn bộ tầng canh tác dày 10cm có dung trọng 1,4

g/cm3 (Benntt 1939) Còn ở những nơi chịu ảnh hưởng của xói mòn do gió gây ra thì lượng đất mất cũng thường cao hơn 11,2 tấn/ ha/ năm

tương đương với lớp đất dày 0,8cm

Bên cạnh những tác động trực tiếp đến khả năng sản xuất do xói mòn gây ra đối với đất canh tác, vấn đề môi trường cũng sẽ dần xuất hiện khi những vùng đất bị xói mòn trở thành những vùng đất trống, đồi trọc trơ sỏi đá hay thậm chí mất đi hẳn lớp đất chỉ còn lại các đá gốc Các hạt đất mịn khi bị cuốn đi theo dòng nước còn gây ra hiện tượng

Trang 2

lắng đọng bùn ở dưới vùng hạ lưu các lòng sông, hồ và đập thủy điện làm ảnh hưởng đến lưu lượng dòng chảy và có thể gây ra lũ lụt

Có thể nhận thấy đối với thực tiễn sản xuất nông nghiệp không có

sự thoái hóa đất nào mạnh và hiểm họa hơn xói mòn đất bởi nó liên quan đồng thời tới các quá trình mất đất, mất chất dinh dưỡng và nước cho cây trồng đồng thời còn gây ra các tác động xấu đến môi trường Do đó việc nghiên cứu xói mòn là vô cùng cần thiết cho mọi quốc gia, đặc biệt đối với nước ta là một nước nằm trong vành đai nhiệt đới với 3/4 diện tích đất

tự nhiên là đồi núi, thường xuyên phải hứng chịu các hậu quả do xói mòn gây ra thì việc khống chế hiện tượng xói mòn đất càng trở nên cực kỳ quan trọng để bảo vệ độ phì nhiêu của đất và bảo vệ môi trường sinh thái

2 Các kiểu xói mòn đất chính

Xói mòn đất là quá trình làm mất lớp đất trên mặt và phá huỷ các tầng đất bên dưới do tác động của nước mưa, băng tuyết tan hoặc do gió Ðối với đất sản xuất nông nghiệp thì nước và gió là hai tác nhân quan trọng nhất gây ra xói mòn và các tác nhân này có mức độ ảnh hưởng tăng giảm khác nhau theo các hoạt động của con người đối với đất đai

2.1 Kiểu xói mòn do nước

Kiểu xói mòn do nước gây ra do tác động của nước chảy tràn trên

bề mặt (nước mưa, băng tuyết tan hay tưới tràn) Hiện tượng xói mòn do nước gây ra đối với đất sản xuất nông nghiệp thường mạnh nhất ở các bề mặt đất trống, sau khi làm đất chuẩn bị gieo trồng Ðể xảy ra xói mòn, nước cần có năng lượng để tách các hạt đất, rồi sau đó vận chuyển chúng

đi Mưa và nước có thể tách được các hạt đất song việc vận chuyển được chúng đi bao xa phải phụ thuộc vào dòng chảy Tác động của mưa gây

ra xói mòn đối với đất gồm các tác động va đập phá vỡ, làm tách rời các hạt đất và sau đó vận chuyển các hạt đất bị phá hủy theo các dòng chảy tràn trên mặt đất Dòng chảy của nước có thể tạo ra các rãnh xói, khe xói hoặc bị bóc theo từng lớp, người ta chia kiểu xói mòn do nước gây ra thành các dạng:

- Xói mòn thẳng là sự xói lở đất, đá mẹ theo những dòng chảy tập

trung, ăn sâu tạo ra các rãnh xói và mương xói

- Xói mòn phẳng là sự rửa trôi đất một cách tương đối đồng đều

trên bề mặt do nước chảy dàn đều, đất bị cuốn đi theo từng lớp, phiến

Trang 3

Khi lớp đất trên bề mặt bị xói mòn thì rất khó khôi phục và những thiệt hại của xói mòn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức sản xuất của đất Ví dụ một phép tính đơn giản nếu đất bị xói mòn 1cm đất thì trên 1 ha đất mất đi 100m3 đất, tương đương 150 tấn, trong đó có 6 tấn mùn và 1,5 tấn đạm Trong khi đó, ở vùng nhiệt đới có những nơi xói mòn làm mất 3 cm đất mặt hàng năm Riêng vùng đồi núi hàng năm bình quân mất đi khoảng 2 cm điều này làm cho đất ở đây bị thoái hóa nhanh chóng Trên những vùng đất cao, dốc, mưa lớn còn tạo nên những dòng chảy cực đại trên sườn dốc và ngoài việc bào mòn lớp đất mặt

chúng còn có khả năng tạo ra những dòng xói hoặc rãnh xói Có rãnh sâu 5- 6m tới tận lớp đá mẹ và làm mất đi hoàn toàn khả năng sản xuất của đất đai

2.2 Kiểu xói mòn do gió

Kiểu xói mòn do gió là hiện tượng xói mòn gây ra bởi sức gió Ðây là hiện tượng xói mòn có thể xảy ra ở bất kì nơi nào khi có những điều kiện thuận lợi sau đây

- Ðất khô, tơi và bị tách nhỏ đến mức độ gió có thể cuốn đi

- Mặt đất phẳng, có ít thực vật che phủ thuận lợi cho việc di

chuyển của gió

- Diện tích đất đủ rộng và tốc độ gió đủ mạnh để mang được các hạt đất đi

Thông thường đất cát là loại đất rất dễ bị xói mòn do gió vì sự liên kết giữa các hạt cát là rất nhỏ, đất lại bị khô nhanh Ảnh hưởng của xói mòn do gió gây ra khá phức tạp, đất bị chuyển dịch đi có thể dưới các hình thức nhảy cóc, trườn trên bề mặt hoặc bay lơ lửng

3 Xói mòn do nước và các yếu tố ảnh hưởng

Hiện tượng xói mòn do nước xảy ra ở khắp mọi nơi trên bề mặt trái đất, song tập trung mạnh nhất ở những vùng khí hậu nhiệt đới ẩm nơi thường có tổng lượng mưa hàng năm lớn, tập trung theo mùa với cường

độ cao kết hợp với đất có địa hình cao và dốc đã tạo ra những dòng chảy tràn lớn trên bề mặt đất Trong nhiều vùng đất dốc hiện tượng nước chảy tràn trên mặt không chỉ làm mất đi một lượng nước lớn trong mùa mưa (khoảng 50 - 60% lượng mưa hàng năm) mà kèm theo đó là hiện tượng đất bị mất do xói mòn mạnh và đây mới chính là thiệt hại nghiêm trọng đối với đất canh tác hơn cả vì chúng làm cho lớp đất mặt bị bào mòn dẫn

Trang 4

đến hậu quả là đất bị mất dần và thậm chí không còn khả năng sản xuất Khi xói mòn xảy ra, thông thường những thành phần hạt đất nhỏ, mịn trên cùng lớp đất mặt bị đẩy đi trước tiên và ở lớp đất này thường tập trung độ phì nhiêu cao nhất do vậy hàm lượng các chất dinh dưỡng bị mất đi trong đất do xói mòn cũng rất lớn, Tuy nhiên lượng dinh dưỡng mất đi còn phụ thuộc vào hệ thống cây trồng trên đó, thí nghiệm của Batie (1983) về xói mòn ở vùng Missouri (Mỹ) cho thấy lượng dinh dưỡng bình quân hàng năm bị mất đi ở các ruộng có phương thức canh tác khác nhau thể hiện ở bảng 12.1

Bảng 12.1 Hàm lượng dinh dưỡng bị rửa trôi (kg/ ha/ năm)

Ðiều kiện trồng trọt

N P K Ca Mg S

Ngô trồng liên tục 74 20 678 247 93 19 Luân canh: Ngô -

lúa mì

29 9 240 95 33 7

3.1 Các dạng xói mòn do nước

a Xói mòn theo lớp: tác động của xói mòn làm đất bị mất đi theo lớp

không đồng đều nhau trên những vị trí khác nhau của bề mặt của dốc Tuy nhiên, dạng xói mòn này đôi khi cũng kèm theo những rãnh xói nhỏ đặc biệt rõ ở những đồi trọc trồng cây hoặc bị bỏ hóa

b.Xói mòn theo các khe, rãnh: Là hiện tượng trên bề mặt đất tạo thành

những dòng xói theo các khe, rãnh trên sườn dốc nơi mà dòng chảy được tập trung, sự hình thành các khe lớn hay nhỏ tùy thuộc mức xói và

đường cắt của nước chảy xuống dưới

c Mương xói: Thường thể hiện ở những nơi có mức độ xói mòn nghiêm

trọng, đất bị xói mòn đồng thời cả ở dạng lớp và dạng khe, rãnh ở mức

độ mạnh do khối lượng nước lớn tập trung theo các khe thoát xuống chân dốc với tốc độ lớn, làm đất bị đào khoét theo chiều sâu đôi khi đến tận đá gốc

Như vậy nguyên nhân của hiện tượng xói mòn do nước xảy ra ở các nước vùng nhiệt đới ẩm chủ yếu là do mưa nhiều và đất dốc Ngoài tác động va đập của mưa và dòng chảy đối với đất thì khả năng xói mòn còn bị chi phối bởi các yếu tố độ dốc, chiều dài dốc của bề mặt đất; cấu

Trang 5

trúc đất và các biện pháp canh tác áp dụng đối với đất Những tác động tổng hợp trên được thể hiện qua phương trình mất đất phổ dụng của xói mòn do nước được Weischmaier và Smith xây dựng

3.2 Phương trình mất đất phổ dụng do xói mòn của nước

Sau rất nhiêu năm nghiên cứu kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn, các nhà khoa học Weischmaier và Smith đã xác định được phương trình

dự tính lượng đất xói mòn do nước gây ra, thường được gọi là phương trình mất đất phổ dụng có công thức sau:

A = R.K.L.S.C.P Trong đó:

A - Lượng đất mất bình quân trong năm (tấn/ha/ năm);

R - Yếu tố mưa và dòng chảy;

K - Hệ số bào mòn của đất (tấn/ha/ đơn vị chỉ số xói mòn);

L - Yếu tố chiều dài của sườn dốc;

S - Yếu tố độ dốc;

C - Yếu tố che phủ và quản lý đất;

P - Yếu tố hoạt động điều tiết chống xói mòn;

Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp cho xác định hướng khống chế xói mòn đối với đất

a Yếu tố mưa và dòng chảy (R)

Ðây là thước đo sức mạnh xói mòn của mưa và sức chảy tràn trên

mặt Yếu tố được thể hiện qua tổng lượng mưa và cường độ mưa Với

tổng số lượng mưa hàng năm lớn song nếu được chia ra nhiều trận ở mức độ nhẹ thì có thể mức độ xói mòn cũng sẽ ít đi so với tổng lượng mưa hàng năm tuy không cao song mưa tập trung với cường độ cao có thể gây kết quả xói mòn nghiêm trọng, điều này thường xảy ra đối với xói mòn ở những vùng bán khô hạn

Sự phân bố của mùa mưa cũng là yếu tố chi phối và quyết định đến lượng đất mất do xói mòn Những trận mưa lớn nếu xảy ra ở những thời điểm đất trống trải như ở giai đoạn làm đất trước gieo trồng hoặc sau khi thu hoạch cũng là nguyên nhân làm cho lượng đất bị mất nhiều hơn

Hệ số R còn được gọi là chỉ số xói mòn do mưa và trong đó tính đến những ảnh hưởng của bão Tổng động năng của mỗi trận bão (liên

Trang 6

quan đến cường độ mưa và tổng lượng mưa) với cường độ lớn nhất diễn

ra trong 30 phút được ngưới ta cân nhắc cộng với lượng mưa bình quân Tổng của các chỉ số cho tất cả những trận bão xảy ra trong năm cung cấp cho chỉ số hàng năm và bình quân của các chỉ số này trong nhiều năm được sử dụng trong công thức mất đất phổ dụng Việc xác định hệ số R được tính theo công thức (Mutchler và Murphree, 1985):

R= EI30/ 100

Trong đó: E (động năng mưa) = 451 + 331 log10I (tấn/ha) I: cường

độ mưa (mm/giờ) và I30: cường độ mưa lớn nhất trong 30 phút (mm/h)

Chỉ số R tại Việt Nam biến động từ 523 đến > 1200 Chỉ số lớn nhất (R>1200) thu được tại các vùng Bắc Quang, Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, Lai Châu và Tam Ðảo Còn phần lớn diện tích ở Bắc Bộ có chỉ số R= 700 - 1200

Bảng 12.2 Diện tích của những loại hình sử dụng đất chính và tỷ lệ

(%) đất bị xói mòn trên giới hạn 11 Mg/ha/ năm* ở Mỹ

Loại sử dụng đất (1000 ha) Diện tích

Ðất bị xói mòn do nước vượt trên giới hạn 11Mg/

ha/ năm* (%)

Ðất trồng tất cả các

loại cây

* Theo Bộ nông nghiệp Mỹ (1980) giới hạn bị xói mòn trên

11Mg/ha (tương đương 5tấn/100 m2) là giới hạn ở đó việc duy trì sức sản xuất ổn định là rất khó

Ðiều đáng chú ý là lượng mưa và cường độ mưa luôn khác nhau giữa các vùng do vậy ảnh hưởng của xói mòn cũng rất khác nhau tùy theo nơi

Trang 7

b Hệ số xói mòn đất (K)

Hệ số xói mòn K thể hiện mức độ bị bào mòn vốn có của đất,

lượng đất mất tự nhiên được tính qua thực nghiêm trong ô thí nghiệm có chiều dài 22m, độ dốc 9% (tương đương khoảng 160) ở điều kiện bỏ hóa liên tục Có hai đặc tính ảnh hưởng và liên quan chặt chẽ tới hệ số xói mòn đó là khả năng thấm và sự ổn định về mặt cấu trúc của đất Khả năng thấm của đất chịu ảnh hưởng chủ yếu bằng sự ổn định của cấu trúc, đặc biệt là ở các tầng đất trên mặt và thêm vào đó là thành phần cơ giới, hàm lượng hữu cơ có trong đất Sự ổn định khả năng chống chịu của các hạt kết ở đất vùng nhiệt đới được tạo thành từ các hydrôxit sắt, nhôm có thể làm tăng khả năng chống chịu của các loại đất này đối với tác động của mưa lớn

Hệ số bào mòn K có giá trị từ gần giá trị 0 cho tới 0,6 Hệ số này có giá trị thấp đối với những loại đất có cấu trúc tơi xốp, thấm nước nhanh

và tiêu nước tốt hay các loại đất trong vùng nhiệt đới có chứa nhiều

khoáng sét sắt, nhôm hoặc kaolinit Những loại đất có khả năng thấm trung bình và tính ổn định trung bình về mặt cấu trúc thường có hệ số K

từ 0,2- 0,3 Trong khi những loại đất dễ bị xói mòn và có khả năng thấm thấp sẽ có hệ số K lớn hơn 0,3

Theo Nguyễn Trọng Hà và các cộng sự, đất Việt Nam có hệ số K dao động từ 0,09- 0,35 Ví dụ cụ thể trên một số loại đất như sau: đất đen có tầng kết von dày K= 0,11; đất xám feralit K= 0,22; đất nâu đỏ K= 0,23

c Yếu tố địa hình (L,S)

Phản ánh chiều dài dốc và mức độ dốc Trong cùng các điều kiện

như nhau đất có độ dốc càng lớn khả năng xói mòn càng lớn bởi vì

chúng làm tốc độ của dòng chảy và lượng nước chảy tràn tăng lên Về mặt lý thuyết, khi tăng tốc độ dòng chảy lên gấp đôi thì mức độ vận chuyển đối với các hạt có thể lớn hơn 64 lần, nó cho phép mang các vật liệu huyền phù (hòa tan trong nước) lớn hơn gấp 30 lần và kết quả làm

tăng sức mạnh của xói mòn gấp 4 lần Chiều dài dốc cũng góp phần

quan trọng đối với khả năng xói mòn đất bởi vì chúng mở rộng diện tích

Trang 8

nghiêng của dốc, do đó tập trung nhiều lượng nước chảy trên mặt Một

ví dụ về nghiên cứu xói mòn ở vùng tây nam Lowa đã chỉ ra cho thấy khi ta tăng gấp đôi chiều dài dốc ở độ dốc 9% lượng nước chảy sẽ tăng lên 1,8 lần và làm tăng lượng đất mất lên 2,6 lần Chính bởi lý do này nên khi người ta thiết kế những kênh, mương khống chế cắt ngang sườn dốc sẽ làm giảm đáng kể lượng đất mất

d Yếu tố che phủ và quản lý (C)

Yếu tố này chỉ ra mức độ tác động của các hệ thống cây trồng và những khác biệt trong quản lý sử dụng đất đối với lượng đất bị mất do xói mòn Các rừng và đồng cỏ là những hệ thống bảo vệ đất tự nhiên tốt nhất như đã từng được biết tới, tiếp đó là các loại cây trồng có khả năng che phủ cao thường được trồng mật độ dày như các cây ngũ cốc, các cây

họ đậu có khả năng bảo vệ đất khá tốt Tuy nhiên, một số loại cây như ngô, đậu tương, khoai tây, trồng theo luống thường có khả năng che phủ thấp ở giai đoạn đầu khi mới trồng có thể làm tăng khả năng xói mòn lên rất nhiều

Bảng 12.3 Quan hệ giữa độ dốc và lượng đất bị xói mòn trên đất

canh tác không được bảo vệ (Theo Lai, 1976)

Ðộ dốc của đất (%) Lượng đất bị mất (tấn/

ha/ năm)

Sự kết hợp giữa các loại cây trồng và khả năng duy trì lớp phủ bề mặt đất (bao gồm cả sự che phủ của các lớp cỏ giữa các băng cây trồng) theo thời gian trong năm thông qua các hệ thống luân canh hợp lý làm giảm xói mòn rất nhiều Vì vậy chúng được gọi là "Hệ thống canh tác bảo

vệ đất" Nếu hệ thống này để lại các tàn thể thực vật sau thu hoạch cũng

sẽ làm giảm khá nhiều hiểm họa của xói mòn Chúng ta có thể thấy rõ những tổn thất do rửa trôi khi canh tác theo phương pháp cổ truyền trên các sườn dốc trung bình ở một số vùng nhiệt đới (bảng 12.4)

Trang 9

Bảng 12.4 Lượng đất bị xói mòn trên một số hệ thống canh tác ở

vùng nhiệt đới (Theo Sheng, 1982)

Nước hoặc

lãnh thổ Cây trồng và cách làm đất

Cấu tạo đất

Ðộ dốc (độ )

Lượng đất mất hàng năm (t/ha)

Jamaica,

vùng Smith

field

Lượng mưa

3300

mm/năm

- Khoai mỡ trồng trên các

mô đất

- Trồng chuối làm sạch đất

Sét - Mùn

17 133

Elxanvado,

vùng

Metapa

Lượng mưa

1900

mm/năm

Ngô trồng thành hàng nhấp nhô, đất được làm sạch

Mùn - Sét

17 127

Lượng mưa

2500

mm/năm

Dứa trồng nhấp nhô Sét -

Mùn

11 62

Vùng Trung

du

Khoai lang trồng theo luống Cát -

Mùn

12 172

Vùng Hsing

Wa

- Trồng liên tục trong 2 năm cao lương, khoai lang, đậu tương và ngô

- Tất cả đều làm sạch

Mùn 18 208

Giá trị (C) cho những vùng riêng biệt phụ thuộc vào nhiều nhân tố gồm: cây trồng hiện tại, các giai đoạn phát triển của cây trồng, hệ thống làm đất và các yếu tố quản lý khác Trị số C sẽ cao (gần đến 1,0) với những loại đất có độ che phủ thấp, như ở những vùng đất canh tác vừa mới làm đất sạch và mới gieo hạt hoặc mới trồng cây con tán cây chưa

Trang 10

phát triển, ngược lại trị số này sẽ đạt giá trị thấp (<0,1) ở trên những diện tích đất rừng có tán che phủ dày hay những diện tích đất canh tác có

để lại khối lượng tàn dư thực vật cao Giá trị C thường được tính toán bởi những nhà khoa học có kinh nghiệm, hiểu biết về ảnh hưởng của độ che phủ và quản lý trong mỗi vùng xác định Ðộ che phủ của cây trồng

có ý nghĩa trong việc giảm tốc độ va đập của hạt mưa vào đất và hạn chế tốc độ dòng chảy trên mặt Hệ số C phụ thuộc vào cây trồng và điều kiện canh tác của mỗi vùng Ví dụ, theo Nguyễn Trọng Hà và các cộng sự ở vùng Xuân Mai, Hòa Bình C dao động từ 0,05- 0,07; C ở vùng đất trống: 1; C ở đất lúa nương: 0,5

đ Yếu tố hoạt động trợ giúp của con người (P)

Yếu tố này phản ánh hiệu quả tác động của con người trong canh tác đối với quá trình xói mòn đất cụ thể như việc trồng cây theo đường đồng mức, trồng cây theo băng dải và các hoạt động trợ giúp khác, tỷ lệ đất mất được xác định đối với từng biện pháp xác định khi chúng được áp dụng trên đất dốc Trong sử dụng đất dốc biện pháp chính để bảo vệ đất

có liên quan đến khả năng che phủ bề mặt và quản lý cây trồng luôn cần phải có sự trợ giúp của các hoạt động khác, các hoạt động trợ giúp (hay yếu tố P) bao gồm việc làm đất theo đường đồng mức, trồng các băng dải cây trồng theo đường đồng mức, các hệ thống ruộng bậc thang và các hệ thống đường dẫn thoát nước Các tác động quản lý được thể hiện trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực

Việc khai thác rừng một cách bừa bãi, đốt rừng làm nương rẫy, sau

đó cày xới là tác động có tính phá hoại đối với đất trên sườn dốc, đặc biệt cách làm này thường được tiến hành vào trước mùa mưa làm đất dễ

bị rửa trôi ngay ở những trận mưa đầu tiên, hoặc các biện pháp canh tác không hợp lý đối với đất dốc như canh tác theo đường dốc, không trồng các dải bảo vệ hoặc dải cây che phủ để ngăn dòng chảy đều tạo điều kiện cho xói mòn xảy ra mạnh mẽ

Giá trị P đối với mỗi hoạt động trợ giúp được xác định theo tỷ lệ đất mất diễn ra ở ô đất áp dụng các biện pháp trợ giúp chống xói mòn so với

ô đất không sử dụng biện pháp chóng xói mòn Ví dụ: P= 1 khi canh tác không áp dụng biện pháp chống xói mòn còn các giá trị P cho việc canh

Ngày đăng: 27/07/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 12.3. Quan hệ giữa độ dốc và lượng đất bị xói mòn trên đất - Giáo trình -Thổ nhưỡng học - chương 12 pptx
Bảng 12.3. Quan hệ giữa độ dốc và lượng đất bị xói mòn trên đất (Trang 8)
Bảng 12.4. Lượng đất bị xói mòn trên một số hệ thống canh tác ở - Giáo trình -Thổ nhưỡng học - chương 12 pptx
Bảng 12.4. Lượng đất bị xói mòn trên một số hệ thống canh tác ở (Trang 9)
Bảng 12.5. Giá trị P cho ruộng bậc thang canh tác theo đường đồng - Giáo trình -Thổ nhưỡng học - chương 12 pptx
Bảng 12.5. Giá trị P cho ruộng bậc thang canh tác theo đường đồng (Trang 11)
Bảng 12.6. Ảnh hưởng của việc quản lý đất đai đến dòng chảy tràn - Giáo trình -Thổ nhưỡng học - chương 12 pptx
Bảng 12.6. Ảnh hưởng của việc quản lý đất đai đến dòng chảy tràn (Trang 12)
Bảng 12.7. Ảnh hưởng của việc chuẩn bị đất đối với xói mòn do gió  trên cánh đồng ngô mới trồng ở vùng Ðông bắc Ohio (Hoa Kỳ) - Giáo trình -Thổ nhưỡng học - chương 12 pptx
Bảng 12.7. Ảnh hưởng của việc chuẩn bị đất đối với xói mòn do gió trên cánh đồng ngô mới trồng ở vùng Ðông bắc Ohio (Hoa Kỳ) (Trang 14)
Hình 12.1. Ruộng bậc thang - Giáo trình -Thổ nhưỡng học - chương 12 pptx
Hình 12.1. Ruộng bậc thang (Trang 16)
Hình 12.2. Thềm tự nhiên bảo vệ đất - Giáo trình -Thổ nhưỡng học - chương 12 pptx
Hình 12.2. Thềm tự nhiên bảo vệ đất (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w